Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 340)

Bánh chưng

Truyện Bánh chưng, bánh giầy với hình dạng trời tròn đất vuông được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp có từ thời vua Hùng Vương. Truyện giản dị, dễ hiểu. Chỉ có tên bánh mới…hơi khó hiểu. Xin bàn về cái tên Chưng.

Trần Thế Pháp viết : ” Chử nhi thục chi. Hiệu viết chưng bính ” (Nấu chín, và đặt tên là bánh chưng). Trần Thế Pháp dùng chữ chử (bộ hoả) nghĩa là nấu, chứ không dùng chữ chưng (chưng hấp, nấu cách thuỷ). Thực tế thì chưa thấy ai hấp hay nấu cách thuỷ cái bánh chưng vừa được gói xong. Lối giải thích tên bánh chưng không thỏa đáng.

Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) có câu :

Lễ hôn chuông chắn mọi đường
Quế càng hương chắp gấm càng hoa thêm

Chuông chắn nghĩa là vuông vắn, đầy đủ. Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức cho rằng chuông là do vuông đọc trạnh ra, dùng để nói về cách đo vải lụa (Một chuông lụa, một chuông vải). Tự điển Việt-Pháp của Đào Đăng Vỹ có chuông vải. Từ điển Việt-Hán, Hán-Việt của Phạm Cần cũng có chuông vải.

Sau Hoa Tiên độ một hai chục năm, truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) lại nói :

Vội về thêm lấy của nhà
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông

Đầu thế kỉ 19, chuông đã được vuông thay thế hay là người đời sau đã sửa thơ của Nguyễn Du, đổi chuông thành vuông? Tiếng Việt ngày nay có nhiều từ kép cho thấy dường như có sự chuyển biến ngữ âm (ch > v) : chơi vơi, chênh vênh, chạy vạy, chon von, chót vót, chạng vạng v.v.

Trở lại truyện Bánh chưng. Chúng ta có thể suy đoán rằng Trần Thế Pháp đã dùng chữ chưng (Hán) để ghi âm chữ Chuông (nôm): ” Hiệu viết chuông bính ” (đặt tên là bánh chuông). Bánh chuông là bánh hình vuông, tượng trưng cho đất.

Vì vậy mà bánh chuông bị nhầm thành bánh chưng.

(Nguyễn Dữ – Chimviet.free.fr)

Tiếng Việt cổ

Thuốt: thuốc

Chút: con chuột

Khuông: khuôn hay khung

Từ điển văn học bộ mới

Vừa được phát hành đầu năm 2005. Nói là tái bản của Từ Điển cùng tên, ra đời trước đây hai mươi năm và có nhiều thay đổi cái nhìn mới, tư duy mới, và cái mới nghiêm túc. Một ví dụ đánh dấu cởi mở, là nhiều tác giả miền Nam ; ngoài những người trong Mặt Trận Giải Phóng, hoặc ít nhiều quan hệ, còn có những ngòi bút độc lập như  Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Đức Quỳnh, v..v..

Một số tác giả ở hải ngoại cũng được đưa vào : Bình Nguyên Lộc hay Nhật Tiến không gây ngạc nhiên. Có Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, nhưng vắng Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, vắng cả Nguyễn Văn Trung, tác giả có sách trước tác và xuất bản trong nước sau 1975.

(Đặng Tiến – Chimviet.free.fr)

Tục ngữ Tầu và Ta

Họa xà thiêm túc

(Vẽ rắn thêm chân)

(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)

Lý luận văn học

Lý luận văn học nhằm tìm hiểu và đặt nền tảng cho văn học, là phương tiện nhận thức, giữ vai trò khai phá trong lãnh vực văn học. Khác với đối tượng của văn học sử và phê bình văn học vốn là những hiện tượng văn học xác định và cụ thể, lý luận văn học có tính chất của phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhắm vào phương diện cấu trúc và những điểm điển hình của hiện tượng văn học.  Đối với lý luận văn học, những hiện tượng văn học cụ thể chỉ là phương tiện để dẫn đến những khái quát trừu tượng.  Dĩ nhiên lịch sử văn học và lý luận văn học không thể tách rời nhau.  Không có lịch sử của văn học thì không có lý luận về văn học và ngược lại. 

Lý luận văn học cũng nghiên cứu tiến trình của văn học nhưng không đi sâu vào lịch sử các giai đoạn, vào các trào lưu như trong văn học sử, mà chỉ nhằm vào nguồn gốc của cấu trúc, tức là những phương pháp sáng tác chính yếu, những nguyên tắc tư tưởng, nghệ thuật của thời đại phản ảnh cuộc đời chẳng hạn như các chủ nghĩa cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, hiện thực v.v. 

