Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: ĐÊM TÀN NGUYỆT TẬN

Người Xưa – Tranh: THANH CHÂU

Một ngày như mọi bữa, sáng tinh mơ, tay cà phê, tay thuốc lá. Ở góc vườn, lão ngồi trong bóng tối đợi nắng lên. Cũng ở chỗ ngồi ấy, tay điếu thuốc, tay ly rượu, lão đợi bóng chiều chụp xuống lão. Là xong một ngày. Và đợi…

        Lão đợi ngày nào đó khăn gói gió đưa một chuyến đi xa. Bởi đã dăm lần bạn già giục giã, lão cứ khất lần mãi. Bèn nghĩ vụng, nhè cái tuổi chín tầng mây mười tầng trời này phải đi thăm bạn vì bạn lão càng ngày càng rơi rụng dần. Gặp bạn già để bù khú là một nhẽ, nhẽ khác bạn ở tận miền bắc lạnh lẽo tỉ tê mới thửa được con chim. Lão ngớ ra, ai lại làm bạn với cái giống chỉ…“gù gù” nhau rồi đẻ như…cu đất.

       Lóng ngóng đến bạn già, lão chẳng hơn gì, đất khách quê người, như nhiều cụ không có thì giờ lẩm cẩm cho quá khứ, họ cất kỹ trong đáy rương làm kỷ niệm. Riêng lão lọm khọm chống gậy đi tìm dĩ vãng thấp thóang qua…hồ cá tra. Khi gặp lại, lão sẽ ủ ê bạn già lục lọi qua trí nhớ hẻo về cái hồ cá có cái cầu gỗ cheo leo ấy.

       Thêm chuyện nữa là…

       Là để lấp đầy đường dài, lão ghé tiệm sách và vồ được quyển O chuột. Nhờ quyển sách này, lão lọ mọ với khỏen ký ức ngày nào gắn bó không rời qua ông Tô Hòai. Vì vậy ông ấy cùng lão leo lên xe búyt hãng “Con chó ngao”… Đọc vài trang, lão cảm thấy hụt hẫng, vuột mất một cái gì chẳng bao giờ tìm lại được. Số là từ mụ gà mái, gã mèo mướp, chàng ngỗng đực chả con nào sâu đậm với lão. Ngược dòng thời gian, ngẫm nguội chỉ có…chuột gắn bó với lão!.

       Gấp trang giấy lại, lão xa vắng…

       Mới đây thôi, năm thỉnh mười thỏang ngủ dậy lão bị…chuột rút, đau đầu gối, lẽ dĩ nhiên đi không được là…cái cẳng. Nằm bẹp trên giường, nhễu nhão cả hai, ba ngày. Khốn khổ nhất là đi đại tiện: Đứng lên, ngồi xuống phải từ tốn và nghiêm túc, phải vặn vẹo cái tay, cái chân cho đúng thế. Đến phần…hậu sự,ngoặt cái tay ra đằng sau để…chùi đít cũng không xong, thế mới phiền. Phiền hơn nữa, ho khan cũng nhói lên một cái thốn người, thế mới…đau. Hỏi bạn quan đốc quân y, quan dẫn giải rất chuyên ngành: con người ta có bao nhiêu đốt xương sống, bao nhiêu dây thần kinh là bấy nhiêu trái mìn nổ chậm và từng ấy dây điện mìn claymore. Quan trấn an lão, hãy an nhiên tự tại sống với người bạn đời chung tình nhất lúc này là…bệnh già.

       Lão nằm chết bầm, chết dí đúng mười hai ngày, người cứ rói ra: Sáng ngủ dậy thì lạy Chúa tôi, lão như con gà chọi bị bệnh giây, cái cổ cứ đuỗn đuồn đuột ra như gà mắc tóc. Xoay đầu qua bên trái, cái bả vai buốt trẹo xương sườn, xoay qua bên phải, năm đầu ngón tay giật giật như bị động kinh. Tay không làm nhưng hàm phải nhai: Ngồi ăn, cái cổ cứng ngắc như sinh viên sĩ quan võ bị Đà Lạt ở thế nghiêm trình diện niên trưởng.Tay trái cầm bát, tay phải cầm đũa, khủy tay song song với mặt bàn, cùi chỏ giữ góc thước thợ 45 độ, lưng thẳng đứng. Đưa cái bát lên, và…và cơm vào miệng, mỗi lần nuốt là nhói lên một cái, đành nuốt nhè nhẹ, mòn mỏi đợi cái nhói kế tiếp.

