Khải Triều: NGUYỄN VĂN HÓA

-Một Mùa Vu Lan Buồn

-Chén cháo gà đêm trừ tịch

-Đêm Giáng Sinh năm 1978

-Lễ chào Quốc kỳ và hát Quốc ca VNCH năm 1979

(ở K4 Trại tù Suối máu)

Ý nghĩa của ba chữ “hoasuoimau”: hoa là tên gọi, tức Nguyễn Văn Hóa, suối máu viết chữ hoa thì đó là tên một trại tập trung cải tạo ở Biên Hòa. Ở cụm từ hoasuoimau,  hoa là một cánh hoa,  biểu tượng của một tinh thần bất khuát của một tập thể sĩ quan của QLVNCH trong hai sự kiện : tổ chức đêm Giáng Sinh năm 1978,  hát Quốc ca và chào Quốc kỳ VNCH năm 1979. như một phản kháng trước những áp bức của các cai tù cs tại đây.

Nguyễn Văn Hóa, sinh năm 1949 quê quán Hà Đông (BV), sống và lớn lên tại Saigon. Còn có các bút hiệu: Thanh Hoa, Tú Bom, Mai Hà.

– Cựu sinh viên Đại Học Luật Khoa Saigon, ban Công Pháp

– Cựu sinh viên phân khoa báo chí/ Đại Học Vạn Hạnh

– Từng làm việc toàn thời gian cho các nhật báo: Saigon Daily News (1966-1969), The Vietnam Daily Mirror (1970-1972), Tổng thư ký tuần báo Giang Hồ (1971)

– Nhạc sĩ Công Giáo/Cựu ca trưởng ca đoàn

– Cựu sĩ quan QL/VNCH, cấp bậc Thiếu Úy

– Vào tù CS 6 năm, từng ở các trại Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu.

– Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1993.

– Trưởng biên tập tuần báo Người Việt Tây Bắc/Seattle – WA từ 1994-2023.

Nguyễn Văn Hóa với Khải Triều

                                                                                                                                                                          Anh Nguyễn Văn Hóa và tôi gặp nhau tại một buổi họp mặt của “Gia đình tình thương”, lúc đầu chỉ là một ý tưởng của Linh mục R. Nguyễn Tự Do, dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn và có lẽ đây cũng là lần đầu tiên, anh Hóa  và tôi gặp nhau.

Nhìn ở tầm rộng hơn thì chuyện này chẳng là gì, nhưng với từng nhân vị thì việc chúng tôi có mặt tại buổi họp mặt do cha Tự Do mời gọi lại có một ý nghĩa đẹp. Trước hết là sau khi cha Nguyễn Tự Do ra tù sau ngày 30-04-1975, vì ngài là Trung tá Tuyên Úy Công giáo thuộc Nha Tuyên úy Công giáo trong QLVNCH, ngài có ý tưởng muốn thành lập một tổ chức bác ái lưu động, đi tới hết mọi địa điểm có trại phong cùi, khuyết tật, nghèo khó trên khắp đất nước, kể cả các buôn làng hẻo lánh, xa xôi trên Tây Nguyên hay tại miền Bắc. Sau khi có được một số người thiện chí tình nguyện giúp đỡ, cha Nguyễn Tự Do chính thức thành lập “Gia đình Tình thương”. Rồi qua buổi gặp gỡ nhau lần đầu trong buổi cầu nguyện ấy, anh Nguyễn Văn Hóa và tôi dần dần gần gũi, mến nhau hơn qua những chuyến đi từ thiện thời gian đầu do cha Nguyễn Tự Do hướng dẫn. Ngoài những chuyến đi này, chúng tôi còn có những lần cầu nguyện tại nhà một người trong “gia đình” dịp lễ thánh Bổn mạng của thành viên ấy. Nếu gia đình anh, chị nào không thích hợp cho việc cử hành một thánh lễ dù đơn giản thì sẽ cầu nguyện tại một gia đình khác, cũng để cầu nguyện cho anh, hay chị ấy. Trong những dịp như thế này, thỉnh thoảng có cả sự hiện diện của cha Giuse Nguyễn Văn Lộc (Tiến Lộc,) Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Ngài sinh ngày 15-08-1943 tại Hà Nội, quê quán tại Kẻ Vồi nay là Hà Hồi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Cha Giuse Tiến Lộc an nghỉ trong Chúa lúc 14g45’ ngày 05-12-2022 tại bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông, sau 79 năm làm con Chúa trên dương thế, 57 năm khấn Dòng và 50 năm Linh mục. Thi hài cha Giuse được hỏa táng tại Bình Hưng Hòa (Theo Cáo phó của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam).

Thời gian từ đó cứ trôi, trôi mãi đến nay, có lẽ cũng hơn 40 năm trường. Khi tôi có ý tưởng sẽ viết về một số những người bạn thân thiết và quý mến nhau, thuộc các khuynh hướng và các thành phần, người cao tuổi nhất có lẽ là sinh năm 1932 hay 1933, không có ai sinh từ năm 1975 trở lại đây. Tôi ngỏ ý với anh Nguyễn Văn Hóa về ý tưởng này và xin anh cung cấp cho tôi vài dòng tiểu sử và những chuyện anh đã trải qua trong những năm tháng anh đi tù sau biến cố ngày 30-04-1975 tại miền Nam, vì anh là sĩ quan trong QLVNCH. Tôi biết anh đã viết hồi ký về chuyện tù, nhất là tại K4 Trại Suối máu. Anh viết vài hàng cho tôi gửi email, có ý ngần ngại. Anh bảo ngại cho tôi thôi. Hồi ký thì anh viết chưa xong, nhưng anh cũng đã gửi về cho tôi hai bài như nói đến ở đây. Tuyệt nhiên anh không nói gì đến việc anh là Trưởng ban biên tập của tờ Người Việt Tây Bắc sau ngày anh sang sống ở Hoa Kỳ từ năm 1993. Anh cũng không nói gì đến đời sống của cộng đồng người Việt tại Mỹ sau khi họ phải gạt nước mắt ra đi trong biến cố đau thương của dân tộc, chẳng những đối với người ra đi mà cả với người ở lại. Tuy vậy, anh cũng đã gửi về cho tôi bài báo, có tiêu đề: “Một Mùa Vu Lan Buồn” (2 bài). Đây là bài anh viết về cuốn băng Video chủ đề “Mẹ” của Thúy Nga Paris, 1997.

Bài thứ nhất, đăng trên tờ Người Việt Tây Bắc số 594, Thứ Sáu 22 tháng 8 năm 1997, trang 10,11,12.

Các tiêu đề trong bài 1:

Mở đầu bài viết, tác giả nói đến hai lý do, cuốn Video Mẹ do Thúy Nga Paris sản xuất được đón nhận nồng nhiệt của cộng đông người Việt tỵ nạn ở khắp nơi

-Sau đó, ông điểm qua băng Video Mẹ

-Tiếp đến, tác giả nói về kỹ thuật tuyên truyền của Cộng sản

-Thúy Nga Paris muốn nói gì trong Video Mẹ?

-Chỉ xin một sự công bằng

-Đôi điều với nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn

-Sách lược của Cộng sản đối với người Việt hải ngoại

-Kết luận (bài 1) 

Mở đầu bài viết, nhà báo Nguyễn Văn Hóa viết: “Băng Video với chủ đề “Mẹ” do Thúy Nga Paris sản xuất và ra mắt nhân dịp Mùa Vu Lan 1997, đã được chuẩn bị công phu và giới thiệu từ lâu, cũng do giới thiệu này, người ta được biết đây là một gợi ý và mong muốn của cố văn sĩ Duyên Anh. Khi nhà văn này về với cát bụi, cuốn băng vẫn chưa có dịp thực hiện, sau đó, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đã thay thế để viết lời giới thiệu cho cuốn Video được gọi là “để đời” này.” (Cột 1 trang 10)

Sau đó tác giả cho biết, cuốn băng này đã được phát hành rộng khắp từ đầu tháng 8/1997 và được đón nhận nồng nhiệt. Tác giả nêu ra mấy lý do vì sao cuốn Video có được điều này. Thứ nhất: “Thúy Nga Paris là một trung tâm băng nhạc hải ngoại nổi tiếng đã sản xuất nhiều video “tầm cỡ” nghệ thuật, được công chúng khắp nơi ưa chuộng”. Thứ hai: “Chủ đề “Mẹ” là một chủ đề lớn, thích hợp với người Việt, nhất là lại là người Việt xa xứ, được mọi người mong chờ đã từ lâu và nghĩ rằng đây phải là một sản phẩm “tuyệt vời”.(Cột 1 trang 10)

Rồi tác giả nói đến những người mẹ.  Ai mà không có một người mẹ. “Bà mẹ Việt Nam thì thế giới không sánh nổi”. Nhưng sau biến cố ngày 30-04-1975, vì không thể chấp nhận chế độ Cộng sản, nên mấy triệu người phải bỏ nước, bỏ cả người mẹ thân yêu của mình ra đi. Một chỗ khác, tác giả cho rằng chỉ có khoảng 1/3 số người vượt biển ra đi đến được bến bờ bình yên, còn lại chết thảm: đói, hải tặc và bão tố v.v…Không thể diển tả lại hết những thương đau của những người ra đi còn sống. Họ thuộc lớp người thứ nhất, thế hệ thứ nhất. Thế hệ này đã là những thành phần đã chiến đấu và đã xây dựng một miền Nam dân chủ, tự do, một VNCH nhân bản, khai phóng và dân tộc. Bây giờ, họ phải bỏ lại ra đi trong u uất, thương đau tột cùng, không ai thấu hiểu được tâm trạng của họ trong những năm tháng còn lại nơi xứ người. Thành thử, cuốn video “Mẹ” do Thúy Nga Paris sản xuất, đã là chiếc roi có gai nhọn quất lên thân thể mòn mỏi của họ, vốn đang bị rỉ máu khôn nguôi. Cho nên, những người chủ trương xây dựng cuốn video này và đã biết chắc có một pha tàn bạo đổ lên đầu người lính chiến VNCH thay vì kẻ thủ ác tàn bạo gấp trăm lần họ, như vụ trường tiểu học Cai Lậy, vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế v.v… thảy đều là những con người mất nhân tính như những kẻ giấu mặt, đứng sau lưng họ.

Điểm qua băng video “Mẹ”.