Văn học sử và phê bình văn học cung cấp những nhận định về từng tác giả, tác phẩm tiêu biểu đưa đến sự khái quát của lý luận văn học.  Ngược lại, lý luận văn học tổng kết những quan điểm, kiến thức và chuyển hóa thành phương pháp chung cho việc phê bình văn học và nghiên cứu văn học sử.

Nguyễn Bách Khoa (tức Trương Tửu) với các tác phẩm Nguyễn Du và Truyện Kiều, Văn Chương Ttruyện Kiều, Nguyễn Công Trứ, Đặng Thái Mai với Văn Học Khái Luận, Đinh Gia Trinh với những bài về văn học trên tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị là những tác giả viết lý luận văn học đầu tiên của Việt Nam. 

Ở hải ngoại, Nguyễn Hưng Quốc với Nghệ Thuật Thơ Việt Nam (1988), Thơ..v..v… và..v..v.. (1996), Lưu Nguyễn Đạt với Văn Luận (2000) là những tác giả sử dụng phương pháp lý luận văn học hiện đại của tây phương.

(Trần Bích San – Văn khảo khái luận)

Tiếng Bắc, tiếng Nam

Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Đến khi Nam địt, Bắc hô đánh rấm

Chữ nghĩa làng văn

Về mặt thể loại, hình thức; văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ với hai loại: cổ thể và cận thể – tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca Tầu; ngoài ra theo Dương Quảng Hàm trong quyển Văn học Việt Nam thì văn viết trong thời kỳ đầu “có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn” gồm:

Vận văn: tức loại văn có vần.

Biền văn: tức loại văn không có vần mà có đối (như câu đối).

Tản văn hay văn xuôi: loại văn không có vần, không có đối.

Cuối thế kỷ 18 trở đi, khi chữ Nôm hình thành thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từ chiếu cung đình dần thâm nhập vào văn chương bình dân và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến. “Bà Chúa thơ Nôm” Hồ Xuân HươngTruyện Kiều của Nguyễn Du được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam.

Từ khi có việc truyền bá chữ quốc ngữ thì diện mạo văn học có những thay đổi. Ngoài ảnh hưởng các dòng tư tưởng truyền thống phương Đông thì sự thâm nhập của phương Tây mang đến cho văn học viết con đường “hiện đại hóa” từ hình thức, thể loại đến tư tưởng và nội dung sáng tác thì có thể hiểu một cách tổng quát về các thể loại chính như sau:

Từ thế kỷ 10 đến cuối thế kỷ 19 gồm: tự sự, trữ tình, kịch.

(nguồn Wikipedia)

Chữ nghĩa máy vi tính I

Điện thư không có dấu của bà mẹ nhờ hàng xóm gửi cho con:

“Luc nay ba ma ban du lam, ngay nao ba cung coi ao, con ma thi coi quan, lam cho ba con bi liet luon”.

Điện thư được gửi trên máy, người con đọc ra là:

“Lúc này ba má bận dữ lắm, ngày nào ba cũng cởi áo, còn má thì cởi quần, làm cho ba con bị liệt luôn”.

Văn học miền Nam (IX)

Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu Vương Trí Nhàn, một trong những nhà phê bình miền Bắc đã không ngừng tiếp cận với văn học miền Nam từ thời kỳ phân chia Nam Bắc đến ngày nay.

***

Thụy Khuê: Về di sản văn học  thì Văn học miền Nam có vai trò gì trong việc bảo tồn Văn học tiền chiến và trên mặt nghiên cứu văn học, theo anh, miền Nam có để lại thành quả nào mà anh thấy vẫn còn hữu ích cho giới làm văn học hiện nay không?

Vương Trí Nhàn: Nhìn vào di sản Văn học tiền chiến, thì trong một thời gian dài, ở Hà Nội mất đi rất nhiều, nhiều tài liệu bị cất vào thư viện, sau đó không ai đọc, cuối cùng không biết ở đâu. Thì chính là ở Sàigòn, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn đã bắt đầu có sự nối tiếp, chuẩn bị, sưu tầm tài liệu, đã góp phần làm giàu có thêm di sản chung của chúng ta.

Gần đây, Từ điển văn học của nhóm Nguyễn Huệ Chi đã đưa vào một cuốn sách văn học sử mà riêng bản thân tôi rất thích thú và đã mua về để dùng, coi như là cuốn sách rất tốt về văn học sử Việt Nam, đó là cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ. Hồi ấy, ở Sàigòn có nhiều người rất nổi trên phương diện nghiên cứu văn học và biên khảo, ông Phạm Thế Ngũ chỉ là một nhà giáo và cuốn sách mà tôi nói chỉ là một cuốn giáo trình; nhưng thực sự gần đây đọc lại, tất cả mọi người đều công nhận đó là một cuốn sách viết rất nghiêm túc.