       Ngủ cũng dễ…thương thôi: Nằm ngay tán tàn như nằm trong…nhà Chung sự ở nghĩa trang quân đội Biên Hoà tối om om đến lạnh người. Cứ như vậy, đêm về, lão nằm trên giường nghe cóc nhái kêu òm ọp, muốn nằm sấp, nghiêng mình cũng chẳng xong.Lâu lâu lại cấn một phát nhói người, đành cắn răngthuỗn người ra đợi cái đau kéo dài như…đi vào cõi vô cùng, mãi một lúc lâu sau, lâu lắm, mới thậm thụt đi vào cõi…êm ả. Buồn tình nghĩ vu vơ, chuyến này lão vừa dẫm phải…mìn nổ chậm, vừa chạm phải dây điện…claymore, chưa…“ùynh” một quả là phúc bẩy mươi đời.

       Ngủ không được, lần mò ra ghế sa-lông đọc sách, đèn lúc nào cũng sáng trưng, vì lão sợ…ma. Thực tình ma ai chẳng sợ, chợt tỉnh giấc, có tiếng lịch kịch trong tủ đồ khô. Hay nhà có ma thật? Lắng nghe, hóa ra mấy chú chuột ngòai kia trốn mùa đông lạnh lẽo chui vào nhà lão…ngụ cư. Thế là yên chí nhớn, thăng cái đã. Khổ nỗi hai vợ chồng chuột đú đởn làm trò mèo mả gà đồng ồn ào quá sức, làm lão chập chờn mấy đêm liền. Đất sinh cỏ già sinh tật, lão lại đốc chứng mắc tật đi tiểu dắt, mỗi đêm vật lộn với cái bồn cầu ba, bốn lần là ít. Súng bắn nước thì của khôn người khó, đếm từng giọt, giật cái cần nước chảy xối xả, cuối tháng tiền nước lại nhích thêm một tí.

       Bỗng lão nổ đom đóm mắt không tin ở mắt mình…

       Đúng là giời đi vắng, thật là quá quắt lắm rồi. Giời ạ, ai đời chình ình giữa nhà hai vợ chồng chuột chẳng mời mà rủ nhau tới thăm…lão: Mụ vợ nằm ngửa tênh hênh nhìn trời. Bốn chân ôm sát sạt quả trứng gà to hơn người mụ, che cả cái bụng, chỉ lòi hai con mắt trong veo. Còn thằng chồng, mõm ngậm đuôi vợ, cong lưng vừa lùi vừa hì hục kéo. Đúng lúc lão ho khan, thằng chồng ngừng lại nghe ngóng thăm chừng. Cái mõm với mấy sợi râu rung rung, mắt nhìn lão lơ láo như thể muốn hỏi han, nhưng mặt mũi thì tỉnh queo. Còn mụ vợ vẫn nằm kềnh ra đấy, làm như không phải chuyện của ả và vẫn khư khư ôm quả trứng…của lão.

       Người và chuột ngó nhau một lát, thằng chồng lại khom người, cong đít, ngậm đuôi vợ, không kéo phăng phăng mà kéo rất ư từ tốn, như sợ mụ vợ đau lưng như…lão. Như sợ quả trứng mà lăn tòm xuống thì gã ốm đòn với ả, cái đuôi dài thò lò của nó ngoe nguẩy như đánh nhịp. Lôi được một khúc ngắn, ngừng lại để lấy sức…Thằng chồng đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước quậy quậy ra cái điều mệt quá thể, mệt hốc người ra chứ đâu có bỡn. Cái đuôi mụ vợ được nhả ra, ngoe nguẩy như thúc giục, thằng chồng như hiểu ý, nằm mọp xuống và lại hì hụp kéo tiếp…

