Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: NHÀ  TÔI

Thiền Sư và Hòn Đá – Ảnh: SOAN PHI

Đã bấy lâu nay bác tới nhà

                                            Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa

                                            Ao sâu nước cả khôn chài cá

                                            Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà

       Vườn nhà tôi không ngòai dăm khóm trúc, ít cây tùng La Hán, không có ao sâu, nhưng cũng có dăm cái hồ cá nho nhỏ, với vài chiếc cầu bắc qua con suối khô, rải rác đâu đây năm ba hòn đá, vườn Nhật nghĩ cũng lạ, rắc rối với động và tĩnh, chẳng đâu vào đâu. À mà bác này, lúc này làm đĩa tiết canh vịt, thì hợp tình hợp cảnh quá đi chứ bác nhỉ, nhưng mà mùa này hơi hâm hấp nóng, không hợp với Cognac lắm đâu…Hay là bác và tôi, quanh quẩn ở đây một lát, rồi vào nhà trong nhâm nhi chút chả cá Lã Vọng, thôi thì miếng nhắm giữa làng hơn sàng xó bếp và cũng chẳng cầu kỳ gì như cụ Vũ Bằng phải là cá miền Hải Phòng, khó khăn quá, thời buổi này phiên phiến đi một tí là vừa. Nhưng chắc như cua gạch là phải có bánh đa vừng, mới mang từ quê nhà qua. Nào, mời bác quá bộ vào nhà trong…chẳng bấy lâu nay bác tới nhà…

                                                   ***

       Đấy bác thấy đấy, nhà chỉ bé bằng cái lỗ mũi, cũng có mái, có cửa, có tường như bất cứ nhà nào khác, dung dị chỉ là cái nhà để ở, để đi ra đi vào.Và nhà tôi, lại càng không phải hiểu theo nghĩa thân thương là nội tướng, tiện nội của các cụ xưa, già rồi, mệt mỏi với chữ nghĩa quá…Dài dòng một chút thì nó là một cái gì tĩnh lặng và xa vắng…

       Xa vắng, tĩnh lặng trong một ngày cuối tuần, để tôi dẫn bác đi một vòng, cũng chỉ mất năm, ba phút thôi. Buớc từ phòng ngủ ra hành lang, trong phòng ngủ thì chẳng có gì, không ngòai mấy cái bình sữa của cháu bé…À có một điều là: Nhà tôi cái gì cũng cũ, trừ mấy cái cái bình sữa là mới, nghĩ cũng lạ và cũng chịu…không hiểu nổi.

       Bắt đầu từ cuối hành lang, bác thấy không, tôi cũng săm soi đục một cái hốc, cũng đèn đóm vừa đủ thấy cái bát gốm từ đời Hán của Lê Thiệp từ D.C. gửi xuống cho. Ông bạn Vàng ấy có dặn dò về tên của món đồ cổ này, tôi nghe như vịt nghe sấm, rồi cũng quên béng đi mất, nặn óc mãi mới nhớ mang máng là “Hán Bàn Địa”. Mà cũng hay, thóang trông như cái bình vôi, đúng là của nào người nấy, cái bát cũng có “kiểu cách nho phong, lừng khừng, tàng tàng như ẩn dấu cái kiêu ngạo ngấm ngầm”. Nhưng mân mê cái vân đồ gốm, thật nhuyễn và mát mắt nên tôi phải kiếm cho nó cái đế thật cũ, cho trang trọng và thoải mái…nhiêu khê và cầu kỳ lắm chứ chẳng phải đùa đâu, bác ạ.       