Về việc nghiên cứu và giới thiệu nói chung. Năm ngoái, một cuốn sách về triết học của Trần Thái Đỉnh, cuốn Triết học hiện sinh cũng đã được in lại. Hôm qua tình cờ tôi đọc lại Văn học miền Nam Tổng quan của Võ Phiến, thì thấy ông Võ Phiến cho biết cuốn Triết học hiện sinh đó có thời gian là cuốn bán chạy nhất năm nó ra đời ở Sàigòn. Điều đó với tôi là một chi tiết thú vị, bởi vì hiện nay ở Hà Nội cũng thế thôi, cũng đang có một khao khát tiếp nhận những cái mới của phương Tây, tiếp cận những tinh hoa của họ thế kỷ XX, và trong việc này tôi thấy Văn học miền Nam đã đi trước cũng như để lại những thành quả mà bây giờ chúng tôi không dễ gì vượt qua.

(Thụy Khuê: Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn)

Nhà văn nữ đầu tiên

Lê Thị Huệ là nhà văn nữ đầu tiên của văn chương hải ngoại. Khởi sự cầm bút từ khối người Việt tị nạn sang Hoa Kỳ năm 1975.

Cánh hoa trước gió, chuyện ngắn đầu tay của Lê Thị Huệ, được nhà văn Võ Phiến giới thiệu trên tờ Văn Học vào năm 1979: “Chuyện ngắn đầu tay làm ngạc nhiên văn giới”.

Lê Thị Huệ sinh năm 1953, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Hiện ngụ cư tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã xuất bản: Bụi hồng, Rồng rắn, Lũy tre xanh, Khởi đi từ ngây thơ đến gần sự thật, Văn hóa trì trệ nhìn từ Hà Nội đầu thế kỷ 21. Sáng lập và điều hành trang Gió O trên net từ 2001 đến nay.

Tía, cha

Người Việt miền Nam thường dùng chữ Tía để chỉ người cha. Ðó là danh từ Tia của dân Thất Mân, Mã Lai đợt II. Các đảo Mã Lai đều nói là Tưa, có nghĩa là cha vợ, chứ không phải là Cha như người Việt miền Nam đã dùng sai.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Mụ Béo hồ Gươm

Có một nhân vật Hồ Gươm mà người Hà thanh của những năm đầu thập niên 1950 chắc không sao quên được.

Nhân vật đó là Mụ Béo với quán giải khát cũng mang tên “Mụ Béo” ở đầu đường Lê Thái Tổ gần xế với nhà Thủy Tạ phía bên kia đường. Đặc biệt nữa là Mụ Béo có cô con gái cũng có tướng tá dáng bộ giống gần như mẹ, thường thấy đứng bán hàng. Quán Mụ Béo vào đầu thiên niên kỷ mới đã được du khách ngoại quốc biết đến tên tuổi. Có một bài viết về Hà Nội của một ký giả ngoại quốc nào đó đã nhắc đến cái tên gọi là “The Fat Lady”. Có lẽ đây phải là bà Jr Fat Lady (cô con gái) nối nghề của mẹ chứ cụ Sr Fat Lady (Mụ Béo) tới năm tháng này hẳn đã đến thời quy ẩn trong tuổi xế chiều, hoặc không còn trên cõi đời này nữa.

Quán Mụ Béo ở phía xa xa về hướng nam đền Ngọc Sơn cây cối um tùm. Kế đó là anh Tàu bán thịt bò khô mà địa điểm hành nghề lúc nào cũng ở bên hông quán Mụ Béo. Anh Tàu này có thân hình cao và gầy guộc, lúc nào cũng bận bộ áo cánh quần dài màu đen. Anh ta bán mỗi đĩa một đồng, thịt bò khô trộn với đu đủ bào mỏng pha với một thứ nước mắm chua ngọt cay cay. Hầu như lúc nào cũng có hai ba người, phần lớn là học sinh, đứng chung quanh, ăn xong xuống quán Mụ Béo ngồi ngắm phố phường, uống cốc nước chanh đá thì tưởng không gì thú vị cho bằng.

(TG – Hà Nội những năm tháng cũ)

Thành ngữ

“Cà riềng cà tỏi” : nói đi nói lại có một chuyện.

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

Bài Mới Nhất
Search