       ***

       Khi không lão quắn đầu về cái tuổi mới nhớn. Lão ngộ ra có những chuyện nằm ngủ vùi trong tâm khảm cả chục năm. Một ngày có chất xúc tác như đôi vợ chồng chuột đây chẳng hạn. Số là vào cái tuổi gái thập tam, trai thập lục: Nhà gọi lão là…”thằng còi”. Thằng còi…còi cọc, cớm rớm như mèo đi kiết ấy. Bu còi nhiếc có ăn gan giời trứng trâu cũng chả nhớn được nên tống cổ xuống nhà bà bá nuôi báo cô vào những ngày cuối tuần. Nhờ đó thằng còi được biết món tép đồng kho tương. Từ đấy sáng chủ nhật, còi xuống trại “ri cư” Tân Chí Linh đi lễ nhà thờ, mong giữ một chỗ trên thiên đàng cho mai hậu. Sau còi vỡ ra muốn lên thiên đàng phải…ngỏm trước đã. Ai mà dại.

       Ngày cuối tuần đang chạy tóe khói tới cái hồ cá có cái cầu để…đi cầu của trại “ri cư” thì đâm sầm vào “gái thập tam” là…con bé hàng xóm. Từ đấy nó tin có Chúa ở trên trời, để rồi càng ngày càng bơi trong biển tình với mấy…con cá tra. Con bé hàng xóm ấy tên Sửu. Cô em gái Bắc Kỳ của thằng còi có thân hình như con cá trắm, da bánh mật, lông mày rậm, môi dầy cong cớn. Con gái gì như con trai, chỉ thích vật nhau với nó trên cái chõng tre, nó nhớ mòn mỏi hai đứa đè lên nhau, lăn qua lăn lại. Giường nan tre ọp ẹp, rung rung như hai con cộp cộp cái động đực kêu thao thiết “cọt…cọt…” thì…

       Thì cúc áo cái Sửu tuột ra. Nói dối phải tội, lần đầu tiên trong đời, thằng còi mới thấy thế nào là cái của nợ của cái Sửu. Nó cồm cộm cứng như mo nang, như chọc vào mắt còi, trắng như cùi bưởi. Còi lõ mắt với…“cảm giác” thế nào là nhễ nhại. Nhễ nhại như lưng còi đang lấm tấm mồ hôi vì tim đập thùng thùng như trống báo vỡ đê khi nhìn thấy trái cấm lần đầu. Còi thề, không phải thề kiểu cá trê chui ống, mà với “đức Chúa giời có ba ngôi” là: Không có chuyện tòm tem của người nhớn. Nếu có thì còi chả biết tòm tem ra sao cho phải phép. Nói thật đấy, vì cái trò ma mãnh này chỉ có cái thứ…“đĩ như đom đóm đực” là quen thói thôi, nên còi cứ…đực ra như ngỗng đực.

        Sau đấy hai đứa vẫn hồn nhiên vần nhau, như không có chuyện gì xảy ra trên cõi đời “vô ưu”, vô tội này thì cô hàng xóm Bắc Kỳ nhỏm dậy, mặt mày xanh như đít nhái. Tay run lẩy bẩy như bắt chuồn chuồn sắp về gặp ông bà, ông vải và chỉ xuống nền đất có hai con chuột ăn cắp trứng đang kéo đuôi nhau. Vợ chồng chuột đang mải mê khuân trứng về…tổ chuột, bỗng nghe tiếng gào lên như lợn bị chọc tiết, bỏ chạy,..Bỏ lại quả trứng nằm giữa nhà. Giê-su-ma lạy Chúa tôi. Chuyện chỉ có vậy! Và…không hơn.

        Xong cái tú tài nó trổ mã hơn nhưng còi vẫn còi. Một bữa, thèm ăn tép đồng kho tương, ghé trại…“ri cư” thăm bà bá nhà quê đặc và được nghe bà kể chuyện cái Sửu bỏ học ngang xương đi lấy chồng. Bà tung tẩy: “Chồng nó đóng quan một cơ đấy, mày ạ”. Vừa lúc nó nhúng nhúng cái giường tre xem còn “cọt…cọt…” nữa không, thế là bị bắt quả tang. Bà bác nhìn nó lắc đầu, chép miệng: “Nhất chặt tre nhì ve gái, tao ngỡ hồi đó mày…nàm nó trương phềnh…nên ấy chứ”. Nó cắm đầu xuống cái chiếu nghĩ sao bà bá biết…thì vừa lúc bà tung tẩy: “Nói dại chứ, gái một con trông mòn con mắt, dạo này người ngợm nó cứ nhẫy ra. Nó bấu cuống chiếu, nuốt nước bọt ừng ực.

