Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: VƯỚNG NGHIỆP

Thầy đồ xưa (Ảnh: Nguyễn Duy Kiên)

Ừ thì đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên với ông bạn tửu lạc vong bần, cũng là bạn chữ nghĩa. Đang ngồi rù rù như con mèo, nhưng là con mèo bợm rượu say bí tỉ cả ngày. Cuối ngày, ông mọc ra chuyện muốn lấy bài đăng trên mạng lưới của ông. Ông còn vẽ chuyện hỏi “lý lịch trích ngang” nữa. Bèn trích lục câu cú về cái nghiệp “văn rượu” của một tôi:
(…) Về gốc gác của ngộ chữ tôi, cứ qua truyện ngắn Cây gậy tre rút đất là người quên cả họ và tên, quan tước, làng mạc, hồ đồ không biết mình là ai. Ngộ chữ tôi làm quan ba mươi tư năm, lui về đất Hiu Tân mà ở ẩn, nhà ba phòng, chốn tây viên có ao sen, dăm bụi trúc. Tuổi mới chớm già, chưa đến nỗi lẩm cẩm. Tính thích rượu, văn phú. Bởi chưng:

Trời đất sinh ra rượu với văn – Không văn không rượu sống như thừa.
(xem kết cú) (…)

Bài đưa ông là tạp bút Chửi mất gà: báo Người Việt lôi bài này trên mạng lưới xuống đăng ở tiết mục Quán Văn xưa cũ kèm lời tòa soạn: “Cụ Ngộ Không viết truyện làng quê đất Bắc, nhiều chuyện nay đã đi vào quên lãng, cụ còn nhớ được như vậy ắt tuổi thọ chắc trên tám mươi.” Khi không được gọi là… “cụ”, vì khi viết bài đồng bái quê mùa này mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy, bởi tôi xưng là… lão, với giọng rặt thuốc lào Bắc kỳ hương lý ấy thôi.

Ừ thì thân già vác dùi nặng, vác một ông bạn chữ nghĩa (T-Vấn) khác nữa trong Ngộ Không – Một chút dối già của ông: “Ấn tượng đầu tiên khi tôi gặp Ngộ Không là ở khổ người thấp, dáng vẻ cục mịch, rất “nhà quê” của ông với giọng khê thuốc lào, Bắc kỳ đặc.”

Mắt bạn đọc tròn dấu hỏi “bịa” chăng? Rất ngay tình, chả là nhập môn với ông thầy dạy ngộ chữ tôi viết… “bịa” là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Theo ông, truyện viết phải bịa cho ngon lành mới ngon cơm. Sau này thêm ông thầy nữa dạy văn…
(…) Đó là lúc cậu (Trần Doãn Nho) bắt đầu thích đọc, tập làm văn, cậu bắt chước những câu kéo hay ho trong sách. Cậu có thể thêm thắt những điều không có hoặc có khi chẳng hề có. Chữ giúp cậu biến không thành có, biến có thành không. Tóm lại là bịa. Bịa, nói trắng ra là nói láo. Nhưng bịa chuyện của ai đó, có lớp có lang, có câu kéo thì nghe ra… chẳng bịa tí nào. Chẳng là, ngay từ lúc còn bé tí, khi chưa biết viết biết đọc, cậu đã sống trong không khí của chuyện bịa rồi như cô Tấm cô Cám, Thạch Sanh Lý Thông… Chuyện mang cậu vào một thế giới hoàn toàn khác, hư thực nhập nhằng. Để sau này cậu là nhà văn viết truyện hư cấu. (…)

Từ nhà văn viết truyện hư cấu trên, với nghiệp viết, hậu sự tôi cũng lên cơn đồng thiếp với hoang tưởng, nhập hồn nhập vía vào trường phái hư cấu thật, hiện tượng giả, tức… bịa như thật. Bạn đọc búng lưỡi cái tách: Vậy là nhà văn rồi. Như những nhà văn ngồi ở quán bia hơi Hà Nội bảo nhau: “Muốn hại thằng nào cứ xúi nó viết văn cho nó tiêu ma cuộc đời.” Sau đó suốt ngày nó như người đi trên mây vì ngỡ nó là nhà văn thật. Đó là trường hợp Anh Đức mà Nguyễn Tuân nói với Tô Hoài ở quán chả cá do Kim Lân thuật lại.