Tác giả Nguyễn Văn Hóa kể lại nội dung cuốn video này. Có hai phần: Phần đầu rất đẹp, cảm động. Có ca sĩ xuất thần khi hát bản nhạc về mẹ. Người xem đã khóc, nhớ nhà và nhớ mẹ. Ở phần này, cuốn video kể là thành công. Một dàn nam nữ ca sĩ đã thành danh xuất hiện trong video này. Họ cũng có mẹ, cho nên họ dấn thân triệt để. Họ hát rất thành công. Đây là phần đầu của cuốn băng mà theo tác giả Nguyễn Văn Hóa là “quá hấp dẫn với những bài hát hay nhất về Mẹ, đặc biệt là đoạn phỏng vấn Thiền sư Nhất Hạnh, tác giả của đoản văn “Bông Hồng Cài Áo” nổi tiếng, với bài hát cùng tên do Nguyễn Hưng ca, bài hát Quê Mẹ do Họa Mi trình bầy, bài vọng cổ do Hương Lan hát về mẹ không thể chê vào đâu được và gây xúc động cho khán giả không ít” (Bài 1, cột 2 trang 10)

Sang đến phần thứ hai, tác giả bài báo cho là công phu nhất, nhiều kịch tính nhất, và là cốt lõi của sản phẩm văn nghệ này được thể hiện ở đoạn giữa của cuốn 1, tập trung nhiều công sức nhất, dàn dựng công phu nhất – có lẽ là niềm tự hào của nhà sản xuất – kéo dài liên tục hơn 14 phút cho đến hết cuốn 1, đó là bài “Ca Dao Mẹ” của Trịnh Công Sơn. Bài báo của tác giả Nguyễn Văn Hóa cho thấy những hình ảnh mờ nhạt, xám xịt, đen tối, còn không gian, bầu trời lúc đó như bao hiệu những điều chẳng lành sẽ xảy ra. Một thanh niên trong vai diễn của Don Hồ xuất hiện “xanh xao, ủ rũ hát những lời “phản chiến”. Cùng lúc ấy, diễn viên nữ Kim Xuân, lão luyện trong các vai diễn tuyên truyền của phim ảnh truyền hình, trong vai một bà mẹ, nét mặt u sầu đầy nước mắt, đang giở lại tập “anbum” cũ cháy xém, và từ đó, những pha không đáng xem trong các phim ảnh tuyên truyền của CSVN bắt đầu… (Bài 1, cột 3 trang 10)

Thế nhưng, trước khi chết chóc xảy đến cho người dân lành, những người tạo dựng cuốn video Mẹ, đã đưa lên màn hình một miền quê ở miền Nam Việt Nam trong thời chiến, “tuy điêu tàn nhưng vẫn mang một sức sống của sản xuất, của vươn lên với nhà tranh bếp lửa, đàn gà, vườn trầu, cảnh bữa cơm gia đình…Một bà mẹ trẻ đảm đang tay bồng con thơ đang lúi húi trong chái bếp đầu nhà thật bình dị, thật đẹp và hiền hòa…(Bài 1, cột 3 trang 10). Tới đây thì chúng tôi có một nhận xét: lúc đó, giờ đó, tức cái giờ một Don Hồ, một Kim Xuân, một người mẹ trẻ đang lúi húi ở bếp…rất yên bình KHÔNG HỀ CÓ ĐÁNH NHAU, không có trận chiến nào đang xảy ra ở khu vực gần hay xa đó giữa hai bên Nam-Bắc, hay giữa Mỹ-Ngụy và quân CS. Vậy TẠI SAO lại có máy bay xuất hiện, ném bom, nổ súng vào những người dân vô tội! Thật phi lý! Điên rồ! Không ở đâu trên thế giới này qua những trận chiến tranh, có một sự kiện nào tương tự như thế xảy ra. Rõ ràng, đây là sự ngụy tạo, có chủ đích chống lại phía VNCH, những người đang coi cuốn video ngay trên đất tự do, sau khi chiến tranh đã chấm dứt từ ngày 30-04-1975, tới lúc coi video này, đã là 20 năm có lẻ.

Những cột báo sau đó, tác giả Nguyễn Văn Hóa đã kể lại những hình ảnh người mẹ trẻ ẵm con nhỏ vào lòng tìm chổ ẩn náu, còn người chồng thì vội vã chạy đi, khi máy bay bỗng nhiên xuất hiện với những âm thanh chát chúa và một tiếng nổ kinh hoàng như phá tan màn hình. Chết chóc đã xảy ra cho một số người, trong đó có người chồng của người vợ trẻ. Chúng tôi không dẫn tiếp cột báo tác giả kể lại việc người vợ trẻ để xác chồng trên chiếc xe bò đưa tới nghĩa trang. Trực thăng Mỹ-Ngụy xuất hiện trở lại với súng máy và róc két đen ngòm. Hình ảnh này khiếp hãi quá. Nó cho thấy những người đưa các hình ảnh này lên cuốn video có một đầu óc “lạnh” đến hãi hùng. Đấy là nghệ thuật sao!

Thế nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục với tác giả Nguyễn Văn Hóa khi ông chuyển sang nhân vật khác, là nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn.

Nhà báo Nguyễn Văn Hóa đã nói đôi điều với nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn trong vai trò giới thiệu cuốn video này, vì có lẽ ông thấy sự tham gia vào video mẹ của ông Ngạn “không ổn” về tâm lý. Điều “không ổn” này cũng là điều dễ hiểu, vì ông Nguyễn Ngọc Ngạn không phải là người xa lạ với cộng đồng người Việt tỵ nạn: Ông Nguyễn Ngọc Ngạn cũng là người vượt biên, tức thuộc thế hệ bỏ nước ra đi thứ nhất vì không thể ở lại sống dưới chế độ Cộng sản. Ông cũng là một sĩ quan trong QLVNCH, đã vào trại cải tạo. Khi được thả về, đã vượt biên, đến được bờ bình an. Nguyễn Ngọc Ngạn là người Công giáo. Ông đã viết văn và xuất bản một số tác phẩm văn học có giá trị. Đấy là những gì nhà báo Nguyễn Văn Hóa đã viết về Nguyễn Ngọc Ngạn. (Bài 1, cột 2 trang 12). Nhà báo Nguyễn Văn Hóa cho biết thêm: “Như trong bài giới thiệu của ông (Ngạn) về cuốn video Mẹ…chúng tôi cảm thấy ông đã có tiên liệu một sự “bất ổn” nào đó mà ông nói chưa được, chưa nói hết, như việc ông nói rằng cuốn video này ông không tham gia lúc đầu, không để ý đến chủ đề Mẹ vì “không được giao phó trách nhiệm gì trong chương trình này”, ngay cả khi thu phần ca nhạc cũng không có ông, chỉ nghe kể lại mà thôi. Ông chỉ trách nhiệm trong việc đi Paris làm cuộc phỏng vấn Thiền sư Nhất Hạnh và về…ông cũng cho biết vì quá gấp do nhu cầu ông “ngồi vào bàn viết hai ngày liên tục, lục trong trí tất cả những câu ca dao tục ngữ, những bài thơ viết về Mẹ…cố gom góp đủ tài liệu cho 16 ca khúc nặng trĩu tình cảm chứa đựng trong cuốn băng giá trị này…” (Bài 1, cột 2 trang 12)

Tác giả Nguyễn Văn Hóa kết luận về Nguyễn Ngọc Ngạn:

“Thật tình mà nói, bởi những lý do mà ông Ngạn đã đưa ra, như không đủ thời giờ, không tham gia ngay từ đầu…nên những lời giới thiệu của ông viết ra cũng ít cảm xúc, đó là điều đương nhiên. Có lẽ điều ông Ngạn muốn nói là cuốn băng đã được “tính toán” từ trước không có ông tham dự, và ông chỉ là người tiếp nối mà thôi? … Nhưng chắc chắn ông cũng phải được thấy và biết các tiết mục đã được dàn dựng thành phim và nội dung ra sao để ông có thể viết phần giới thiệu, hay là ông cũng đã từng ái ngại trước một việc đã rồi? Như trong bài giới thiệu đã dẫn, ông viết là “…Cho nên nếu tìm một cái gì mới cho video Mẹ, thì những bài bản không phải là yếu tố mới. Cái mới, cái cần, chính là hình ảnh, là ngoại cảnh, là từng tiểu phẩm thích hợp để làm nổi bật ý nghĩa của từng nội dung bài hát…”. Cho rằng ông chỉ làm nhiệm vụ của một người làm công, xin là một người làm công CÓ LƯƠNG TÂM. (Bài 1, cột 3 trang 12)

Thưa anh Nguyễn Văn Hóa, khi ông Nguyễn Ngọc Ngạn không được tham gia ngay từ đầu, là một điều cái nhóm người chủ tâm thực hiện cuốn video Mẹ, cũng có ý e dè ông Ngạn có thể phản ứng hoặc “rút lui” không có lợi cho họ, họ cũng nhắm đến lịch sử của ông Ngạn, một người Công giáo, một nhà văn, một sĩ quan đi tù rồi vượt biên. Đó là những yếu tố để họ cẩn trọng đối với ông ấy. Thế nhưng, về phía Nguyễn Ngọc Ngạn, thì Thúy Nga Paris là một môi trường quá tốt, hấp dẫn và đồng tiền công chắc là rất khấm khá? Nguyễn Ngọc Ngạn chấp nhận, dù là “tiếp nối” ở giai đoạn cuối, thì ông cũng không thể phủi tay hoàn toàn về hành động “phản bội” những người cùng đứng dưới màu cờ và màu áo, cho dù chúng ta cũng là những người bị đồng minh phản bội!

Mấy điều còn lại của bài 1:

Tác giả Nguyễn Văn Hóa nêu ra mấy điều: kỹ thuật tuyên truyền của Cộng sản, sách lược của Cộng sản đối với người Việt hải ngoại và sau cùng là, Thúy Nga Paris muốn nói gì trong video Mẹ?

Chúng tôi chỉ xin nói ít lời: hai điều trước, nói chung, Cộng sản chỉ nhằm một mục đích, đó là làm chia rẽ thành phần còn duy trì tinh thần chống Cộng sản. Nguyên tắc: mục đích biện minh cho phương tiện, lương tâm bị xé bỏ. Người Cộng sản coi lương tâm là cái vớ vẩn, là di sản của phong kiến, phải triệt tiêu. Xin nhớ vụ Trịnh Xuân Thanh đang ở Dức, đã bị an ninh Việt Nam sang tận nơi bắt cóc về “trị tội”, bất chấp luật pháp quốc tế! Hay, chuyến bay “giải cứu” đưa người Việt ở nước ngoài về nước thời covid-19, hoặc Việt-Á thu vét tiền của dân cũng thời covid-19 khốn khổ vô chừng, nhưng những kẻ chủ mưu vơ vét là cả một hệ thống quyền lực. Do vậy, Video Mẹ do Thúy Nga Paris sản xuất là… nhỏ!