      Ấy bác đang cười ruồi vì trên cái đế cổ, nó ngất ngưởng như “cái nồi ngồi trên cái cốc”, lềnh bềnh như say sóng như cái thằng tôi. Mà bác nghĩ tôi say thật đấy hả, ấy vậy thì bác xòang quá, mà có uống đâu mà say, say tình say bạn thì có:

       Đây này, ngay dọc hành lang có cái kệ nhỏ, đặt bức tượng đức Trần Hưng Đạo của tên bạn Bùi văn Hội. Tượng này bằng gỗ tạp với những đường nét cũng chẳng sắc sảo gì lắm, có sao “vẽ” vậy, tôi nói thực đấy…Bình thường như bất cái tượng nào khác, lại rẻ như bèo, hang cùng ngõ hẻm nào cũng có. Nhưng tính tôi lại trái khóay lạ đời, cứ nặng nợ với bằng hữu cùng “trường xưa bạn cũ”. Và ngay buổi chiều từ sân bay về đến nhà, mặc dù còn ngất ngây, tôi vẫn lúi húi đóng cái kệ nhỏ, bên hành lang và ở đấy, mỗi ngày tôi đi qua đi lại, như say sóng cùng cây đa bến cũ với con đò năm xưa.

         Ra đến phòng phòng khách, bác thấy đấy, lại thêm bức tượng thiền sư của Nguyễn Trung Lâm, do nghệ nhân tỉnh Hải Dương khắc đẽo, mỗi lần nhìn cái mầu gỗ Cẩm Lai vàng nghệ của lúa chín, vụ chiêm, vụ mùa cùng mầu nâu đất như chắt từ qủa bứa, quả vả. Không hiểu ở những thôi thúc ẩn chìm nào, tôi như bị ám ảnh cùng những mầu sắc dân gian của làng tranh Đông Hồ, cùng quê hương tình tự dân tộc, chân phương và mộc mạc. Mấy ngày đầu, mỗi lần đi qua bức tượng thiền sư, tôi lại bàng bạc thả hồn về một vùng đồng quê đất Bắc, phía tây Hà Nội, gần sông Cái, và những bức tranh dân dã khởi nguồn từ đấy, đã đậm nét trong ký ức tôi từ những ngày còn bé với những bức tranh Tết gà lợn in trên giấy điệp của làng Đáp Cầu.         

        Bác gật gù, tôi cũng như bác để chớm có ý tưởng, trong nhà cũng cần phải có vài bức tranh dân gian Đông Hồ như “Chuột vinh quy bái tổ” hoặc “Hái dừa”…Để có một chút nào vấn vương quê nhà cùng một nghệ thuật cổ xưa, nay gần như thất truyền và tôi thì vẫn vậy, thích hòai cổ về một khỏang trống vắng nào đó, xa vời vợi.

       Và để rồi tôi cứ quanh quẩn, lòng vòng như đèn cù, lụm cụm chống gậy đi tìm dĩ vãng, mần mò và tìm kiếm…

       Như bác thấy đấy, góc lò sưởi là cái tượng Darwin, thập niên 60, tôi thả bộ với Vũ Mạnh Cung dọc theo bờ sông Seine và vớ được nó. Nó là con khỉ ngồi trên chồng sách dầy cộm, như ẩn chứa “tận tín thư bất như vô thư”, khuôn mặt trầm ngâm, tay cầm cái sọ người trắng hếu và tư duy logic không biết nguồn cội mình từ đâu…

       Như vô tình, tôi đặt cái tượng dưới tàng cây, cạnh hồ nước lặng lờ, có đá sần sùi, có ngôi chùa cổ…Để rồi cũng có một, hai lần, trong những giây phút huyền hoặc, nhớ nhà trong khói thuốc, khói vàng bay lên cây, bên này là núi bên kia là rừng. Tôi cũng lãng đãng thả hồn về với đình chùa miếu mạo, mồ mả gia tiên, họ hàng làng nước, và ai chẳng một lần:

                                                  Ta về tắm lại dòng sông cũ

                                                  Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên   

        Bác hình như đang lấn cấn với tên này, họ kia của những thằng bạn tôi…Thôi thì bác hãy ngồi nghỉ xuống đây, để tôi dài dòng một đôi chút…Bác biết không, có những ngày cuối tuần mẹ con nó về ngọai, nhà trống vắng, thì tôi lại một mình, tay cầm ly rượu vẩn vơ hoặc thỉnh thỏang có những khỏang nửa đêm về sáng…Châm điếu thuốc lá, lòng vòng chung quanh nhà và tẩn mẩn lặng ngắm mỗi tĩnh vật, mỗi cái như một dấu ấn, một bóng dáng, một thằng bạn, một người thân… Tôi không nói chuyện với chúng, tôi không khùng đến độ như vậy đâu bác ạ, nhưng cái tượng này, bức tranh kia, hình như đều có những mẩu chuyện riêng tư của nó và tôi. Cả hai, như có chung một khỏang thời gian và không gian nào đó, thì cứ tạm gọi là ký ức đi, bác có đồng ý như vậy không và ai nào chẳng có một chút hòai cảm để bám víu, để nặng nợ.