Bạn đọc làm như mấy nhà văn hỏi nhau: “Khi nào bắt đầu viết?”
Số là giày dép còn có số nữa là… là ăn ngay nói thật: Năm 10 tuổi ở Hà Nội, tôi trốn học. Lỏi tì vậy nhưng cũng biết khôn đi đúng giờ về đúng giấc, về qua cổng trường Nguyễn Trãi. Ông thầy bói mù ngồi dưới gốc cây ới lại nói: “Cậu trốn học. Ngồi xuống đây tôi xem cho một quẻ.” Bèn ngồi chồm hổm như cóc nhảy, nghe thầy dạy: “Cậu sau này theo nghề võ như đức Tả quân Lê Văn Duyệt. Theo nghề văn như Bạch Cư Dị.” Nói dối phải tội, ngày ấy tôi nào có biết Lê Văn Duyệt là ai. Còn Túy ngâm tiên sinh Bạch Cư Dị thì…

Thì phải đợi năm 54, đeo tàu há mồm vào Nam. Trung học đệ nhất cấp, trường làm bích báo treo tường, vừa học xong Luận đề văn chương với cỏ cây chen lá, đá chen hoa. Văn mình vợ người, thế là quại bừa nguyên một bài thơ. Thằng nào chơi khăm cũng quẹt bừa cạnh tác phẩm đầu tay của một tôi: “Ăn cắp thơ bà Huyện Thanh Quan.” Thế là tiêu ma giấc mộng từ chương với người Bạch Cư Dị. Nhờ vậy mới cuỗm được cái tú kép.

Bèn xuất dương tầm sư học đạo bên trời Tây. Trong va li nhét tập cổ thư Thơ Nguyên Sa để có câu thơ chầu chực nhảy bổ vào thư tình Paris có gì lạ không em, mai anh về giữa bến sông Seine. Trong khi em ở… Sài Gòn, nhà bên cạnh… kinh Nhiêu Lộc nước đen thui lủi.

Thư tình thì mượn đỡ Đời phi công của nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, mỗi chương là một lá thư tình bắt đầu với tên Phượng, người tình… “hoang tưởng” của ông. Đến tay tôi bèn hóa thân thành: Phượng em hay Phượng yêu. Đúng là bị giời đầy, tôi số ăn mày bị gậy phải mang nên có tới 4 cô tên khác nhau. Dạo đó vì chưa có máy phô-tô-cóp-py, vì vậy tôi phải viết bốn cái thư giống in hệt nhau, chỉ khác… cái tên. Cũng nhờ vậy, chữ nghĩa lãng mạn tôi nhồi như nhồi rơm nhồi rạ. Thơ thẩn lãng đãng, tôi dồi chữ như dồi tiết, dồi lòng.

Năm 75 đứt phim, qua đây may gặp ông Trần Doãn Nho…
(…) Sau này, nghiện văn, tôi sa đà với chữ. Không từng con chữ một, mà là từng loạt chữ, nói cho văn hoa là… sáng tác. Lúc đầu, tôi cố đẻ chữ, chế chữ, vặn vẹo câu kéo với mục đích chuyên chở chữ nghĩa. Mà chở nặng quá, chữ không bay được lên trời, không bơi được ra biển lớn. Không… văn chương. Thôi thì hãy đùa chơi với chữ. Nghiệm lại, những áng văn hay thường bịa nhiều hơn thực. Cái hay khó tách lìa khỏi cái bịa! Nói bịa, nghe bôi bác.
Xin nói lại: Hư cấu.
Hư cấu chẳng là bịa sao, nhưng nghe đã hơn nhiều! Vì sao? Có lẽ vì chúng là… chữ.
Chữ đuổi bắt nhau, vật lộn nhau ngay trước mắt nhưng ta không hề thấy. Ngược lại, ta nghe, ta ngửi. Y như những con chữ có thể bốc lên, tỏa ra. Nghe có hơi. Tôi gọi là hơi chữ. (…)