       Bỗng không bà chửi te tái: “Mẹ cha con Sửu chết tiệt số khổ như…trâu”. Bà phẩy tay: “Gái góa rồi mày ơi, rõ ăn cám hấp”. Nó chưng hửng, ngậm ngùi cho cái tên vận vào người. Đang ủ ê…”Người đi qua đời tôi”, bà vén môi: “Lày, mày có ăn tép đồng kho tương không thì bảo”. Nào còn ăn uống gì được nữa, bà nói như hát: “Đẹp như cái tép kho tương, kho đi kho…nại khéo trương phềnh phềnh”. Vẫn chưa tha, bà cười cục cục như gà trống: “Mẹ bố mày, bà dậy khôn mà mày cứ ngu như…nợn ấy”. Ngu đâu chưa thấy, nó chỉ lau lách trong nó chút sầu chờ sầu với nỗi buồn không tên. Cùng lúc bụng dạ nó hé rạng lên một niềm vui với cái Sửu bây giờ là thứ nhất gái đọan tang, thứ nhì gà mái ghẹ này kia. Thì như đã bảo, nó đang là…”người nhớn” mà.

       Cho đến ngày người nhớn trở thành…”gã”.

       Một ngày gã đọc chuyện của người viết về thân phận người vợ trẻ trong thời chiến có chồng là lính chết trận cùng những dằn vặt với những khát khao. Gã để hồn đi hoang đến bài nhạc có câu thơ Thân côi khép kín trong tà áo đen – Chao ơi thèm nụ hôn quen. Thế nhưng hai chữ…”thân côi”, gã nghe lộn ra là…” đôi chân”. Chưa hết, gã hoang tưởng người viết vào cái lúc nửa đêm về sáng…tôi nhìn tôi trên vách, với hai câu thơ chót trong bài Thương ca 1:Mùi hương cứ tưởng hơi chồng – Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai (thơ Lê thị Ý-nhạc Phạm Duy). Gã trong tâm thái lãng đãng nên cảm khái quá lắm qua một chuỗi quá vãng ơi ới gọi nhau kéo về lũ lượt. Sau đấy gã thập thò cùng nhớ với mong, đợi với chờ vì chả biết trâu đi tìm cọc hay cọc đi tìm trâu đây. Trong gã đầy ắp với hòai cố nhân, gã căng óc nặn chữ véo câu bật ra một bài tản mạn chữ nghĩa cứ rối rít cả lên với đường xưa lối cũ có cái hồ nuôi…cá tra. Và gửi đến tờ báo có bài viết của người viết tên…Trần thị Sửu. Gã nhủ thầm, tên gì mà quê mùa, chả có cái bút hiệu cho ra hồn. Vì vậy gã tầm chương trích cú cho mình một bút danh ẩn dật, ẩn tàng hào hùng, hào khí ngập ngụa thâm căn cố đế là…Hùng già (1)

       Chẳng chóng thì chầy gã được hồi âm truyện ngắn khác với trại di cư ở ngã ba Ông Tạ. Chữ nghĩa đánh thức gã dậy, gã lao đao trong khoảng không gian mênh mang đầy ắp ký ức trên là trời, dưới là nước, giữa là những thanh gỗ bắc ngang được khoanh liếp quây thành…nhà cầu. Trong cái tĩnh lặng của lá rơi tường bắc lá bay sang, chấm phá bằng vào những cục phân to bằng cái cán dao phay rơi lõm bõm xuống mặt nước…hồ thu. Gã vu vơ cùng cái tình chữ nghĩa vậy mà đã hơn hai mươi năm chứ ít ỏi gì. Trong xe “búyt”, gã lan man với cố nhân rằng bây giờ quá nửa đời người, gã mường tượng lát nữa đây sẽ sắp gặp lại người xưa…

       Còn ai trồng khoai đất này là…là…“bạn già” với…”con cu đất” ấy mà.