       Bác thóang nhíu mày như không chịu hiểu, thì đây, bác thấy cây si bonsai với cái chậu cổ đằng kia chứ: Cây này trước là cây bông giấy để ngòai vườn, mà thằng bạn “cây cỏ” của tôi, ghé nhà múa may một lóang là đâu ra đấy. Mỗi lần tôi nhìn thấy chậu bonsai, tôi lại nghĩ đến bạn bè như ngọn cỏ ngòai đồng, cùng một chuỗi hình ảnh, như một cuốn phim quay chậm….

       Một hôm, cây bông giấy bị nẫng mất…

       Riêng với tôi, tiếc cây thì ít, thương hòai ngàn năm cái chậu cổ thì nhiều…Vì tôi đã khổ công với nó và cũng mất nhiều thì giờ đi đi lại lại, năn nỉ ỉ ôi, lão chủ Tầu già mới nhường cho. Lão cứ vòng vo kể lể như tôi đang ỉ ôi với bác, là lão đã phải chôn cái chậu xuống đất ba, bốn năm để cho lên men, cho sỉn, cho…cũ.

       Để rồi bốn, năm năm sau, tôi nhắc lại với bác là bốn, năm năm sau. Một buổi sáng cuối tuần đang tưới cây thì tôi thấy cái chậu cổ của lão Tầu gìa nằm chình ình ở góc vườn, bác ngạc nhiên…? Tôi cũng vậy và lúc ấy tôi thộn mặt ra nghĩ: À, cây chết, cái thằng của nợ nó trả lại tôi cái chậu qúy.

       Cũng ngay lúc đó và ngay cả bây giờ, trong thâm tâm tôi, tôi tự dưng cảm mến cái tên đạo chích…có tâm hồn này, biết trang trọng cái đẹp của mốc meo, của cũ rích. Và không ít thì nhiều, cũng đầy cảm tính của một ông từ giữ đền: Nó rất…người.

       Và bác đang gật gù và cười vu vơ.

       Nhưng tôi biết tỏng một điều, như đi guốc trong bụng bác, bác chẳng để tâm gì tên tuổi thằng bạn tôi, mà chỉ vấn vương với tay đạo chích lạ đời ấy thôi.

       Chưa hết đâu bác, trước khi ra phòng ăn, tôi còn một chuyện nữa, chỗ bác đang ngồi ngay đấy, trên tường có treo cặp kiếm của Nhật. Bác ngước đầu lên, cũng chẳng có gì đặc biệt. Bác đúng, không có gì đặc biệt thật, chỉ là cặp kiếm để trưng, hiểu theo nghĩa trang trí không hơn không kém. Và nếu tôi có vui miệng, tản mạn một chút về thanh bảo kiếm của cựu hòang Bảo Đại, có khắc “Khải Đinh Niên Chế” thì bác cũng nghe như gió thỏang mây bay. Nhưng thôi, đó không phải là chuyện tôi muốn dông dài với bác, vậy thì bác nghe cho kỹ nhé:

       Nhà tôi bị cướp hai lần, lần đầu thằng ăn cướp nó vồ lấy bộ gươm Tầu mà tôi mua ở tiệm cầm đồ, sau mua bộ khác tương tự ở chợ trời. Lần thứ hai nó viếng nhà tôi nữa và cũng chỉ xách bộ gươm ấy về, ngòai ra không lấy một thứ gì khác…Chỉ vì ông tướng Lương sơn Bạc rởm đời ấy, mà nay tôi phải treo cặp kiếm Nhật…giả. Và giả có nghĩa là không thật, nhập nhằng sắc sắc không không cả đấy mà, đó cũng chính là câu chuyện nửa đời nửa đọan tôi muốn “khoe” với bác vậy thôi.