Bỏ nước ra đi gặp vịt thì lùa, gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu nên vướng nghiệp với chữ. Nhưng phải đợi đến cái tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, vì biết mệnh trời định sẵn, ngộ chữ tôi bèn lập thân “tối dạ” thị văn chương khi gặp bạn cũ trường xưa. Thề đứa nào nói láo ông Táo đội nồi cơm, ngộ chữ tôi kỳ óc ra viết truyện tình. Viết hùng hục như trâu húc mả hết Tình đầu, tới gõ chữ lộp bộp như gà mổ mo cau đến Tình giữa, và ngơ ngác như bò đội nón tới Tình cuối.
Thôi thì đành nát bàn qua “ngoa ngữ” của bạn cũ trường xưa dưới đây…
(…) Từ lúc đám bạn học cũ mới tìm lại được nhau, họ Phí hào hứng gửi những Tình đầu…, Tình giữa…, Tình cuối… gợi được sự tò mò của bạn cũ. Nhưng so với bây giờ thì những bài văn lúc đầu này chỉ như là những bài “tập làm văn… lớp 5 tiểu học”. Đề tài này hình như không gây được nhiều chú ý của bạn bè vì họ Phí không dụng công phu nhiều và chỉ viết như một cách “ghi nhớ kỷ niệm xưa”, dĩ nhiên họ Phí là kẻ “nòi tình”, chuyện kể lại là “kỷ niệm… sống thực” của chính tác giả, với một chút mắm muối gia vị cho có vẻ “văn chương”. Những chuyện tình yêu được viết bằng lối văn “hoài niệm” nên lời văn trong sáng và hợp lý theo thứ tự thời gian… Rồi phải đợi đến những bài viết sau này về biên khảo hay sử học… (…)

Trở lại năm 75, trong khi tôi đánh vật với cơm áo gạo tiền thì tha nhân tiêu pha chữ nghĩa qua Những trận chiến cũ. Những mất mát đau thương. Những đất khách bơ vơ, v.v… Họ là nhà văn lưu vong bị dằn vặt với “Tại sao viết? Viết cho ai?” qua ngữ cảnh, cảm khái khác nhau…
(…) Tôi là nhà văn sống và viết. Tôi tìm chất liệu ở con người thật của tôi. Khi tôi ở trong quân đội, tôi viết về người lính, khi tôi đào ngũ, tôi viết về kẻ đào ngũ, khi tôi trở lại đơn vị bị giáng lon, thì viết về tâm trạng của người lao công chiến trường… Khi tôi ở trong trại cải tạo, tôi viết về sự thật cảnh tôi vồ chụp lấy thau cơm của bạn tù vì quá đói. (…)
(Trần Hoài Thư)

Qua một người cầm bút đứng bên lề cuộc chiến…
(…) Điên sầu có lẽ là động cơ để viết. Viết cho giết hết mọi hoang liêu? Mới đầu hăm hở viết. Trút tâm sự nhớ nước nhớ nhà vào trang giấy! Thấy đỡ đỡ… buồn. Bèn viết nữa. Ngày nọ qua tháng kia, nỗi buồn vẫn còn nguyên đó. Đọc lại văn, càng thêm ngao ngán. Bởi vì văn chương không chỉ là nỗi nhớ nhà. Tuy nhiên, điều cuối cùng vẫn là ý hướng muốn sống và muốn viết. Tôi tự hỏi “Sống để làm gì?”. Câu hỏi ấy bám lấy tôi cho đến một hôm bật ra tiếng trả lời: “Sống để viết”. Có lẽ, với tôi, bây giờ là câu tôi vừa ý nhất.
(Tường Vũ Anh Thi)