Có một bài ca dao mới về lương tâm thật hay. Xin dẫn:

THẰNG BỜM

Thằng Bờm có cái lương tâm

Quan ông xin đổi một hầm rượu bia,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy bia.

Quan ông xin đổi một nia yến sào,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy sào.

Quan ông xin đổi mười chầu bia ôm,

Bờm rằng Bờm chẳng muốn ôm.

Quan ông xin đổi nghìn đồng đô la.

Bờm rằng “Sao lạ vậy cha?

Lương tâm đem đổi toàn là chi mô !”

Quan ông liền nói sửng cồ:

“Chứ bộ mày tưởng quý hồ lắm sao

Lương tâm không đáng nửa hào,

Tao đùa mày đấy,…Úi giào tưởng ngon!…”

BA PHA

Báo Lao Động số 51/93 ngày 27-6-1993

(Mục: Thơ châm…cứu)

Còn về phía Thúy Nga Paris? Tất cả những gì đưa ra trước người đọc, chỉ là suy đoán. Chỉ có điều, Thúy Nga Paris chắc chắn biết sẽ có một số người phản đối kịch liệt, họ thuộc thế hệ thứ nhất ra đi. Họ là những thành phần đã tham dự chính vào cuộc chiến. Và Thúy Nga Paris biết họ sẽ đau khổ biết bao nếu họ xem lại cảnh máy bay ném bom và bắn phá vào đồng bào của mình. Làm như vậy là Thúy Nga Paris làm khổ thêm lớp người này. Bởi vậy, phải có một cái gì đó rất “ngọt ngào” làm cho nhóm người này chấp nhận một chút đau xót trước dư luận chống đối đoạn video gây chết chóc cho dân mà nhà báo Nguyễn Văn Hóa ghi lại trong đoạn kết luận bài viết của ông dưới đây.

Kết luận:

Từ đầu tháng 8-1997, khi băng video “Mẹ” của Thúy Nga Paris phát hành rộng rãi, có tin đã nhiều nơi, nhiều tiểu bang trên nước Mỹ và cả các nước khác có phản ưng về màn hoạt cảnh chính yếu của cuốn video này, nhiều bài trên các báo, nhiều điện thoại, điện thư gửi đến Thúy Nga Paris dòi mang băng video Mẹ đi trả và nói rõ rằng: Tôi không thích đoạn phim đó, hãy cắt bỏ nó đi! Đừng giao cho các cai thầu quay như thế nữa…Mới đây nhất là Tuyên cáo của Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và thư phản đối của Tổng Hội Không Quân…mà người viết chưa có dịp được đọc hết, ngoại trừ bài báo của ký giả Phạm Trần đăng trong Chính Luận số ra ngày 15-8-1997 vừa qua.

Người viết hiện cũng có trong tay một bài của tác giả Hoàng Đăng Sơn Hà, nhằm bênh vực nội dung cuốn video nói trên và cho đó là “nỗi oan khiên” …

Mùa Vu Lan 1997

Nguyễn Văn Hóa

Bài Thứ 2- Video “Mẹ” Của Thúy Nga Paris –Phải chăng là một nỗi oan khiên?

Trong bài này, tác giả Nguyễn Văn Hóa đề cập đến một bài báo của Hoàng Đặng Sơn Hà bênh vực cho cuốn video Mẹ. Ông Hóa cho biết là bài của tác giả này cũng đã phổ biến ở nhiều nơi, cả trên báo Người Việt Tây Bắc, là tờ báo ông Hóa làm Trưởng biên tập.

Nội dung bài số 2 của Nguyễn Văn Hóa.

Trong bài này, tác giả đề cập đến “Thư ngỏ” của ông Tô Văn Lai, Giám đốc Trung tâm Thúy Nga lên tiếng về cuốn video. Nhưng trước hết, ông Hóa phân tích những điểm sai trong bài của ông Hoàng Đặng Sơn Hà, bênh vực cho cuốn video Mẹ.

Ông Nguyễn Văn Hóa cho biết, bài của Hoàng Đặng Sơn Hà, tiêu đề “Nỗi oan khiên của một đoạn phim” là “bình chữa lửa cầm tay”, tức là ông HĐ Sơn Hà biết trước hoặc đoán trước việc cuốn video sau khi phát hành sẽ có dư luận chống đối, nên chuẩn bị “chữa cháy”, bằng cách viết một bài sớm, viết “rất sớm-có thể nói ngay sau khi phát hành video Mẹ – vì băng này được phát hành vào đầu tháng 8/1997, trong khi bài viết này đã cho biết về một màn trong buổi trình diễn ở Toronto ngày 8-8-97, với Như Quỳnh và các vũ công trong hình ảnh người lính Cộng Hòa. Đặc biệt, tờ “Vận Hội Mới”, một tờ báo ở Nam Cali phát hành hàng tuần mỗi thứ Tư, trong số ra ngày 13-8-97, có lẽ là tờ báo đăng bài bênh vực của Hoàng Đặng Sơn Hà sớm nhất.” (Bài 2, cột 1 trang 10).

Tiếp sau đó, ông Nguyễn Văn Hóa phân tích về những điểm trong bài báo HĐ Sơn Hà, bênh vực cuốn video:

-Bản Ca Dao Mẹ là phần chính của cuốn video, vì như ông Hóa đã nói đến ngay ở bài báo số 1 của mình. Vì các bài hát khác chỉ diễn ra trong vòng 4 phút thôi. Nhưng bản Ca Dao Mẹ đã cố tình kéo dài đến 14 phút. Cho nên, bản nhạc này là chính của cuốn video, chứ không là bình thường. Mà có là bình thường thì cũng không thể chấp nhận sự việc xảy ra gây kinh hoàng và chết chóc cho dân, trong lúc bài hát kéo dài (cố ý) trong suốt hoạt cảnh này. Theo chúng tôi, nó là một hiện tượng “bất bình thường” khi nó chú ý quá đáng vào sự việc xảy ra trong một bối cảnh không chiến trận, đang êm ả yên bình. Bài Ca Dao Mẹ sử dụng không đúng chỗ, bị người sản xuất lợi dụng cho ý đồ chính trị.

-Những điểm kế tiếp trong bài báo của Hoàng Đặng Sơn Hà là:

-Khán giả ngộ nhận đối với đoạn phim đó, rất có thể vì họ nhậy cảm trước những hình ảnh có khả năng tác động vào tâm hồn”.

-Hoàng Đặng Sơn Hà cho rằng những cú nổ tung lên, cỡ trong đoạn phim chỉ có thể do đạn pháo kích hoặc do mìn tạo ra mà thôi. Ông này tự nhận mình cũng là một sĩ quan QLVNCH, từng đụng độ với kẻ địch ngoài mặt trận.

-Chi tiết quan trọng trong đoạn phim mà HĐ Sơn Hà muốn nhấn mạnh để bênh vực, đó là những sợi dây kẽm gai, ông cho rằng trước 1975 chỗ nào có kẽm gai là chỗ đó hiện diện QLVNCH hoặc đồng minh. (Bài 2, cột 4 trang 10).

Mấy vấn đề trên đây ông HĐ Sơn Hà đưa ra trong bài báo của ông có tiêu đề “Nỗi oan khiên của một đoạn phim” trong video Mẹ do Thúy Nga Paris sản xuất, đều được tác giả Nguyễn Văn Hóa giải trình rõ ràng, cụ thể với ngôn từ khiêm tốn, nhã nhặn, không có mầu sắc của bút chiến hay nóng nẩy. Đấy là điều thật đáng quý và trọng thị ông. Ngoài ra còn một vài điều nữa cũng được ông Nguyễn Văn Hóa trình bầy, như vấn đề người Việt sống ở nước ngoài về nước. Ông Hoàng Đặng Sơn Hà nói rằng, ông giám đốc Tô Văn Lai vẫn là một trong những người chưa về Việt Nam, cho đó là bằng chứng Thúy Nga Paris không liên hệ với Cộng sản, thì theo tác giả Nguyễn Văn Hóa, đó là một suy nghĩ ấu trĩ. Kế đến, vấn đề về Thúy Nga Paris với Video “20 năm nhìn lại”, ông Nguyễn văn Hóa cũng đã viết mấy cột báo về một vài điều mà ông cho là đáng lưu ý, song chúng tôi không đề cập đến nữa, chỉ xin trở lại với “Thư ngỏ” của ông Tô Văn Lai.

Nhận xét về “Thư Ngỏ” của Thúy Nga Paris

…Thúy Nga Paris đã đưa ra một “Thư Ngỏ” ký tên giám đốc  Tô Văn Lai, nội dung nói rằng do sơ xuất về kỹ thuật ráp nối của “khúc phim ngắn” dùng làm ngoại cảnh cho bài “Ca Dao Mẹ” đã gây ra ngộ nhận cho nhiều khán thính giả về lập trường chính  trị của Trung Tâm này, Thúy Nga cũng lấy làm tiếc về “khuyết điểm vô tình” đó. Để tỏ thiện chí, Thúy Nga sẽ cắt bỏ những hình ảnh, ráp nối lại bài Ca Dao Mẹ để tránh hiểu lầm.

Phần sau của Thư Ngỏ này là những lời lẽ giống như bài của ông Hoàng Đặng Sơn Hà đã viết để bênh vực.

Ngay từ đầu bài, chúng tôi ghi nhận Thư Ngỏ này là một “thiện chí bước đầu”, nhưng như đã phân tích, thì rõ ràng đây cũng chỉ là hành động chữa cháy cấp thời, một chiến thuật có tính toán của tập đoàn Thúy Nga Paris để xoa dịu dư luận hòng lấp liếm những ý đồ của mình, kéo dài thời gian để vấn đề trôi vào quên lãng. Khẳng định rằng tập đoàn Thúy Nga qua băng video Mẹ đã cố tình tiếp tay cho cộng sản đảo ngược chính nghĩa của cuộc chiến vừa qua, sỉ nhục tập thể quân đội VNCH, một chủ đề được tính toán nghiên cứu công phu và có thời gian dài, tiết mục được trình bày rõ ràng không thể vì sơ xuất trong ráp nối mà gây ngộ nhận. Rõ ràng tập đoàn Thúy Nga Paris chưa thành thật trong việc này.