       Nhìn bác đang gãi đầu như dâu đổ đầu tằm và đó cũng là một trong những niềm hứng khởi tràn trề để tôi cặm cụi với bài viết này, cực kỳ quá chứ phải không…bác.

                                                           ***

       Quẹo tay trái ra đến phòng ăn thì bạn bè tôi có mặt đầy ắp ở đấy bác à…cùng nỗi buồn chạm mặt là bức tranh “Chân dung” của Bùi Văn Dục. Nó vẽ cái thằng tôi, mặt mày tròn vành vạch, như ông phỗng đá: “Ông ngồi làm chi đấy hỡi ông?”. Nó lại còn phóng bút làm thơ tặng tôi nữa, chữ nghĩa bề bề, cũng chẳng dấu gì bác, vả lại cứ được khen, ai mà chẳng sướng, cùng một mảnh tình riêng ta với ta:

                                                  Phú quý công danh cũng chẳng màng

                                                  Điền viên một chốn trúc gia trang

                                                  Trà sớm, rượu trưa, chiều bạn cũ

                                                  Một áng văn hay đợi đêm sang

        Và chênh chếc bức tranh là một “tĩnh vật”, mà đã tự lâu tôi nặng lòng với nó:

                                                  Chiếu hoa mà trải sập vàng

                                                  Điếu Ngô xe trúc, sao chàng chẳng say

                                                  Những nơi chiếu cói, võng đay

                                                  Điếu sành, xe gậy chàng say là đà

        “Chàng say là đà”…Cũng chẳng dấu gì bác, tôi “say” cái điếu bát của cụ bạn già từ lâu, bạn Mạt chược cả đấy. Năm ấy cụ cũng đã gần chín mươi, ung dung tự tại, dáng dấp tiên phong đạo cốt, được thua không qua một tiếng cười và cũng hai lần nước non ngàn dặm ra đi. Hỏi mua cụ ậm ừ không bán, cụ giữ như của gia bảo, nhưng đến lúc đen bài, mà đen nghĩa là không đỏ, bị chao ù mấy chập thì đâu cũng vào đấy. Cờ đang giở cuộc, bạc chửa thâu canh, thế là cụ cấn ngay cho tôi, với cái giá phải chăng lấy thảo.

        Cái điếu sành của cụ hình tròn thắt cổ bồng, tròn như trái bưởi đào, da rạn đời Thanh, đã lạc tình vàng ố như ngà, cái xe điếu bằng thanh trúc bọc đồng đã lên nước, qúy hồ tinh bất qúy hồ đa. À cái này mới lạ bác ạ, mới đầu tôi gọi là “cái niêu”, không biết thì phải hỏi, hóa ra là cái bát điếu cũng rất đặc thù, không phải bằng mây mà bằng gỗ hồng xoan, tiện tròn hình ống, vân chìm ẩn hiện như bức tranh thủy mạc, chỗ đậm chỗ nhạt nay cũng đã phôi phai, nhạt nhòa theo năm tháng, chỉ thiếu cây thông điếu. Để rồi mỗi lần tần ngần lặng ngắm cái điếu, tôi lại bồi hồi về cụ, trong những ngày cuối đời lạc lõng nơi đất khách quê người như “ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay…”

       Nhờ cái điếu bát, qua cụ, tôi được biết ở dốc Hàng Gà, Hà Nội có “thuốc lào Cả Nghị” là  ngon nhất, sau mới đến thuốc lào Vĩnh Bảo. Và tôi còn biết thêm nguồn gốc thuốc lào là từ thời nhà Trần, danh tướng Phạm Ngũ Lão cầm quân chinh phục xứ Lã Qua (Ai Lao), quân sĩ xa nhà, đêm đến trời lạnh lẽo rét buốt nên bắt chước dân Lão Qua hút thuốc này cho ấm và giải sầu và sau này được gọi là thuốc Lào.      