       Mà chẳng vắng xa…, xa vắng…, gã gần gũi chuyện mới đây.

       Mới đây gã thành “lão” lúc nào chả hay và nhằm vào một ngày lặng gió, vợ lão bỏ lão về với Chúa. Ấy vậy mà cái ngày vợ lão được Chúa vui vẻ gọi về chầu Chúa, bà gắng gượng dậy, nhúm đầu lão trối trăn: “Hẹn ông…ở kiếp sau nhá”. Trong cái lúc đầy nhá nhem ấy, nghe đến câu gặp nhau ở kiếp sau thì lạy Chúa tôi, lão như chết nửa đời người và hãi quá thể. Nhưng chưa kịp hẹn hò với bà ở kiếp vãng lai, thì lúc này lão sắp gặp lại người cũ. Lão đang có mặt trên chuyến xe hò hẹn với quá vãng.

        Vào đến thành phố…Lòng dạ lão bát nháo ba mớ chữ nho chùm như bản lai diện mục, theo mấy ông Tàu thì chưa thấy mặt nên bụng dạ chẳng biết yêu thương để đâu cho hết. Lão cố hình dung “cái Sửu, người ngợm như con cá trắm” bây giờ ra sao. Trước ngày đi, ngồi ngoài vườn, lão ngửa cổ làm một cối rượu, hít một hơi thuốc, rồi khật khừ ngâm nga…thà một phút huy hòang rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm. Thế nhưng trăm năm đang hờ hững như…ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay…ở đằng kia. Vì từ xa lão dòm thấy “bạn già” lão đang ngồi củ rủ như con cò ốm, trên cái ghế ngồi đợi. Cái xe kềnh càng ghé bến. Giời ạ, đến nước nôi này, ông giời có mắt xuống đây mà xem…bà đang phe phẩy cái nón lá. Với giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu, vật vã với chữ nghĩa không có giấy bút nào hơn là trông bà chân chất…chân quê, dưới tàng…cây sồi. Lão mộng dưới hoa qua…em vín lấy cành dâu, che dấu mộng ban đầu. Lòng dạ lão rổn rảng thơ thẩn…nói ra sợ mất lòng em, van em, em hãy…”đừng” giữ nguyên quê mùa.

       Xe ngừng, lão lom lom dòm. Bà vẫn giữ cái thói hòai cổ của người Bắc mình với cái áo chùng thâm như mấy bà cố đi lễ nhà thờ. Đầu chùm hụp cái khăn mỏ quạ cũng màu đen nên chả thấy mặt mũi đâu. Bà ngước mặt lên, bà đeo kính đen như bà thầy bói mù. Bỏ bu! Lão chột dạ hay mắt bà bị tóet, may mà bà không đeo miếng vải tây điều. Lão cúi đầu, lậu bậu cầu nguyện cho bà: “Vinh danh thiên Chúa trên giời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Bà lọ mọ bước một về phía hành khách đang xuống xe. Trong đám người kẻ đón người đưa, bà tìm kiếm…người muôn năm cũ. Như một đọan phim trắng đen quay chậm, bà tháo kính đen ra, nhớn nhác tìm lão. May quá, mắt bà không bị tóet mắt. Thế nhưng chả may gì, vì lão thấy bà hom hem cười, cái cười hơi thiếu vắng với hàm răng…cái mất cái còn. Hai mắt bà ăm ắp nước, tuôn rơi lả tả như thể muốn tống tiễn lão về với ông bà ông vải không bằng.

      Bà thảng thốt bật ra câu đầy bi ai: “Trời cao đất dầy ơi. Ông đấy hở?”.

      Vừa chu chéo xong, bà như bị xúc động nên chập chọang ngả chúi người vào lão. Hai tay bà túm chặt lấy áo lão như sợ bị vuột mất thì có nước đi tướt. Lão chóang người, cập cập…mắng yêu: “Hượm tí, bà làm gì rối inh lên vậy”. Lão định mở mồm nói dăm chữ yêu thương, nhưng lại quên bu nó mất…

       Lão nói như quát: “Khỉ ạ…cụ Hùng…gi…à…đây“.