Nếu ông Lai và tập đoàn Thúy Nga cho rằng việc làm của mình là đúng như ông Hoàng Đặng Sơn Hà từng bào chữa, thì việc gì phải xin lỗi, cứ việc giữ vững lập trường của mình? (Bài 2, cột 1 trang 69)

(Nguồn: Người Việt Tây Bắc số 596 Thứ Sáu 29 Tháng 8 năm 1997)

Thưa anh Nguyễn Văn Hóa, thiện chí cắt bỏ hay thu hồi cuốn video Mẹ do Thúy Nga Paris sản xuất, và phát hành khắp nơi vào đầu tháng 8-1997 như anh đã nói tới, thì…việc cũng đã xong. Vậy, càng nói thêm thì vô tình chúng ta lại mắc lừa họ! Cái nham hiểm và thâm độc của Thư Ngỏ và bài của Hoàng Đặng Sơn Hà đã lộ ra.

KT

NHỮNG HỒI ỨC CỦA NGUYỄN VĂN HÓA

-Chén cháo gà đêm trừ tịch

-Đêm Giáng Sinh 1978

-Lễ chào Quốc Kỳ VNCH đầu năm 1979

(K4 – Trại tù Suối Máu)

Chén cháo gà đêm trừ tịch

Căn cứ Trảng Lớn thuộc tỉnh Tây Ninh có thể đã từng chứa đến cả hàng chục ngàn tù “cải tạo” được đưa về đây từ tháng Sáu, 1975, bên cạnh căn cứ là núi Bà Đen cách đó không xa. Trại chúng tôi ở được đặt tên là L4T3 với khoảng gần 1 ngàn người, chia làm 5 khối, thật ra chỉ có 4 khối lớn mỗi khối khoảng hơn 200, còn lại là khối số 5 với chưa tới 30 người, những anh em này bị bệnh tật hoặc yếu sức không thể đi ra ngoài lao động được nên làm những công việc nhẹ ở trại, anh em hay  gọi đùa là “khối chỉ huy”, vì anh đại diện trại cũng nằm trong khối ấy, trong đó nhà họa sĩ tài danh Hiếu Đệ cũng là một thành phần của khối, vì anh yếu sức…

Tôi và các anh em khác được đưa vào khối số 3 do một vị đại úy già được cử làm khối trưởng, với nhân số là 248 người nằm xếp lớp như cá mòi trong một căn phòng dài vốn là doanh trại của SĐ 25/BB trước đây, với kiểu nhà tiền chế mái tôn ọp ẹp. Phòng chia làm 2 dãy,  mỗi người chỉ được  khoảng 0m8 bề ngang và  2m bề dài, lại còn phải làm thêm tầng trên bằng những vỉ sắt PSP lấy từ phi trường quân sự gần đó, gác trên những cây đà gỗ mỏng mảnh rất nguy hiểm, mới đủ chỗ cho số người đông như thế trong một căn phòng quá chật chội…

Ngày Tết đã cận kề, cái Tết đầu tiên từ sau khi “gãy gánh, đứt phim”, đã thiếu thốn mọi bề lại căng thẳng tinh thần tột độ sau khi bị “cú lừa thế kỷ” ba ngày học tập, đặc biệt năm nay trời trở lạnh dữ dội chưa từng thấy, lại phải sống trong một căn cứ trống trải trên triền núi nên càng cảm thấy rét căm căm, nhưng có lẽ căm hơn cái rét là một cái Tết xa nhà khi đang là một tù binh. Tất cả mọi người đã thiếu ăn lại càng thiếu mặc thê thảm, quần áo ấm không có, mỗi người được phát hai thước vải ka-ki làm mền đắp nên thật khốn khổ với cái lạnh.

Từ ngày vào trại đến giờ đã hơn sáu tháng, hàng ngày chúng tôi chỉ được cấp cho một loại gạo bao xanh của người “anh em” Trung Cộng viện trợ được cất giấu kỹ trong mật khu có lẽ từ thời… Hùng Vương đến giờ cho nên hạt gạo đã mốc xanh và mục nát, nhìn đên phát khiếp, mỗi khi nấu cơm phải gạn lọc hàng chục lượt nước để loại bỏ các hạt gạo mục rỗng nổi lên trên mặt nước xanh lè rất dễ sợ, khi nấu thành cơm thì rất nở và xốp nhẹ như bông, nhưng khi ăn vào bụng thì chỉ một giờ đồng hồ sau là lại cảm thấy đói ngay, vì chẳng còn chút bổ dưỡng nào. Ở đây có hai giai cấp rõ rệt được định theo tiêu chuẩn cấp gạo: Giai cấp tù thì ăn gạo mục Trung Cộng, còn giai cấp thứ hai là bộ đội và chó, lợn thì được ăn gạo Mỹ hạt dài! Cũng chính vì vậy mấy tháng mùa Thu vừa qua đã xảy ra tình trạng đa số anh em tù tự nhiên phát phì ở mặt, ở chân tay, đi đứng khó khăn do thiếu vitamin B1 – anh em tù gọi đùa là bệnh “phồn vinh giả tạo” cho có vẻ thời thượng và chính trị – cứ lấy ngón tay ấn xuống da thịt là nó xẹp xuống thảm hại và không chịu phồng lên lại. Nhờ đợt gửi quà đầu tiên qua Bưu Điện tháng 12 vừa rồi, ai cũng xin gia đình ưu tiên gửi cho thuốc B1, nên cũng đỡ đi phần nào cái chứng bệnh “phồn vinh” nói trên.

Trở lại câu chuyện Tết, biết thân phận mình trong tù nhưng Tết đến thì vẫn cứ nao nao, nhất là nhớ gia đình, người yêu, cha mẹ, vợ con, nhớ Sài Gòn vô cùng và lo cho  ở nhà với cái Tết khốn khổ do “cách mạng” mang đến nên anh em rất tủi thân và buồn. Ngày 29 Tết đã được trại cho nghỉ lao động để chuẩn bị Tết, nhưng chuẩn bị gì bây giờ? Thì cũng lại được lệnh làm vệ sinh chung quanh doanh trại, trong lán, và anh em cũng “tranh thủ” ngày nghỉ để có thể vá lại cái áo rách, may đắp thêm vài miếng bao cát vào tấm đắp cho dầy thêm để chống lạnh…

Sáng 30, có hai người được thả về, nhưng không ai lấy làm lạ vì thật ra họ là những con cái của đảng viên cao cấp CSVN, khi xưa đi tập kết còn để lại con ở nhà, nay tìm được nên bảo lãnh cho về…

Buổi trưa lúc gần tới giờ ăn, nghe anh em rù rì tin đồn là đêm nay có thêm bữa ăn giao thừa, chuyện lạ, chẳng thấy có “động dao động thớt” thì ăn cái gì?. Nhưng tin đồn trở nên chính xác khi đang trong bữa ăn trưa, anh Hạnh, Khối Phó Hậu Cần (cũng do anh em bầu lên phụ trách phần “anh nuôi”), thông báo tối nay giao thừa anh em tù sẽ được ăn cháo… gà. Mọi người vểnh tai nghe xem chuyện thực hay mơ, thì được biết là có món cháo gà thật, số là anh em bên “khối bệnh” ít lâu nay có nuôi được 5 con gà con bắt được khi mới đến trại, có lẽ của anh em binh sĩ VNCH nào đó trước từng ở đây nuôi chơi và bỏ lại khi tan hàng, các anh em khối 5 khi đến đây đã tìm thấy và bớt chút cơm khẩu phần nuôi chúng đến nay đã khá lớn, mỗi con cũng khoảng 1 ký rưỡi. Nay nhân dịp Tết, bọn quản giáo coi trại nghĩ ra cách cho làm thịt để anh em mừng Xuân, chia ra mỗi khối 1 con, còn khối 5 tuy ít người nhưng có công nuôi nên cũng được hưởng một con, vừa đẹp cả làng, mà “đảng ta” lại được tiếng!          

Một con gà cho khối 3 chúng tôi với 248 người  được anh khối phó nghĩ ra sáng kiến… nấu cháo mới có thể công bằng cho mọi người, như thế là bữa cơm chiều nay sẽ phải bớt ra một vài thau gạo, một ít mỡ trừu “made in China” vẫn dùng để xào rau muống hàng ngày, dành cho việc nấu cháo cho thêm phần long trọng nhân dịp mừng Xuân đầu tiên “Cách Mạng về quê hương”. Thật là quý hóa.

Chiều đến, buổi chiều 30 Tết thật ảm đạm, mọi người được nghỉ nên ai cũng nằm dài nghĩ đến cái Tết trong tù xa gia đình, kể chuyện gẫu cho nhau nghe, hoặc ngủ cho qua cơn buồn. Bỗng có tiếng xôn xao loan truyền nhà bếp đang làm thịt gà, nhiều anh rảnh rỗi không biết làm gì cũng xuống chật nhà bếp xem mặt mũi con gà thế nào. Chị gà mái cũng khá bụ bẫm được mấy anh nhà bếp nhúng nước sôi, thoăn thoắt vặt lông, chẳng mấy chốc đã được mổ bụng và rửa sạch. Anh khối phó cầm con gà duy nhất giơ lên cao một cách trịnh trọng trước đám đông và bỏ vào chảo gang lớn có gạo trong đó đang nấu cháo sôi sùng sục, miệng anh mỉm cười, nụ cười đầy vẻ diễu cợt mỉa mai, nhưng bình phẩm về một con gà cho 248 miệng ăn thì không ai dám hở môi, chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt và nếu có thì rỉ tai nho nhỏ với những bạn thân thiết mà thôi, ở đây tai vách mạch rừng, ăn đạn vì tội “phản động” như chơi.

Mấy anh nhà bếp cầm xẻng quậy nồi cháo liên tục, phần vì sợ cháy, phần nữa cần để cho con gà tan ra thành nước, nếu còn miếng thịt miếng xương nào thì chắc là việc chia chác rất vất vả!

…Đêm giao thừa đã đến, 11 giờ đêm, toàn trại đã bị đánh thức, dồn lên hội trường chật cứng như nêm để được chứng kiến cử hành nghi thức giao thừa. Bọn cán bộ quản giáo đi lui đi tới, một tên mang máy phóng thanh loại cầm tay lên gắn trên bục thuyết trình. Máy được thử đi thử lại bởi nhiều quản giáo khác nhau, tên nào cũng đến gõ cồm cộp  vào máy ra cái điều quan trọng và văn minh… Bỗng tên chính trị viên kê miệng  vào máy nói lớn giọng: “A nô, A nô, thử noa, thử noa… một hai ba tư… năm sáu bảy tám chín chục!” Anh em tù cố nín cười nhưng vẫn có những tiếng khùng khục bên dưới phát ra do không thể nín nổi.