Thế là ngộ chữ tôi bèn…sống để viết. Bởi những năm trung học, sa đà với hai môn sử ký, địa dư nên sau này có mươi bài sưu khảo. Trở lại với ông bạn cũ trường xưa với “Rồi phải đợi đến những bài viết sau này về biên khảo hay sử học …thì”. Thì qua ông bạn khó tính…

       (…) Họ Phí rất chịu khó học hỏi. Có phải là như thế thì đôi lúc lại làm cho tác giả trở thành khó hiểu. Và rất nhiều lần tác giả như quên mất người đọc, cứ… “miên man” viết cho hết những hiểu biết của mình khiến người đọc “hụt hẫng”, chới với vì không theo kịp sự suy nghĩ và diễn tả ý tưởng của tác giả (…).

       Chuyện ngộ chữ tôi viết “khó hiểu” không…dễ hiểu như vậy: Bởi trong viết có phần “lý luận”, mỗi lần ngộ chữ tôi lý giải vòng vòng nó đâm ra khó hiểu một cách vừa phải. Vì vậy phải cô đọng lại…lại khó hiểu cách khác. Vì bí chữ kinh niên như bí ngô, bí khoai nên phải ăn mày chữ nghĩa của ai đấy, đây một đọan, kia một khúc ráp nối lại thành…văn bài của mình. Ít lâu sau đọc lại những đọan văn ấy, chính tôi chớ phở ra là…là viết chẳng giống ai.

      Thảng như qua hai bạn văn của một cô (Lưu Na)

      (….) Tôi muốn gọi chàng là “chàng Phí ngẩn ngơ”. Chàng cứ như ông thầy cúng tay huơ bó nhang mịt mù khói tuôn ra những tràng thần chú lung tung. Khác với Bùi Giáng “điên” trong đời thật, chàng Phí chỉ ngẩn ngơ trong bài viết. Khác với Võ Phiến phơi cái tinh ranh duyên dáng sờ sờ ra nơi hàng chữ. Chàng Phí dấu sau những lời ngẩn ngơ của mình sự tinh quái thông minh, một nụ cười nghịch ngợm ngông cuồng, khinh bạc, giàu chữ nghĩa. Đọc một lúc nào đó sẽ bắt ra được niềm tha thiết mến yêu với chữ đến độ lậm chữ, cuồng chữ, điên chữ (…)

      Và một ông (T-Vấn)…

      (…) Trước hết là ở cái giọng văn. Cái giọng đục thuốc lào lúc nào cũng đầy những câu chữ của ca dao, của tục ngữ, của thơ phú quen thuộc. Giọng văn của Ngộ Không không thể lẫn với bất cứ ai. Trước kia, đương thời, và cả sau này. Trước kia, vì không có tác giả nào tôi đọc qua có cái giọng văn này. Đương thời cũng vậy. Cả sau này vì Ngộ Không là Ngộ Không, tôi không tin rằng sẽ có một Ngộ Không thứ hai. Giữa đám đông, tôi tin rằng mình có thể nhận ra được Ngộ Không. Về khía cạnh này, “người viết mới” Ngộ Không đã đạt được tiêu chuẩn khá gắt gao của nhà văn quá cố Mai Thảo: Phải thoát ra khỏi hiện tượng đồng phục trong bút pháp (…).

       Với ca dao, tục ngữ qua cuộc phỏng vấn nhà văn Lê Minh Hà…

       (…) Được hỏi trong truyện có những câu: “tốt số hơn bố giàu” hay “bắc bếp nấu ăn, nằm lăn đánh bạc”.Nhà văn Lê Minh Hà trả lời:

       – Bà nội tôi không biết chữ, nhưng nói mười câu là phải ba bốn câu ca dao tục ngữ. Và những bà lão nhà quê mà tôi có dịp hóng chuyện. Họ là một kho từ ngữ ca dao đầy biến ảo.