       Ngỡ lão ngồi trên xe buýt chưa ăn gì. Bà ngơ ngác: “Ừ nhẩy! Tép đồng kho tương hở? Thiếu giống! Cứ ối ra đấy”.Thế là lão biết tỏng bà…lãng tai.Biết để bụng, được thể rất Tây, lão ôm bà gọn lỏn trong vòng tay gầy guộc của lão. Trong một thoáng phù vân, phù du, lão muốn gửi gấm bà nụ hôn sau năm mươi năm cách biệt, nhưng lão chợt nhớ răng cỏ lão cũng…cái còn cái mất. Vì vậy lão đành niệm Bụt ăn chay, đành ôm suông bà để gửi gió cho mây ngàn bay. Để rồi hồn ma bóng quế của chuyện ngày xửa ngày xưa lại nhàn tản hiện về. Chuyện cái ngày ở trại “ri cư”, trên cái giường tre, thằng còi đè ngửa cái Sửu ra và…lui cui cúi xuống hôn. Nụ hôn đầu đời cùng một quên hai nhớ là cái Sửu nhắm tịt mắt lại nhưng lại…há mồm. Thế là răng thằng còi đụng răng cái Sửu một cái…”cốp”. Mẹ ơi, sau đó lão mới thấm câu của các cụ ta xưa cấm chả sai bao giờ: “Thứ nhất đau răng, thứ nhì đau mắt”. Mà bà có đau mắt gì đâu! Vì tháo kính ra lão mới thấy lão sai bét: bà đeo kính dâm vì nắng quái chiều hôm ấy thôi. Khỉ thật.

       ***

       Đêm vào khuya, lão ngước mặt lên trần nhà, nhìn con thạch sùng đực đuổi con thạch sùng cái. Còn bà nằm một đống như cái đụn rơm phình ra trên giường. Bà đang thao thức sau những mùa đông cô quả, bà cô quạnh nằm ôm cái gối ôm như ôm con lợn con. Bà nhớ rang nhớ rức đến cái nhà lão này, bà ôm cái gối bông như ôm lão cùng những nỗi nhớ. Lão cũng đang trằn trọc, vì qua cả một thời gian dài chẳng biết lưu lạc ở phương nao, nay bà nằm thu lu ở bên cạnh. Lão thóang nghe tiếng ho rời rạc của bà, tiếng ho đứt quãng của lão, để rồi cùng một lứa bên trời lận đận, cuối cùng thì đường mưa ướt đất, lão cũng đã gặp lại bà trong…đêm tàn nguyệt tận.

       Trong cái im ắng nửa đêm, đất sinh cỏ già sinh tật, vẫn chứng nào tật ấy, lão lại lọm khọm chống gậy đi tìm dĩ vãng hong hanh. Lão tủm tỉm cười về những ngày tháng ngây dại của cái tuổi khờ khạo. Người ngợm lão lâng lâng bay bổng. Lão như người cưỡi gió chui vào mây với những chuyện tình trong mộng tưởng. Để không tưởng như…tay anh em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi. Với trái sầu rụng rơi đã chín cây, lão chỉ đợi lúc này. Lão đợi lâu lắm rồi. Sợ bà biết thấu tâm can lão…

       Lão đợi thêm một chút nữa cho chắc ăn.

       Và lão nghĩ đã đến lúc, lão rón rén thò tay xuống…dưới. Sâu hơn một chút nữa. Tìm kiếm. Trong đêm tối, lão đút tay vào…túi quần. Sờ sọang. Lão cứng như con bửa củi vì chả thấy …”nó” đâu. Lạy Chúa tôi. Lão nín thở mầy mò, lão đút tay còn lại vào túi kia, vân vê, nắn bóp, rị mọ tìm kiếm. Vẫn chỉ…mười ngón tay. Hãi quá mạng, lão lụng bụng cầu nguyện: “Sáng danh Chúa cả trên trời bình an, dưới thế cho người lòng ngay”. Chúa thương thật, súyt nữa lão bật reo lên như siêu nước sôi: “Nó đây rồi”.Lão đã thấy…. Lão sờ mó nó, nó nhẵn thín, nhẵn chơn. Nó lạnh ngắt như đồng thau. Nó…cứng ngắc như con bửa củi. Từ từ như ông từ vào đền, lão lấy nó ra.