Gần giờ giao thừa, chính trị viên của trại nói vài lời về “mục đích yêu cầu” của đêm nay, là để cho các trại viên được nghe lời chúc Tết của “Bác”, sau đó hắn lấy chiếc radio áp sát tai vào để theo dõi, đúng 12 giờ, hắn mở lớn volume và kê cái “đài” vào máy phóng thanh, đầu tiên là quốc thiều, đến phần nghe lại lời chúc Xuân của “Bác” Hồ, tiếp đến là chúc tết của “Bác” Tôn…v.v…

Cuối cùng, tên chính trị viên trịnh trọng ngỏ lời với anh em sĩ quan tù vài câu, đại ý chúc anh em học tập cải tạo lao động tốt để sớm trở về với gia đình như câu “sấm” hàng ngày chúng vẫn nhai đi nhai lại. Cũng có đại diện tù là anh trại trưởng Đoàn Lượi lên phát biểu vài câu đã được sắp đặt trước cho đủ lễ bộ và sau đó là giải tán để về lán “niên hoan”.

Về đến lán, lệnh liên hoan vui xuân được ban ra, 248 con người bước ra nhà ăn ngay kế bên hông nhà với ca cóng đủ loại trên tay, nhà ăn tối nay được thắp sáng lung linh bởi những bó đuốc tự tạo quấn bằng giấy vỏ đạn pháo binh. Mỗi tổ 12 người được chia cho một thau cháo nhỏ, sớt ra thì mỗi người được một chén lõng bõng, cả con gà đã tan thành nước vì được hầm quá lâu, lại bị quậy nát nhừ nên không dễ ai trúng được một sợi thịt gà dù là chút xíu. Ông bạn ngồi bên tôi nói nhỏ vào tai: Hình như có mùi gà đấy!  

Ngoài trời rét căm căm, ngần ấy con người im lặng xúc từng muỗng cháo lỏng mà không ai cất một tiếng nói, chỉ nghe thấy tiếng húp nhè nhẹ trong cõi lòng xót xa ngổn ngang trăm mối…

Sau bữa cháo giao thừa, tất cả đều phải đi ngủ. Trời dần về sáng, trong căn phòng chật cứng người nằm co ro, thỉnh thoảng nghe đâu đó có tiếng thở dài nhè nhẹ và cả tiếng nấc nghẹn ngào. Thằng bạn thân nằm bên vốn sính thơ, ghé vào tai tôi đọc thật khẽ mấy câu nhái lại từ bài thơ chúc tết của “Bác” hồi nãy:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,

Đói khổ tràn lan khắp mọi nhà,

Độc lập, tự do trong rào kẽm

Ấm no, hạnh phúc… chén cháo gà (!)”

Sáng hôm sau, mùng một Tết, trại báo xuống cho các khối cử người đi lãnh thực phẩm về ăn Tết, anh khối phó tưởng nhiều nên cử tới 20 người đi theo. Khi trở về, mọi người tò mò ra xem, tất cả dành cho khối 248 người gồm khoảng vài ký thịt heo ba rọi, vài chục cái bắp cải, ít trái xu, thêm một ít đồ ăn chơi là kẹo lạc, kẹo dừa.

Gần trưa, đám quản giáo ùa xuống vào lúc sắp sửa bữa ăn trưa, anh nào quần áo cũng bảnh bao hơn mọi ngày, dép râu mới, đặc biệt là cả mười như một đều đeo “đài” bên hông, mở volume lớn hát và nói rất ư là thời thượng, có anh còn xắn tay áo để khoe cái “đồng hồ không người lái” mới tậu được. Nhìn tên nào mặt cũng y chang như những tấm bia ngày trước vẫn  thấy hồi đi tập bắn ở quân trường: gương mặt đói ăn vêu váo trong chiếc nón cối, răng cải mả, chẳng thế mà anh em tù thường dùng hiệu lệnh “bia lên” để báo động với nhau mỗi khi có cán bộ vào trại, chỉ cần hô một câu “bia lên” từ phía các lán gần cổng, tức thì khẩu lệnh ấy được truyền nhau vô tận trong cùng trại, và ai đang làm chuyện gì đấy thì hãy coi chừng. Thật đáng khâm phục ông họa sĩ nào ngày trước đã vẽ ra tấm bia ở quân trường, nó chính xác hầu như đến 100%.

Bữa cơm trưa mùng một Tết, dọn ra bàn cũng đủ ba món: Một món canh “toàn quốc” điểm chút bắp cải, một món thịt xào trái xu mà may lắm thì mỗi người được một lát thịt mỏng như lá lúa và thêm món thịt heo kho muối, chia ra mỗi người được một miếng to bằng… ngón tay út, đặc biệt lần đầu tiên có thêm món tráng miệng là 1 cục kẹo dừa và một miếng kẹo đậu phọng nhỏ.

Người quản giáo phụ trách khối 3 tên Tĩnh, cùng hai phụ tá và vài cán bộ tiểu đoàn đi đi lại lại ra cái điều quan trọng lắm. Trước bữa ăn, Tĩnh ra hiệu cả khối im lặng và nói vài điều nhân… bữa tiệc Xuân to lớn của dân tộc, đại ý là nay nước nhà đã thống nhất, cách mạng đã thu tóm được toàn đất nước về một mối… rồi y kết thúc: “Hôm nay cách mạng cho anh em vui tết trong không khí tưng bừng của cả nước. Yêu cầu của cách mạng đối với anh em trong ngày Tết này là vui vẻ và cố gắng… ăn cho hết tiêu chuẩn!”./.

Nguyễn Văn Hóa (trích: “Những năm tháng không thể nào quên”)

Đêm Giáng Sinh 1978 và Lễ chào Quốc Kỳ VNCH đầu năm 1979

Tình hình tại trại tù Suối Máu thời điểm 1978

 Mùa Hè năm 1978, sinh hoạt của anh em trong trại tù Suối Máu tuy vẫn bình thường như những năm trước, nhưng hầu như có một điều gì đó không “bình thường” mà anh em tù  cảm nhận được tuy chưa có thể định ra. Hàng ngày các K vẫn phân chia các toán đi làm lao động bên ngoài như cuốc đất, trồng rau ở bên khu suối cạnh Quốc Lộ 1, hoặc ở bên phía đường rầy xe lửa, ngoài ra cũng vẫn những công việc lặt vặt không tên bên trong doanh trại…

Tháng 4/1978, có một số nhỏ anh em ở cả 5 K có tên trong danh sách chuẩn bị cho về, làm cho không khí trại cũng bớt nặng nề và hy vọng hơn. Tuy nhiên, sau cuộc đổi tiền vào đầu tháng 5 năm ấy đã làm cho số anh em này thất vọng vì không thấy trại nhắc đến nữa, có nghĩa là không được về. Lúc này tin từ bên ngoài do các anh em được gia đình thăm nuôi cho biết về trận đánh tư sản tàn khốc ở miền Nam, cộng thêm với cuộc đổi tiền bóc lột đã khiến cho dân chúng vô cùng bất mãn. Ngoài ra, cũng có những tin về phong trào vượt biên, vượt biển đang lên cao, và nhất là tình hình căng thẳng giữa Trung Cộng và Việt Cộng đang ở mức cao độ vì việc quân CSVN tấn công sang Campuchia…

Đến tháng 10 năm ấy, bất ngờ có những biến động xáo trộn trong các trại, một số anh em ở các trại tù khác như Long Giao, Hóc Môn… được đưa về chia ra cho các K, đồng thời có những yếu tố cho thấy sự chuẩn bị của một cuộc bàn giao giữa lực lượng bộ đội đang coi tù và lực lượng công an.

Một buổi sáng trong tháng 10, tất cả anh em tù ở các K được lệnh tập họp với đầy đủ đồ đạc cá nhân. Lúc ấy chúng tôi đang ở K3, một số lớn các anh em sĩ quan trẻ nơi đây được lệnh chuyển sang K4, trong khi có những anh em ở các K khác lại chuyển sang K3, đây phải chăng là một sự sắp xếp và xáo trộn tù nhân trước khi bàn giao?.

Về nơi ở mới, cũng anh em tù gặp nhau cả, nên cũ mới không là vấn đề. Cuộc bàn giao cho công an diễn ra nhanh chóng, trước khi bọn “bò xanh” rút khỏi nơi đây. Những ngày mới chân ướt chân ráo đến nhận trại tù, đám “bò vàng” còn đang lo sổ sách, quản lý người và sắp xếp sinh hoạt cho anh em tù và cả bọn chúng nữa, nên vào buổi giao thời này hầu như chúng tôi không phải làm lao động nhiều cho lắm, chỉ lo tưới những khu trồng rau đã canh tác cho khỏi héo, và suốt ngày đa số chỉ lòng vòng trong trại tán gẫu và lo chuyện cơm nước mà thôi. Đây được xem  là thời gian nghỉ ngơi vô tiền khoáng hậu, tha hồ ai muốn làm gì thì làm mà không bị canh chừng, dòm ngó…

Vị trí của K4 nằm ở phía sau trại, đâu lưng với tất cả các K khác, nếu đi từ cổng chính vào thì sẽ thấy K5 và K1 đầu tiên, theo con đường chính dẫn vào tiếp đến là K2, K3, rồi đến K30 với bệnh xá nằm phía cuối và vòng sang phía sau là K4, chạy dài cho đến giáp sau lưng của K5, ngay sát hàng rào kẽm gai với con đường của lính tuần canh. Vì vị thế đặc biệt này, anh em tù K4 có thể liên lạc qua hàng rào với tất cả các K trong trại, anh em các trại khác muốn liên lạc với K nào thì cũng phải qua K4 trước, những ngày công an mới bàn giao cho đến sau biến cố Noel, anh em K4 đều có thể chui rào dễ dàng qua các K bằng cách vén rào kẽm gai thành những đường đi qua, cho nên thời điểm này rất vui vì anh em được gặp mặt và “đoàn tụ” với bạn bè thoải mái…

Hội trường K4 những ngày này là nơi để anh em chiến hữu từ các K khác sang gặp bạn bè, các “quân binh chủng” họp mặt, ngày nào cũng có ít nhất một cuộc “họp binh chủng” một cách công khai ở K4, từ BĐQ, TQLC, ND, Biệt Kích, Pháo Binh,Thiết Giáp, Sư Đoàn… Hầu như buổi họp binh chủng nào cũng đều có những băng-rôn vẽ huy hiệu của binh chủng đó một cách trịnh trọng và treo công khai trên hội trường, cùng với những bữa “liên hoan” binh chủng có thể là chè, cháo, nước trà, bánh kẹo… tùy khả năng, cho nên không khí rất là vui. Hội trường K4 cũng là nơi để cho anh em tụ tập nghe thuyết trình về thời sự, chính trị với nhiều diễn giả khác nhau, như Dương Cự, Sáu Hồ Hởi, Trịnh Xuân Rĩnh… và nhiều diễn giả khác nữa. Nói chung, cứ mỗi buổi sáng, anh em tù lên hội trường thì lại được biết nhiều tin tức, gặp nhiều bạn bè khắp nơi và nhiều cuộc vui như chưa từng có trong tù… Hội trường K4 nằm ở vị trí rất thuận lợi, từ lối vào của K đi xuyên qua 12 lán của các đội 1, 2 và 3 rồi mới đến hội trường cũng ngay sát cạnh nhà 11 và 12, kế đến là sân đánh bóng chuyền rồi mới đến các lán của đội 4 nằm sát với hàng rào K5, hàng ngày ở sân bóng chuyền đều có anh em chơi, cho nên các hoạt động xảy ra trong hội trường ít khi bị để ý.