      Truyện ngắn của chị có nhiều chữ lạ như ngõi, ngẫn ngẫn, to hó, nhảo, nhuôm nhuôm, chỉn chu. Như thế, có cần một chú thích cho các độc giả không?

      – Không có từ nào thật lạ, thật sáng tạo của riêng tôi trong số những từ chị vừa dẫn. Những ngõi, nhảo, nhuôm nhuôm, tôi học từ các bà, các chị ở quê tôi. To hó, từ này tôi mượn của ông Tô Hoài trước năm 45. Ngẫn ngẫn tôi học được từ mấy anh chị đi từ miền Nam. Chỉn chu thì có trong tự điển. Và nói chung, nhiều chữ tôi dùng hiện vẫn được sử dụng hàng ngày ở VN. Vậy thì đâu có cần chú thích. Vì đó là ngôn ngữ văn học không phải là ngôn ngữ thống kê học.

      Nếu người đọc không nắm bắt được thì có thể là tôi đã không chọn từ đúng rồi. (…)

      Cũng như Lê Minh Hà, ngộ chữ tôi khát chữ với ông Tô Hoài…

       (…) Ông rất chú ý học chữ và chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không hiểu. Làm văn thì phải học chữ. Có cách học và chịu khó thì học được. Ông phân biệt cờ nhà chùa thì phải gọi là cờ “điều” chứ không phải là cờ đỏ, sơn đen thì phải gọi là sơn “then”, quần đen thì phải gọi quần “thâm”. (…) – (Nguyễn Đăng Mạnh)

      Bám như cua cắp theo Mai Thảo: “Nhà văn nên biết chút ít chữ Hán. Nếu viết văn không có chữ Hán giống như ngồi ghế không có cái dựa lưng”. Ấy là tôi muốn hấm húi như vậy. Với ”ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” nôm na là chữ dùng không làm thiên hạ giật mình thì chết không…nhắm mắt. Vì vậy ông Võ Phiến tìm được chữ “cấu vào mắt” thi ”lạc bất khả ngôn”, là sướng tê người không nói được

      (…) Tôi đang xun xoe khám phá ra địa phương tính trong cái mới thì chợt nghe bên tai một tiếng cười nghịch ngợm của Trần Dần. Bài Thằng thịt của ông viết năm 1962:

Vũm vĩm, đưa đảy

Một cột thịt lực đực vọt đứng

Thồn thỗn ao thịt

      Vũm vĩm, lực đực, thồn thỗn, e khó bề gặp được trong tự điển. Lời giải đáp chưa thấy, nhưng hiểu đại khái, cảm xúc mơ hồ. Không hiểu. Nhưng nghe thấy hay hay.

      Xưa nay, trong quá trình tiến hóa vẫn có cái được giữ lại, lại có những cái bị đào thải, dần dần mất dạng. Đến nay đã có bao nhiêu thứ tiếng nói xấu số tàn rụi, chết đi, rồi mất tích? Tử ngữ la liệt. Ngôn ngữ vẫn còn táo bạo, vẫn còn sức sống. Mang trên đầu mấy nghìn tuổi thọ mà vẫn sinh động, vẫn mắn con tới tấp những thồn thỗn kháu khỉnh…vũm vĩm. Thích nhá! (…)

       Quang gánh quay quả gánh trở lại với hai bạn văn một cô, một ông ở trên. Tôi được bốc nhằng từ…“ông thầy cúng” đến…rất “nhà quê“, nhà mùa…khinh đời, khinh bạc nghe hãi thật. Thế nhưng đọc ông Nguyễn Hưng Quốc luận vê cách viết tân hình thức, hậu hiện đại còn hãi hơn nữa vì dường như cùng…đồng văn với ngộ chữ tôi thì phải.