       Lại thêm một cái hộc, tôi nặng về cốc với hang như bác thấy đấy, để nhồi nhét cái tượng Phật dân tộc Chàm, bằng đá thô, của Bùi Đình Quang. Chiều tối hôm trước, còn ngồi với nhau ở quán Gió Bắc đường Lê thánh Tôn cũ, vừa ăn chả rươi, vừa nói chuyện bâng quơ vụn vặt. Sáng hôm sau, nó hộc tốc bay ra phi trường và dúi vào tay tôi cái tượng, như gửi gấm một chút mơ phai của những ngày tháng cũ. Món quà nhỏ bé, không to hơn quả ổi xá lị, thằng bạn nghèo, chẳng một lần ngước mặt, luân lạc ngay tại quê hương mình đang ở, mỗi lần nhìn bức tượng tôi lại bùi ngùi, trong tôi có quá nhiều  “ông đồ” cùng những người xưa năm cũ, như đang lẩn khuất đâu đây….

       Thêm cái bát chiết yêu, tại làng quê Bát Tràng, lại của đồ nho Lê Thiệp lừng khừng, tàng tàng. Cái bát ăn bún riêu, bún ốc này của bà cụ nó, năm 54 xuôi Nam, thêm một lần di cư năm 75, và không hiểu nghĩ sao, nó lại gửi ghém xuống đây cho tôi cùng những ân tình. Cụ bạn già Mạt chược, bà cụ Lê Thiệp, tôi cứ mang mang, nói là áy náy thì không hẳn là đúng, mà lạ lắm bác ạ, nó cứ lẩn quẩn như thế nào ấy. Nhưng nghĩ cho cùng thì tất cả là cái tình, để chẳng bao giờ quên, nằm sâu trong ký ức, mãi mãi không rời, với cỏ xót xa đưa, cỏ xót xa người.

       Bác đang ngắm cái đĩa cổ, tôi biết bác thích cái đĩa này vì trông nó quen quen, “nhất dáng nhì men, ba chàm bốn vẽ”. Lại nghĩ lẩn thẩn, không biết bao nhiêu năm tháng, niên đại, nước men ngả mầu vàng ố, hoa văn đã nhạt nhòa, để rồi những cái đĩa lạc tinh ấy, từ ngôi làng hẻo lánh Bát Tràng ra tận viện Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội, thì cứ hoang tưởng như vậy đi, cũng chẳng mất mát gì, phải không bác. Rồi nổi trôi dạt qua tận nhà Phạm Gia Linh, đất lành chim đậu, bạn lại lẳng lặng nhường cho tôi.

       Cũng là cái duyên của nhà Phật, ngay bên cạnh ông em là ông anh với của đi tìm người là cái triện Tầu. Từ lâu, tôi mò mẫm đi tìm mộc cái triện của vua chúa với cái núm tượng hình là rồng năm móng, quan thì con lân, con hạc thì may quá, thửa được cái triện của Phạm Gia Thiết. Cái triện này bằng đồng của…nhà chùa, cái núm là đầu đức Phật đội mão trước khi đi tu, tai có lỗ khoen, đánh dấu buổi giao thời của đức Bồ Đề Đạt Ma mang đạo Phật từ Tây Tạng qua Trung Hoa. Xa vời quá phải không bác, tôi cũng nghĩ như vậy, đường về Tây Trúc bao giờ cũng đầy rẫy những…hoang tưởng.

       Tôi hiểu bác không có thì giờ rị mọ với quá khứ, thì cứ mầy mò  với cái đĩa con cá, chữ phúc, chữ thọ quái quỷ gì đó của Hà Thời Triển, rồi bình trà gan gà của Trần Thái Lai. Ấy chết, bác đừng quơ cái màng nhện, bác cứ để đấy, trời sinh trời dưỡng cho có vẻ…âu sầu, cổ kính đấy mà. Nếu bác có lẩn thẩn hỏi về niên đại niên chế, đời Minh hay đời Thanh, thì tôi cũng chỉ ậm ừ…. Chẳng qua là với những cái bát, cái đĩa mù mờ dấu tích ấy, không ngòai đánh dấu một cái mốc thời gian với thằng này, thằng kia, như mới vừa đâu đây, thóang hiện thóang mất.