Được biết thời gian này, hầu như  K nào trong 5 K cũng đều tự ý thành lập trong kín đáo một “Ủy Ban Bảo Vệ Danh Dự Sĩ Quan QL/VNCH” (tạm viết tắt là UBBVDDSQ), nhằm nhắc nhở cho anh em về vị thế và danh dự của sĩ quan, trong đó cũng có một “Ban Hành Động” để hỗ trợ cho công tác nói trên, ngoài ra còn có những hoạt động khác như ra thông cáo, bản tin… được phổ biến hàng ngày, anh em cũng mở một phong trào giúp đỡ những anh em khó khăn không được thăm nuôi…. Chiến dịch “chấn chỉnh” anh em cũng đã được cả 5K đồng loạt thực hiện qua các vụ “dằn mặt” số anh em trót dại làm “tình báo” cho trại trong thời gian “bò xanh” quản lý, tuy nhiên, sau khi “chấn chỉnh” một anh em nào thì UBBVDDSQ cũng có người lo cho anh em đó thuốc men và thực phẩm để có cơ hội hồi phục.

Nói chung, tình hình trong toàn trại lúc ấy được xem là do chính anh em SQ tù tự quản,  không khí rất bình yên và vui vẻ, có thể nói đây là một kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với anh em trong trại tù Suối Máu.

Đêm Giáng Sinh 1978 ở K4

Vào khoảng 1 tuần trước ngày lễ Noel, anh Thể và một anh bạn khác ở đội 2/K4 đến gặp tôi, đang ở nhà 12, anh cho biết muốn cùng tôi bàn thảo để tổ chức một đêm Giáng Sinh cho anh em Công Giáo trong K, gồm các nghi thức tôn giáo như  lãnh bí tích hòa giải, rước mình Thánh Chúa và ca nhạc Giáng Sinh tại hội trường K4 vào 7 giờ tối 24 tháng 12. Anh Thể cho biết đã liên lạc với LM Thiên ở bên K3, ngài đồng ý sẽ ban bí tích hòa giải cho anh em vào 5 giờ chiều 24-12, anh em Công giáo chỉ việc tự xét mình, ăn năn tội và hướng về phía hàng rào K3 thì sẽ được nhận lãnh bí tích hòa giải tập thể này. Anh Thể cũng đã có sẵn một số ít bánh lễ do anh và vài anh em khác nhờ người nhà khéo léo giấu đưa vào khi thăm nuôi, nên cũng sẽ gửi qua cho các cha Thông, cha Thiên ở K3 truyền phép trước, sau đó sẽ cho anh em nhận lãnh vào đêm Noel.

Chúng tôi phân chia công tác, về nghi thức thì do anh Thể trách nhiệm, còn về thánh ca thì tôi nhận phụ trách, may mắn là chúng tôi có được anh Lại Quốc Hùng, ca trưởng Ca đoàn Trùng Dương của Sinh viên Công Giáo Sài Gòn trước đây, anh giúp phối hợp cho phần tập dượt hợp ca hàng ngày ở sau hội trường. Việc tổ chức đêm Noel này hoàn toàn mang tính chất tôn giáo, để anh em có thể được tham dự một đêm Giáng Sinh đầu tiên đặc biệt trong tù sau 3 năm bị CS canh chừng và cấm đoán tuyệt đối.

Về phần an ninh và báo động, chúng tôi cũng đã phối hợp với UBBVDDSQ, các anh em bên Ban Hành động, và được sự ủng hộ và yểm trợ tối đa.

Bảy giờ tối 24-12, nghi thức mừng Chúa Giáng Sinh được cử hành ở căn phòng phía sau hội trường K4, căn phòng nhỏ thông với đầu hội trường, tiếp giáp với hàng rào của K2. Số anh em Công Giáo đến dự đông đảo và cũng có nhiều anh em các tôn giáo khác cũng tham dự. Một chiếc bàn nhỏ có trải khăn, đặt “Bánh Thánh” bên trong một hộp nhỏ, có thắp nến do anh em tự chế. Trên tường có treo một vài tranh vẽ về Giáng Sinh, đặc biệt cũng có một hang đá nhỏ bằng giấy, tượng cũng bằng giấy cứng được đặt ở giữa phòng… Nghi thức được bắt đầu bằng phần “phụng vụ lời Chúa” do anh Thể đọc Tin Mừng và vài lời chia sẻ (anh Thể trước kia từng ở Dòng Tu nên rất rành rẽ về việc này). Tiếp đến là nghi thức “rước lễ”, vì số bánh Thánh không nhiều nên phải phân nhỏ ra để đủ cho mọi người, anh em Công Giáo rước mình Thánh Chúa rất sốt sắng và cảm động. Xen kẽ và sau cùng là phần hát Thánh ca, với nhiều bài hát Noel quen thuộc: Hang Bê-Lem, Hội Nhạc Thiên Quốc, Cao Cung Lên, Đêm Thánh, Jingle Bell… được anh em hợp ca rất hòa nhịp và sốt sắng. Khoảng hơn 8 giờ, buổi lễ kết thúc tốt đẹp, anh em giải tán về lán của mình…

Được biết ở các K khác, cũng có những tổ chức lễ Giáng Sinh tùy theo tình hình và cách tổ chức của mỗi K, nói chung mọi người đều có một đêm lễ Noel vui vẻ và thoải mái nhất từ trước đến giờ.

Khoảng gần nửa đêm, khi anh em tù K4 chúng tôi còn đang người thức kẻ ngủ, có những nhóm anh em còn đang ngồi uống trà nói chuyện, hoặc ăn “reveillon” kiểu tù, bầu trời đêm Noel vắng lặng, đâu đó nghe tiếng chuông văng vẳng từ các nhà thờ ở Hố Nai vọng lại, gây cho anh em nhiều suy nghĩ và nhất là nhớ nhà… Bỗng nghe tiếng xôn xao từ khắp các lán, tin cho biết bên K1 tổ chức đêm Giáng Sinh đã bị bọn công an xông vào đàn áp, bắt dẫn đi 3 người, đó là các anh Rĩnh, Hoàng và Bé. Tin được báo cho các K khác hỗ trợ, ngay lập tức tất cả K4 không ai bảo ai đều lên hội trường, mang theo ca cóng, muỗng, thùng và các thứ gì có thể gõ được. Hội trường vào lúc này đầy ắp người và tối đen, tất cả đều vừa gõ vừa la, rồi bất thần anh em cùng nhau hát bài Đêm Đông, một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hải Linh mà có lẽ ai cũng từng biết, bài hát cứ được tiếp tục như vậy, điệp khúc “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” được lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần, rồi đến bài “Việt Nam, Việt Nam” của Nhạc sĩ Phạm Duy…

Phía ngoài con đường ngay sát hội trường, bọn công an dày dặc với súng ống chạy rầm rập đối phó với tình huống quá bất ngờ, có những tiếng hô từ bên phía công an yêu cầu anh em giải tán và những tiếng đạn lên nòng, tiếng súng bắn chỉ thiên hướng vào trại, nhưng cũng không làm anh em mất tinh thần, vẫn tiếp tục gây tiếng động và hát vang bài ca Giáng sinh… Một anh tên Hải (anh em quen gọi là “Hải Vẩu”) ở nhà 11 bị trúng miểng tôn vào cánh tay do súng bắn từ bên ngoài vào mái tôn của hội trường, anh được anh em nhanh chóng băng bó vết thương và đưa về nhà nằm nghỉ, may mắn vết thương cũng không đến nỗi, chỉ bị trầy sướt và chảy máu mà thôi.

Lúc ấy, toàn trại Suối Máu đều chìm trong bóng tối, cùng lúc anh em sĩ quan tù  ở tất cả  các K khoảng trên 4,000 người từ K1 cho đến K5 đều tụ tập trên hội trường của mình, cùng hát vang bài thánh ca Đêm Đông để yểm trợ cho cuộc đấu tranh của anh em K1, khiến cho âm thanh náo động cả một vùng, bài thánh ca vang dậy trong khí thế đấu tranh trở nên như một bi hùng ca. Trong đêm tối, chỉ nghe tiếng hát vang vang, hùng hồn của từng trại một, hết K này đến K kia. Bên ngoài trại tiếng của bọn công an cai tù lao xao, hốt hoảng, lo bố trí vị trí súng cộng đồng xung quanh trại… 

Thỉnh thoảng xen kẽ bài đồng ca vĩ đại ấy, là tiếng nói của đại diện UBBVDDSQ thông báo cập nhật về tình hình, cũng như thông báo đã cùng với các K khác đưa ra yêu sách là nếu không thả 3 tù nhân K1, ngày mai các trại sẽ từ chối đi lao động, không nhận thức ăn do trại cấp… Đâu đó vẳng lại tiếng xích sắt của những chiếc xe thiết giáp nghiến trên đường, phía ngoài trại, chuẩn bị cho một cuộc đàn áp, mà nếu xảy ra thì không biết hậu quả sẽ đi đến đâu, trong khi anh em tù trong các K cũng sẵn sàng cho một tình huống xấu nhất…

Khoảng hơn 1 giờ khuya, trong khi anh em vẫn tiếp tục khí thế ca hát phản kháng, thì nhận được tin công an đã trả tự do cho 3 anh ở K1 về với anh em. Cuộc phản kháng chấm dứt trong thắng lợi, tất cả anh em tự giải tán về nhà nghỉ, trong khi công an vẫn tiếp tục tăng cường bên ngoài hàng rào…

Sáng hôm sau, buổi điểm danh thường lệ có thêm nhiều công an hơn ngày thường với súng ống lăm lăm, vẻ mặt tức tối. Những tên công an đi từng hàng nhìn lăm lăm vào từng người một như tìm kiếm ai đó, nhưng thực ra chỉ là giương oai đe dọa… Buổi trưa hôm ấy anh em thấy nhiều gương mặt công an lạ xuất hiện ở ngoài trại, phía bên ban chỉ huy, sau đó được biết là các chuyên viên điều tra từ Chí Hòa được phái đến Suối Máu, chuẩn bị cho chuỗi ngày dài sau này: biệt giam, bắt bớ, đánh đập, điều chuyển nhiều anh em đi các nơi khác….