       (…) Chữ fiction trong tiếng Anh, vừa có nghĩa là tiểu thuyết vừa có nghĩa là hư cấu. Vì vậy mới có hiện tượng truyện mà không có chuyện. Truyện sáng tác theo phong cách hậu hiện đại đều có vẻ gì như vô lý, bất chấp với lối viết truyện truyền thống như tính thống nhất trong kết cấu cũng như trong giọng điệu, sự mạch lạc trong cốt truyện và sự hợp lý trong tình tiết. Tất cả những tính chất ấy cũng góp phần tạo thành một loại “văn chương đạo văn” (literature of pla giarism), nói theo ngôn ngữ của Raymond Federman.

       Trong cái gọi là nền văn chương đạo văn ấy, người ta có thể sử dụng lại, thậm chí có thể viết lại, vô số các văn bản cũ. Tác phẩm văn học trở thành một bức tranh được cấu tạo bằng nhiều phần mảnh rút ra từ / hoặc được bắt chước từ / nhiều tác phẩm khác nhau. Trong tinh thần hậu hiện đại chủ nghĩa, nhà văn có thể sáng tạo bằng cách nhặt nhạnh những mảnh văn bản có sẵn và lắp ghép lại theo kiểu người ta làm tranh khảm (mosaic). Duy chỉ có một đặc điểm quan trọng là: bức tranh khảm bằng ngôn ngữ ấy không có khuôn sẵn. Cái khuôn ấy là điều mà mỗi nhà văn, khi sáng tác, phải tự tạo ra. Chính đặc điểm này, theo tôi, phân biệt truyện hậu hiện đại và truyện truyền thống Việt Nam kéo dài cho đến tận ngày nay, mọi người cầm bút dường như có một cái khuôn chung được đúc sẵn, ở đó, người ta chỉ làm mỗi một công việc đơn giản là “rót” tồ tồ câu chuyện muốn kể của mình vào. (…)

       Khi không được đứng dưới trướng Raymond Federman của trường phái…đạo văn. Thế nên ngộ chữ tôi không dám nhận mình là nhà văn, bạn bè chửi cho thối đấu. Tuy nhiên ngộ chữ tôi cũng vót chữ gọt câu để có Một chút dối già. Chữ là nghĩa, có bạn đọc chữ nghĩa chẻ làm tư mà rằng “giối già” chứ chả phải…dối già. Lý sự này ngộ chữ tôi …ngộ ra chữ cột với nghĩa. Mà nghĩa thì mông lung, bất định. Lắm khi chữ một đàng nghĩa một nẻo chả biết đâu mà lần. Bèn lọ mọ mót chữ trong Chữ nghĩa làng văn của cụ Ngộ Không. Cứ theo cụ mọt sách mọt chữ thì giối, biến thể ngữ âm của trối. “Trối già” hay “giối già” là làm việc gì được coi như là lần cuối trong đời. Còn “dối già” là làm việc gì để nhân sinh quý thích chí trong tuổi già.

       Đến trần ai khoai củ này, bạn đọc chả chịu hỏi bút danh “Ngộ Không” là nghìa lý gì sất!? Đành dón chuyện muốn có bút danh ngon lành phải theo người thơ Nghiêu Minh lặn lội vào chùa Vào chùa ta hỏi Phật – Phật nhắm mắt lặng thinh. Cho đến một ngày…