       Nó đây rồi, cái này mới quê mùa, nhưng được cái nhất cổ nhì quái, bác đừng râm ran và đừng hỏi tôi nó là cái gì, chuyện đâu còn có đó. Cũng chẳng phải tào lao thiên tôn gì, nhưng tính tôi vậy, già rồi nên mang cái tật dây mơ rễ má: Ngày về Hà Nội, bà chị cùng cha khác mẹ “động viên” thằng người làng đưa tôi đi tham quan Hà Nội 36 phố phường, cái thằng “ Đôi dép râu dẵm nát đời trai trẻ, nón tai bèo che lấp cả tương lai”, mà tôi vô phép gọi nó là thằng nón cối. Nó chiêu đãi tôi hết ý bác ạ, và đưa tôi đi ăn cơm niêu, răng tôi lúc này thì nhệu nhạo, nhai cháy chẳng thấy thơm, thấy bùi tí nào. Nhưng tôi chỉ thích cái niêu, chỉ là cục đất sét nung, đen thui lủi, nhưng ở cái khối u như có hồn này, tôi như bắt gặp lại một cái gì thật bình dị, mộc mạc và cũng thật chân quê.

      Ngày về, thằng nón cối ân cần gửi tôi gói quà, về đến nhà, mở ra thì hóa ra là cái nồi cơm niêu đất ở quán cửa Nam, trong lòng niêu vẫn còn dính mấy hột cơm khô. Cho đến bây giờ, tôi cũng quên khuấy tên nó, cứ chân tình, ngô nghê với cái tên thằng nón cối. Nghĩ cho cùng thì cũng hay, nếu cụ Nguyễn Tuân có “Chén trà trong sương sớm” thì bây giờ, tôi có “Cái niêu đất”, những ngày trái nắng trở trời, lại bâng khuâng, bùi ngùi.

      Ở một góc vườn, bắt chước lão Tầu già hom hem, sần sùi ngày nào. Nhìn trước nhìn sau, tôi lui cui chôn cái niêu xuống đất.            

      Bác săm soi cái gì vậy, à đó là bức ảnh chùa Một Cột của Võ Minh Cẩm, cái thằng này cũng lạ, nó cũng về hưu non như bác. Bốn tháng đầu năm về đây làm thuế kíếm ít tiền còm, xong lại xách máy hình rong ruổi từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mâu. Với bức hình chụp này, nó “vẽ” sao tôi nghe vậy, nào là phải mang phòng tối, sửa sang mầu sắc cho phôi phai, mờ nhân ảnh. Cái khung mầu đỏ chu sa, đường viền mầu nâu cổ điển, để hài hòa với mầu sắc trầm mặc, u tịch của miếu đền, …và đằng sau bức ảnh, sau rặng cau cao vút, như ẩn hiện một thời của Lý, Trần, Lê, Nguyễn….

                                                        ***

       Quái quỷ thật, xin bác bỏ qua cho, tự nhiên lại mang chuyện quá khứ vị lai, từ đông qua tây, từ bắc vào nam để ủ ê với bác. Mà cũng quá trưa rồi, có thực mới vực được gạo, quấy quá cho xong bữa cả ấy mà.

       Gợm một chút, để tôi bắc cái lò…

       Nói cho ngay, chuyện tầm phào với bác cho vui vậy thôi, chứ ngắn và gọn thì nhà tôi như một tiệm đồ cổ nho nhỏ và tôi nghĩ cũng có phần nào ấm cúng và êm đềm. Ở nơi chốn ấy tôi cất giữ hình bóng, những vóc dáng, những khuôn mặt của những thằng bạn, những người thân, xa cũng như gần, cùng những ngày tháng đong đưa, cùng những hòai niệm xa vắng…

       Và chả cá, “thì là”, cũng…đang xèo xèo cháy vàng ngậy…

       Nào mời bác động chén động đũa, càng nhiều “thì là” càng đậm đà bác ạ, có âm có dương cả đấy, các cụ ta vẫn dậy như vậy…Mà cái nhà bác này khỉ thật, chả cá phải chấm với mắm tôm chanh, bác lại đòi cả cà cuống nữa, chán bác thật.

Thôi nào, mời bác sơi…Bác đến chơi đây ta với ta.

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search