 Buổi lễ chào Quốc Kỳ đầu năm 1979

Trong không khí hừng hực đấu tranh … và đã thắng lợi qua cuộc phản kháng đêm Giáng Sinh, UBBVDDSQ của K4 quyết định tổ chức một buổi chào Quốc Kỳ đầu năm. Đây là một việc làm đúng đắn và cần thiết để nêu cao chính nghĩa, nhưng cũng vô cùng nguy hiểm trong một trại tù cộng sản. Buổi chào Quốc Kỳ đầu năm và đêm văn nghệ “Hát Cho Quê Hương Và Thân Phận” được tổ chức vào 7 giờ chiều ngày 1 tháng Giêng, 1979, đúng 1 tuần sau ngày Noel nổi dậy trước đó, cũng tại căn phòng phía sau hội trường, vì nơi đây tương đối kín đáo và đám  công an tuần tiễu ít chú ý đến.

Việc chuẩn bị cho buổi lễ chào quốc kỳ được bố trí rất chu đáo, một lá Quốc Kỳ VNCH khổ vừa khoảng 6 tấc bề dài, 4 tấc bề ngang  đã được nhóm anh em trách nhiệm tìm kiếm vải và may rất đẹp, lá cờ được treo trịnh trọng trong phòng, bên dưới là bàn thờ tổ quốc,  trên các bức tường khác là một vài bức vẽ, biểu ngữ cũng như khẩu hiệu viết tay. Cá nhân tôi phụ trách phần soạn chương trình, tìm bài hát và tập cho các anh em ca sĩ… Anh em các lán được thông báo về buổi lễ từ hôm trước, đến giờ đã tụ tập khá đông, nhiều người phải đứng bên ngoài xung quanh căn phòng và phía sau vì căn phòng không đủ chỗ. Điểm đặc biệt là tất cả 16 anh nhà trưởng đều được mời đến dự, các anh đã đến đầy đủ tại nơi cử hành từ trước giờ khai mạc. Về phần an ninh và báo động, nhóm anh em trong Ban Hành Động và một số khác đã bố trí kỹ lưỡng, từ các trạm báo động cũng như an ninh nội bộ, kể cả việc nhanh chóng thủ tiêu các “tang vật” nếu bị công an phát giác và tấn công vào trại.

Buổi chào Quốc Kỳ đầu năm diễn ra trong không khí trang nghiêm và vô cùng cảm động, hàng trăm anh em tù tụ tập ở phòng trong và ở chung quanh cũng như phía sau nhà hậu trường cùng đứng nghiêm, hát vang Quốc Ca VNCH sau nhiều năm không có cơ hội được đứng và hát dưới lá cờ tổ quốc, người điều khiển trịnh trọng dõng dạc xướng khẩu hiệu “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm” sau khi chấm dứt Quốc Ca, tiếp đến là lễ truy điệu chiến sĩ trận vong. Các anh em phụ trách phần nghi lễ, xướng ngôn đã làm rất xuất sắc và không kém chuyên nghiệp trong buổi lễ nói trên.

Ngay sau phần chào Quốc Kỳ, là chương trình văn nghệ “bỏ túi” mang chủ đề “Hát Cho Quê Hương Và Thân Phận” đã được anh em cùng hát cho nhau nghe, anh em chơi  đàn trong tù thì không hiếm, các ca sĩ cũng nhiều, từ Nguyễn Sĩ Trí (Trí “Dzảnh”) cho đến Đức “Cống” và nhiều anh em khác… Những bản tù ca do chính anh em sáng tác được đưa ra hát trong buổi này đã đem đến cho anh em nhiều khắc khoải khi nghĩ đến tương lai tổ quốc, nỗi nhớ nhung thời còn cầm súng chiến đấu, cùng với những cảm nhận về phận tù đày…

Đây là lần đầu tiên và có lẽ là duy nhất có một buổi chào Quốc Kỳ ngay trong lòng nhà tù cộng sản. Được biết, lá quốc kỳ sau buổi lễ đã được nhóm của anh Đại úy Sanh cất giữ rất cẩn thận, khi được thả về, anh đã may lá cờ này vào đáy chiếc ba lô của anh và đưa về nhà an toàn, sau này khi gặp lại ở Sài Gòn, anh Sanh cho biết vẫn còn giữ lá cờ lịch sử nói trên để làm kỷ niệm.

Từ sau Đêm Giáng Sinh “thần thánh” ấy, không mấy ngày ở K4 lại có anh em bị gọi tên và dẫn ra “làm việc” với trại, có những anh bị nhốt lại tại conex không thấy trở về, có người khăn gói đi luôn đến một nơi nào đó như Chí Hòa, Phan Đăng Lưu… kết quả của những nỗ lực điều tra của công an nhằm tìm cho ra những người tổ chức chống đối trong đêm Noel “thần thánh” vừa qua. Ban đêm thỉnh thoảng lại nghe những tiếng động rầm rập và những tiếng la hét từ phía ngoài trại vọng vào, ai cũng biết đó là những trận đòn thù đang đổ xuống những anh em đang bị biệt giam…

Một buổi xế chiều gần Tết nguyên đán năm ấy, tôi đang ở trong lán 12 “đấu láo” với vài anh em nằm gần bên, thình lình một cán bộ công an dẫn theo một công an khác đeo súng dài, đến hỏi anh nhà trưởng của tôi là anh Hoàng để gọi tôi ra gặp anh ta, viên công an này ai cũng biết hắn là phụ tá của trại trưởng, tay cầm một bao thư nhỏ, y nói với tôi là: “anh có người nhà thăm nuôi” và bảo đi theo anh ta. Tôi thừa hiểu là mình đã bị bắt.

Ra đến ngoài trại, tôi được đưa vào phòng làm việc của trại trưởng tên Tư “Nhé”, sở dĩ y có tên này vì tên thật của hắn là Tư, nhưng có cái tật  là mỗi khi nói với người khác thì bao giờ cũng thêm một chữ “nhé” sau cùng, anh em liền đặt tên hắn là Tư “nhé”. Tên này người miền Bắc, cao và gầy, lúc nào cũng đeo kiếng đen và nói năng rất nhỏ nhẹ với anh em tù nhưng bên trong thì vô cùng thâm hiểm.

Tư “nhé” hỏi tôi: Đêm Noel anh ở đâu?

Tôi đáp: Ở trong trại.

– Có lên hội trường không?

– Có.

– Tại sao không ngủ mà lên đó?

– Vì tất cả anh em đều lên, tôi cũng thế.

– Anh là người phụ trách “tôn giáo vụ” trong trại phải không?

– Thưa… không.

Tư nhé lườm tôi và nói: Vậy anh vào thùng sắt nghỉ để suy nghĩ,… nhé.

Và kể từ giờ phút đó, tôi được đưa vào thùng conex, khởi đầu cho những ngày biệt giam…

Nguyễn Văn Hóa

(trích Hồi Ký: “Những năm tháng không thể nào quên”.

Hai sự kiện xảy ra tại K4 trại Suối Máu theo hồi ức của nhà báo Nguyễn Văn Hóa, phải được coi là lịch sử của những sĩ quan trong QLVNCH đang bị CS giam giữ từ sau ngày 30-04-1975. Họ mất tự do nên họ đã phản đối, bằng hành động biểu hiện niềm tin tôn giáo vào một đêm Giáng Sinh và biểu hiện quyền chính trị bằng cách chào Quốc kỳ và đồng ca Quốc ca của VNCH. Đấy là những hành động tất nhiên khi họ mất nhân quyền.

Khi những người tù này được trả về, họ đã tiếp tục tranh đấu bằng cách hồi tưởng về thời gian họ ở trong tù, nhất là tổ chức những cuộc gặp mặt nhau khi họ đến được bầu trời tự do. Họ vẫn chào Quốc kỳ và hát Quốc ca của VNCH. Lúc này làm như thế, họ ý thức về những thương đau mà người còn ở lại, toàn thể đồng bào, vẫn đang gánh chịu trong cuộc sống. Họ không quên đất nước, quê hương đau khổ.

Chúng tôi đọc được trên Internet một bài báo đã viết về hai đêm tranh đấu tại K4 trại Suối Máu mà nhà báo Nguyễn Văn Hóa đã viết. Bài báo này là của Ngô Thụy Chương, (viết vào Mùa Xuân 2012) tác giả cũng nhắc đến người tù ngày ấy là Nguyễn Văn Hóa. Chúng tôi chỉ trích vài đoạn liên quan đến nhân vật này, một vài điều nhà báo Nguyễn Văn Hóa, vì bẩm sinh khiêm nhường, đã không muốn nói về mình. Nhưng chiến hữu của ông thì thấy vậy là không công bằng, nên đã tỏ bày.

Về việc đêm Giáng Sinh năm 1978, Ngô Thụy Chương viết:

Tất cà năm trại đồng ý sẽ tổ chức mừng Giáng Sinh. Hai vị linh mục có mặt tại trại K3 nhận trách nhiệm làm lễ ngoài trời cho anh em công giáo cả năm trại. Sáu giờ chiều ngày 24 tháng 12, không ai bảo ai, mọi người không phân biệt tôn giáo cùng tiến về sát K3 tham dự thánh lễ…

Tại  K4 bỗng nhiên thiếu úy Nguyễn văn Hóa, một cựu ca trưởng của một ca đoàn ở Sài gòn tiến lên phía trước và bắt nhịp bản Đêm Đông. Trong đêm tối mênh mông, gần một ngàn tiếng ca cùng đồng loạt vang lên:

 “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa…”

Lời hát vang lên trong đêm tối, vang vọng đến các trại bạn chung quanh, rồi bỗng nhiên không ai bảo ai cả năm trại tù Suối Máu với gần bốn ngàn tù cải tạo đã cùng đồng ca nhạc bản Đêm Đông.