       Ta lang thang vào tiệm

       Gọi chai bia ngồi đồng

       Chợt nhìn ông thổ địa

       Cười nhìn ta: Ngộ Không

       Nhưng không ngon sơi như ngồi đồng với bia vì có dây mơ rễ má đến cái tuổi Thân chết tiệt với Tôn Ngộ Không. Theo Ôta Tatsuo, chữ “không” trong ngộ không lấy từ câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” của Bát nhã tâm kinh để răn đe tính…háo sắc. Nghe không xong!. Đành dựa vào Isobe Akira cho biết trên thực tế có ông sư tên hiệu Ngộ Không, đi lấy kinh ở Tây phương cực lạc. Bởi nhẽ đó từ ông sư Ngộ Không, tôi…ngộ ra mình là…thiền sư. Quá đã! Tuy nhiên một lần về Sài Gòn, có bạn chữ nghĩa hỏi Ngộ Không là gì?. Chả lẽ mang Ôta Tatsuo với Bát nhã tâm kinh ra dóng dứ. Bèn báng bổ Ngộ Không là…không ngộ

       Cuối cùng tạp bút Vướng nghiệp bòn gio đãi sạn cũng xong. Nghe vậy bạn đọc giục giặc “Nhà văn là ai? Họ viết cho ai?”. Ngộ chữ tôi ăn mày chữ nghĩa của ai đó: (…) Những nhà văn, sở dĩ là nhà văn, bởi vì họ biết cách trình bầy thế nào để những điều hết sức dễ hiểu thành…khó hiểu. (…). Còn nhà văn viết cho ai ư? Nói cho lắm tắm cởi truồng hãy vay mượn Saint Beuve đã nhận dạng: (…) Họ viết cho…cái tên của họ (…).

       Bạn đọc bối rối như sư đẻ làm nhà văn có khó lắm chăng?

       Ừ thì để làm nhà văn không khó lắm. Tất nhiên nhà văn phải biết cách…chấm câu. (Phùng Nguyễn). Nếu chữ là yếu tố của câu. Câu ngắn câu dài, hay chữ đẹp, chữ đắt. Câu, chữ, quánh, nén, tạo ra một thế giới đơn giản, rất ít lời, lại nhiều việc. Hơi chữ bốc lên hăng hăng và cay không kém gì ớt hiểm thì những câu mới tạo nên một bài văn có văn phong.

       Bỗng không rách giời rơi xuống với bút danh, văn phong. Một ngày không có mây sao có mưa, Ngộ Không tôi hóa thân thành Kim Thánh Thán và tự thán mà rằng: Vướng nghiệp rồi.

       In hịt như bói tóan để chạy trời không khỏi nắng. Số là nhè vào tuổi mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy nên rất hãi chuyện về chầu ông bà ông vải. Trong danh sách điện thư có ông đang ở Sài Gòn không thân quen cho mấy, chỉ nghe hơi nồi chõ ông nói tử vi như trạng. Bèn điện thư hỏi khi nào thì Bao nhiêu năm làm kiếp con người  – Chợt một chiều tóc trắng như vôi – Lá úa trên cao rụng đầy – Cho trăm năm và chết một ngày. Ông thầy dậy rằng ngòai 80 mới mạt vận. Thế là được thể một ngày như mọi bữa, như một ông già ngồi lù đù như cái nấm mọc hút thuốc lá thả phanh. Và ngồi rù rì như con mèo, nhưng là con mèo bợm rượu say bí tỉ cả ngày. 

      Khác với ông thầy bói mù ở Hà Nội mà nghiệp dư một tôi là…Bạch Cư Dị. Bởi Túy ngâm tiên sinh có câu Trời đất sinh ra rượu với văn – Không văn không rượu sống như thừa. Ông thầy tại Sài Gòn với thiên cơ bất khả lậu nếu tôi một ngón tay mổ chữ như cò mổ ruồi trên bàn gõ, mõ sớm chuông chiều về sưu khảo thì chắc cú hơn. Bởi chưng sưu khảo không…bịa được! Vướng nghiệp rồi. Lập thân tối… “dạ” thị văn chương là thế đấy, như thế đó, thưa bạn đọc.  

Thạch trúc gia trang

 Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 (Bính Dậu 2017, viết lại 2020, 2025)

Bài Mới Nhất
Search