       Lão nhón nhén rút ra…cái nhẫn một chỉ bằng vàng tây.

       Lão lóng ngóng đeo vào ngón tay bà. Ngón tay khô queo, khô quắt, trong lão ngập tràn những cỏ xót xa đưa, cỏ xót xa người. Ây vậy mà bà chẳng mảy may cục cựa, nằm đuỗn ra như con cá rô đực. Trong khi bà nằm đo giường, đo chiếu thật đấy, vì bà đang có khỏanh khắc mà từ lâu lắm rồi bà ngỡ chẳng bao giờ tìm lại được. Nếu có, chẳng qua bà nhớ đến cái gối bông như con lợn con mới đẻ. Bà quay sang ôm lão như ôm…một khúc cây đang…ngái ngủ. Lão cũng ôm cứng lấy bà. Bà lững lờ nhìn lão. Lão lặng lẽ dòm bà. Trong một thóang giây động não động tình với lên non tìm động hoa vàng, làm như vô tình, lão hờ hững đặt tay lên ngực bà. Chửa kịp ngộ ra cái giống giuộc gì như…quả mướp khô thì đã bị bà hất tay lão ra và mắng: “Rõ dơ!”.

       Lão trộm nghĩ bà này dở hơi, dở hám thật cũng nên, khi không réo lão lên đây để nghe con cu đất gáy “gù gù” chăng. Vì vậy lão đành nằm chèo queo nghe cái đồng hồ treo tường kêu “tích tắc…tích tắc…” buồn tê tái đến tái tê. Bỗng…con cu giả đen thui từ trong cái nhà của cái đồng hồ treo tường chui ra. Nó gáy “cúc…cù…cu…” giữa đêm vắng. Khi không lão nhớ quay nhớ quắt đến con chuột trong tủ đồ khô ở nhà. Lão bâng quơ nhớ đến câu ca dao đầy hương đồng cỏ nội…chuột kêu chút chít trong rương, anh đi nhè nhẹ động giường mẹ hay. Bất giác, lão chìm đắm trong vọng tưởng, lão ôm bà khắng khít hơn và lang thang lếch thếch về ngày ấy năm xưa với cái gường tre, cái nền nhà đất thô mát lạnh và…Và tiếp đến là tiếng kêu “boong…boong…” của cái đồng hồ chết tiệt như tiếng chuông tỉnh thức, như đánh dấu cái giờ tí canh ba ở cái tuổi vàng bay mấy lá năm già nửa đang thảnh thơi rơi vào quên lãng.

       Ơ mà lạ chửa kìa: Không phải lão mà là bà…

       Bà…“tỉnh thức” với hồi chuông chiêu mộ. Bà lóp ngóp trườn lên người lão, như con thạch sùng cái bò lên con thạch sùng đực. Thân bà vắt chéo qua thân lão như cây thập tự giá đóng đinh. Người bà dán chặt vào người lão đến nhẹ tênh, mềm như dưa, như bún. Trong cái đầu củ chuối của lão đang mừng húm thì bất chợt có tiếng con thạch sùng chép miệng tặc lưỡi…“tắc” một cái khô khan và lão nghe ra là “tắc…tị”.

        Bất giác lão thở dài vì nghĩ vụng nhè ở cái tuổi này nào còn lòng dạ hơi sức mà đú đởn như xưa. Vừa nghĩ đến đây, bà nhòai nửa người ra khỏi cái giường. Người bà chồng lên lão như hòn Vợ, hòn Chồng, chông chênh ngòai biển xa đảo vắng. Trong cái thế chênh vênh chúi xuống, lửng lơ với mười tầng trời chín tầng đất. Bà nhìn xuống sàn nhà lát gạch hoa, thẫn thờ đi tìm những ngày tháng cũ…

       Trong đêm tàn nguyệt tận, bà đi tìm đôi vợ chồng chuột của ngày xưa.

  Thạch trúc gia trang

   Qúy Tỵ 2013

   Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

   (viết lại 2018, 2021, 2024)                                                                                                                  

(1) Có một thời thậm thụt với làng văn xóm chữ, trộm lấy bút hiệu cổ lão là…Hùng già.

©T.Vấn 2024

Bài Mới Nhất
Search