Để giữ vững tinh thần anh em, ca trưởng Nguyễn văn Hóa lại phất tay bắt nhịp bản Việt Nam Việt Nam, tiếp theo là bản Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ:

“Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn,
 đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Các đêm văn nghệ với con chim đầu đàn Nguyển văn Hóa lúc nào cũng thu hút cả ngàn khán giả.

Nhận xét của chúng tôi

Chúng tôi thật sự cảm động khi đọc những trang hồi ức trong hai bài trên đây của Nguyễn Văn Hóa, một người anh em nghĩa thiết với chúng tôi. Xin hãy đặt những trang sách trên đây, rút ra từ cuốn Hồi ký “Những năm tháng không thể nào quên” của tác giả Nguyễn Văn Hóa, vào bối cảnh của những năm đầu sau ngày 30-04-1975, đến nay 2025, đã là 50 năm, để hiểu thấu nỗi đắng cay, nhục nhằn, đói khát, bị đối xử như một kẻ thù, không cùng chủng tộc, không cùng đồng loại và không cùng lịch sử hơn bốn ngàn năm, trong khi những thành phần bị đọa đày. như anh Hóa đích thực họ là những con người mang trong mình đầy đủ phẩm chất của một nhân vị, có phong cách, có tri thức, có một cuộc sống nhân văn, như nhân bản, ý thức về  tự do, danh dự, trách nhiệm, bình đẳng, công bình, nhân ái. Những điều này thể hiện trong cả hai bài hồi ức trên đây. Thế nhưng, khi người Cộng sản đến với những võ khí giết chết con người thì tất cả những điều cao quý này bị “giải phóng”, nghĩa là bị tước bỏ, biến nó như những rác rưởi! Vì vậy, chính những yếu tố này đã khiến những “tù nhân” của lòng đố kỵ, phân biệt, thô lỗ, lạc hậu và man rợ, phải lên tiếng phản kháng “tình-trạng-súc-vật-hóa” này. Thật hạnh phúc cho một quốc gia, một đất nước, một xã hội có được những thành phần mà một thời họ đã là những con người đã đóng góp trí tuệ của mình để xây dựng một miền Nam Việt Nam, một thể chế VNCH một thời phồn vinh, một thời người dân được sống trong một không gian thân tình, một môi trường sống nhân bản, tự do, quyền tư hữu được bảo vệ và tôn trọng như các quyền tự do khác, kể cả biểu tình, đình công, bãi khóa, bãi thị, quyền tự do báo chí, ngôn luận, quyền lập hội, cho dù người Cộng sản Hà Nội không ngừng phá hoại và lợi dụng những quyền này cho ý đồ đen tối của mình.

Cuối bài hồi ức thứ hai, tác giả ghi lại lời nói cuối cùng của một công an nói với anh: “Anh vào thùng sắt nghỉ…”, tức bị cùm trong conex, vì chúng biết anh Nguyễn Văn Hóa cũng là một trong những thành tố của các vụ phản kháng tại K4 Suối Máu, như tổ chức Đêm lễ Giáng Sinh năm 1978, có hát thánh ca Đêm Đông và có Linh mục cho rước lễ và buổi lễ Chào Quốc kỳ, hát Quốc ca của VNCH năm 1979. Những sự kiện trong chuỗi ngày bị giam cầm của tác giả và thân hữu đồng hành của anh ngày ấy, cách nay đã 46, 47 năm. Và ngày hôm nay, quý độc giả và chúng tôi được đọc lại những lời “không bao giờ quên” này, thì âu cũng là một điều kỳ diệu đối với tác giả!

Ngày hôm nay, đất nước đã bước sang một chu kỳ mới, sau 50 năm đảng CSVN cai trị miền Nam Việt Nam và 71 năm đối với miền Bắc, kể từ năm 1954, chúng tôi thiết nghĩ, người CSVN đã hưởng được một thời gian đủ dài và với những yếu tố tích cực đã có, như các chính sách trong chính thể VNCH trước kia, như về văn hóa, giáo dục, văn học nghệ thuật, báo chí, y tế…, trong khi họ chỉ có một thời gian gọi được là tương đối ngắn, tức từ năm 1954-1975: 21 năm! Thế mà họ (VNCH) đã xây dựng được một miền đất đang từ trong tay của các phe phái có võ trang, trở thành một Quốc gia, một đất nước phồn vinh, đáng tự hào là dòng giống Lạc Việt trong lịch sử dân tộc.

Trở lại với nhà báo Nguyễn Văn Hóa, chúng tôi cũng được biết mấy sự kiện xảy ra tại K4 trại giam ở Suối Máu, đã là những điều ghi khắc sâu trong tâm trí những thành phần hiện diện trong những sự việc ấy. Khi trở lại với tự do và sang sống tại Hoa Kỳ, họ vẫn có những buổi gặp gỡ nhau và tổ chức lại những gì họ đã can đảm làm tại K4 Suối Máu, khi họ còn bị giam cầm tại đây .Thế nhưng, tất cả, hiện giờ họ và những người Việt tị nạn sống tại nhiều nước trên thế giới, hơn 2 triệu người, đã và đang là “những khúc ruột” thân yêu của dân tộc, đất nước, mỗi năm họ đã gửi cả hơn 10 tỉ đô la Mỹ, có năm hơn 20 tỉ về VN, giúp đỡ người thân của họ. Tất nhiên, nhà nước Việt Nam hiện tại mặc nhiên cũng được thừa hưởng số tiền này!

Thư của Khải Triều gửi anh Nguyễn Văn Hóa, năm 2004

Sài Gòn, ngày 24-2-2004

V/v Sau ngày về quê “ăn Tết”

Anh Hóa thân mến,

Tôi về Bắc ăn Tết trở lại Sài Gòn đã được mấy tuần lễ nay rồi mà mãi đến hôm nay mới viết thư sang cho anh, một lẽ là vì năm nay ngoài Bắc có rét đậm, 9,10-15 độ, mà mình thì đã 50 năm tròn xa cách, nên rất thèm được trở về “ăn Tết” tại mảnh đát mình đã gửi núm rốn đầu đời. Do đó mà bằng mọi giá tôi phải trở về vì nếu không thì hết ý nghĩa, mặc dù năm 2004 không về thì năm sau hoặc năm sau nữa theo thường tình thì có khác gì đâu. Nhưng con số 2004 không quay lại nữa. Chỉ có con số này nó mới làm tròn 50 năm và mang lại nhiều cảm xúc trong đời của kẻ viễn xứ, phải không anh? Đó là con số 1954-2004.

            Cho nên, lần này về, ngay chiều Mồng 2 Tết giữa trời rét đậm, tôi đã lên ga Hà Nội mua vé cho sự trở lại Sài Gòn, vì nghe nói nhiều người Bắc về ăn Tết đã phải mua vé từ nhiều ngày trước nghỉ Tết. Nhưng rất may cho tôi là nhà ga vẫn làm việc, mặc dù nhân viên và khách mua vé rất ít người. Mua vé ngày này có cao hơn ngày thường đến 30.000đ. Mua vé xong, tôi đi thằng vào Thị xã Hà Đông, lát sau theo con đường về Văn Điển dài 8km để theo QL số 1 trở về làng. Còn từ Hà Nội vào Thị xã Hà Đông thì 11km.

            50 năm nay mới gặp cái rét đậm, nhưng từ nhà lên Hà Nội vào Hà Đông, rẽ vào làng Hà Hồi, quê của các linh mục nổi danh trước đây và hiện nay: Lê Trung Thịnh, Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Khảm… Và trước hết, linh mục nghĩa phụ của tôi, những năm sau cuối đời mục vụ thì ở Hà Hồi rồi tạ thế tại đây. Nên an táng ngài tại nghĩa trang Hà Hồi. Ở đây còn có một nhà dòng MTG, tôi có 2 cháu mới vào nên sau Tết tôi tiễn cháu trở lại Dòng.

            Đó là mấy địa danh tôi đi đi lại lại hết thảy 6 lần giữa trời rét có mưa bụi. Thật là tuyệt vời. Cái rét thấm rất sâu vào hồn tôi… Trở lại Sài Gòn, gặp ngày Tiết tháng 2 khó chịu, ngày thì nóng, chiều xuống là lạnh rất khó chịu. Lại gặp ngay 3 nhà kế cận một lượt phá nhà cũ xây nhà lầu, họ thi nhau đổ bụi xuống con hẻm chưa được 2 mét; Khiến tuổi già ngộp thở luôn. Sài Gòn bây giờ khiếp quá! Cảm thấy già đi nhiều rồi. Vậy mà điều tôi muốn làm từ năm 2000 đến nay mới chỉ có bước đầu. Không biết với cái dấu ấn của những ngày Tết ở quê nhà có là sự thúc bách để năm 2004 này tôi hoàn thành không? Hiện nay ngoài việc ở nhà thờ, bệnh nhân ở nhà và ở các bệnh viện, tôi còn có công tác của Legio Mariae nữa. Vì vậy tôi rất mong anh thông cảm việc thư từ với anh có hơi thưa thớt. Và mong rất nhiều ở lời cầu nguyện của anh.

            Tôi có người bạn lâu năm ở Canada cũng là một nhà thơ có nhiều cảm xúc về nhiều mặt trong cuộc sống, tôi nhờ anh ấy chuyển thư này cho anh vì người con gái út của anh qua Canada vào đầu tháng 3, để thư này kịp tới tay anh vào dịp lễ Bổn mạng của anh, 19.3. Xin thân chúc anh luôn được mạnh khỏe, bình an và dồi dào ân sủng của Chúa, nhờ lời Thánh Giuse chuyển cầu cùng mẹ Maria.

            Hội Legio Mariae chúng tôi cũng đang chuẩn bị cho ngày Đại hội Tổng Hợp hằng năm trên 170 quốc gia có mặt của Legio với trên 3 triệu Hội Viên Hoạt động. Đó gọi là ngày ACIES, nhằm ngày Lễ Bổn Mạng 25.3 Lễ Truyền Tin.

            Ngày 27 tháng 12-2003, nhằm Lễ Thánh Gioan Tông Đồ, tôi có viết Thiệp kèm thư ngắn chúc Tết 2004 tới anh, không biết anh có nhận được chưa? Và đã lâu không được biết công việc của anh thế nào, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ rằng anh vẫn bình thường, việc cũ vẫn điều hòa, phải không anh? Mong rằng đó là điều đúng. Nếu có gì thay đổi thì tôi chắc đó là điều tốt cho anh.

            Một lần nữa xin thân chúc anh luôn được bình an trong tâm hồn, công việc tốt đẹp.

Thân ái

Tuy.

Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search