Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 313)

Nghi vấn văn học về thành ngữ và thơ “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” , có tác giả cho là câu này của Minh Mạng ám chỉ đất Nghệ An của bà Hồ Xuân Hương.Đồng thời ngoài bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” với những câu “Yếm đào

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 312)

Chữ nghĩa thập niên 20 Trùng dương – Trùng dương là ngày mùng chín, theo tục xưa thi nhân lên núi cao, cắm hoa phù du, uống rượu cúc và làm thơ. Thu hứng – Trong làng văn, các cụ nhà nho rủ nhau lên núi uống rượu, làm thơ. Vả lại mùa thu, phong

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 311)

Giai thoại làng văn Tố Hữu nói chuyện thơ với Xuân Diệu: “Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên. Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 310)

Chữ nghĩa máy vi tính Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, chuyện dân gian được nhặt nhặn trên internet… Theo trung tâm dự báo thời tiết, các tỉnh miền Đông Nam Bộ: Đêm không nắng, ngày vắng sao, nhiệt độ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 309)

Hạc nội mây ngàn Kiều có câu: “Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu”. Hạc ở ngoài đồng – Mây ở trên núi. Hạc nội mây ngàn chỉ những người không có trú quán nhất định. Chứ không phải theo nghĩa “cưỡi hạc về trời” như hay thường dùng qua văn truyện. Hò, hát

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 308)

Tiếng Việt mới tại Đông Âu Soái, bưởng : Ám chỉ những chủ hàng người Việt ở Nga, Ba Lan.Xù : Từ người Việt ở Tiệp dùng tự chỉ mình.Bàn rơi : Nói đưa đẩy, không thật lòng. Đi Puskin : Chương trình bổ túc tiếng Nga cho cán bộ chuyên ngành trước kia. Mifa,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 307)

Thơ ta, thơ Tầu Bài Trăng nước Hồ Tây của Dương Khuê có những câu: Phất phơ ngọn trúc trăng tà Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói sóng ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gươm Tây Hồ Bài thơ trên đã chịu ảnh hưởng bài Phong Kiều Dạ Bạc

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 306)

Cải tạo tiếng Việt Nguyễn Hữu Ngư một mình một chợ đưa ra nhiều thay đổi cách viết trong tiếng Việt như bỏ Y dài thay thế bằng I ngắn, bỏ phụ âm H trong GH, NGH v . v . . . Không ai nghe theo thì ông tự thực hành một mình. Ông

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 305)

Thả thơ I Thả thơ là một nghệ thuật chơi chữ, người thả thơ đưa ra mấy câu thơ, trong đó giấu đi một chữ và đưa ra một số chữ để thay chữ bị khiếm khuyết. Cái khéo của người thả thơ chọn những chữ có vẻ “đúng” để cho người chơi trò chơi

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 304)

Văn học giải phóng Miền Nam “Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, ông Phạm Văn Sĩ ở Sài Gòn viết một cuốn sách về nền văn học ấy, và kể ra những tên như: Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 303)

Vương Thúy Kiều Bấy lâu nay ai cũng nằm lòng Đoạn Trường Tân Thanh, sáng tạo dựa vào tác phẩm cổ của đời Minh có tên là Kim Vân Kiều, truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cuốn truyện nầy bằng sao chép tay hiện còn lưu giữ tại Thư Viện trường Viễn Đông Bác Cổ,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 302)

Thất thập cổ lai hy Xưa kia các cụ ta thọ đến “ngũ thập cổ lai hy” là hết đất. Vì vậy nay với “thất thập cổ lai hy” nghĩa là từ trước đến nay hiếm khi sống đến 70. Nhưng nguyên câu là “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, hiểu theo nghĩa là

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