NHÂN VẬT (2)

Ảnh (bbc.com)

Phạm Quỳnh

Về việc bắt Phạm Quỳnh, trong bài “Chiếm thành Huế” do Tố Hữu *, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Huế kể cho Tô Hoài ghi, đăng ở Đặc san Cứu quốc (8-1946, trang 31):

“Mười hai giờ rưỡi, một chiếc ô tô đi về phía Hương Cựu đỗ trước ấp Hoa Đường. Một người thanh niên mặc áo the, khăn đóng chỉnh tề bước vào dinh Phạm Quỳnh. Người thanh niên cởi áo dài, lộ dưới ngực một dấu hiệu sao vàng nền đỏ và một khẩu súng sáu giắt bên dây lưng. Vợ con lão đương ăn cơm. Ngó thấy khẩu súng sáu, lão biến sắc, run đứng lên không được. Lão bị điệu ra xe, chở đi”.

Tháng 8 năm 1945, Phạm Quỳnh bị bắn ở cánh rừng Hắc Thú, Huế.

(nguồn: Sơn Tùng – 8-12-2008)

* Ngòai ra ”Đao phủ thủ văn hóa Tố Hữu” là tên mà

nhà phê bình văn học Hà Nội đặt cho Tố Hữu.

***

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, kế vị Nguyễn Hòang, lên ngôi chúa lúc 50 tuổi, trước đã làm trấn thủ Quảng Nam hơn 10 năm. Chúa cho dựng chùa Long Hưng, Bữu Châu và đóng góp nhiều công đức cho Phật giáo nên được dân chúng tôn xưng là chúa Sãi, Phật chủ, Phật chúa.

Chúa Sãi mặc quần áo cà sa, ăn chay niệm Phật nên cư dân lập chợ, gọi là chợ Sãi.

***

Chúa Sải Vương Nguyễn Phúc Nguyên gả quận chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetha II, nhằm xin triều đình Chân Lạp cho phép người dân Việt buôn bán tại vùng Morea (tức Bà Rịa) và Prei Nokor (tức Sài Gòn), và được mở trạm thâu thuế.

Sau khi Chey Chetha II từ trần, những vùng đất Prei Nokor, Morea, Do Nai (Đồng Nai), đã có nhiều quân dân Việt đến ở. Sau đó dần dần thuộc quyền kiểm soát của chúa Nguyễn như: Kampong Srakartrey (Biên Hòa) vào năm 1651; Prah Suakea hay Morea (Bà Rịa) vào năm 1651 và  Kampong Krabey Prei Nokor (Sài Gòn) vào năm 1696.

Tóm lại năm 1679, các tướng quân thuộc lực lượng “Kháng Thanh Phục Minh” mang 3000 di thần, di dân nhà Minh di tản trên 50-60 chiến thuyền tới các cửa tại Thuận An xin tị nạn, thì ông phó vương Miên trấn thủ vùng Thủy Chân Lạp là Nặc Ông Nộn, đang có kinh thành tại Prei Nokor (Sài Gòn), lại là con ruột của công chúa Ngọc Vạn. Chúa Hiền liền viết thư cho Nặc Ông Nộn, yêu cầu chia cấp đất cho 3000 di dân Minh Hương làm ăn sinh sống quanh vùng Prei Nokor, Nặc Ông Nộn đồng ý.

Như vậy, coi như đã sáng tỏ việc tại sao, Dương Ngạn Địch đã được phép triều đình Huế đem thuyền chở người đến vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) và Trần Thượng Xuyênđem thuyền chở ngườivào cửa Cần Giờ (Bến Nghé)

(Huỳnh Thị Mỹ Nhàn)

***

Lúc ấy Nặc Ông Nộn đang cai quản vùng Đồng Nai-Mỏ Xòai được chúa Nguyễn đưa về Chân Lạp làm vua.

Đồng Nai-Gia Định đã yên ổn vững vàng, chúa Nguyễn Phúc Chu lập 2 dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Định) và lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình.

Nhà chúa mộ thêm lưu dân từ Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) vào đây sinh sống, và được chia đât lập làng xã.

***

Đồng thời nhóm Mạc Cửu cũng xin dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn. Con cháu của Nặc Ông Nộn lại được chúa Nguyễn lên ngôi vua (1756), nên xin dâng thêm đất Trà Vinh, An Giang. Chúa Nguyễn đặt Rạch Giá thành đạo Kiên Giang, Cà Mau thành đạo Long Xuyên, lập đạo Tân Châu (ở Tiền Giang), và đạo Châu Đốc (ở Hậu Giang). Nhờ vậy đất đai của nhà chúa tỏa rộng từ Tiền Giang, Hậu Giang đến vịnh Xiêm La. Hay nói khác đi, giờ đây đất đai của Thủy Chân Lạp đã thuộc về nhà Nguyễn.

(Trần Văn Miêng)

***

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Thái sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược đất Thủy Chân Lạp (miền Nam), chia đất Đông Phố thành hai huyện: lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa), lấy xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (Gia Định), rồi chiêu mộ dân nghèo ở Quảng Nam, Qủng Ngãi vào khai phá đất đai, lập nên các thôn ấp trù phú ở miền Nam. (Trần Đức Anh Sơn)

***

dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều “cây vắp”, từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp.

***

Được sự trợ giúp của chúa Nguyễn, hai lần quân Xiêm (1621 và 1623) bị đẩy lui. Sau sự việc này, chúa Nguyễn xin vua Chân Lạp cho phép dân Việt đến khai khẩn đất đai trong vùng đất Kampong Krabei tên Việt là Bến Nghé.

Theo Petrus Ký: Bến Nghé từ tiếng Khmer là Kampong Krabei (hay Prei Kor) với nghĩa vũng trâu hay bến trâu

Năm 1777, quân Tây Sơn đánh Cù Lao Phố, người Hoa kéo nhau về “Sài Gòn” (sau này gọi là Chợ Lớn) lập thành phố khác. Crawford (người Anh) cho hay “Bến Nghé” và “Sài Gòn” (Chợ Lớn) là 2 thành phố khác biệt, cách nhau độ 1, 2 dặm. Bến Nghé là đồn binh, “Sài Gòn” (Chợ Lớn) là phố buôn bán của người Hoa

Do từ Bến Nghé khó phát âm đối với người Pháp hơn là từ “Sài Gòn”. Nên người Pháp gọi Bến Nghé là Sài Gòn.

Vì vậy Bến Nghé xưa kia là Sài Gòn sau này.

(Trần Văn Miêng)

***

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được gọi là chúa Sãi vì nhà chúa ăn chay và mặc quần áo như thiền sư.

Chúa lập ra ngôi chợ ở phía đông Ái Tử, dân tình gọi là chợ Sãi.

***

Ngòai ra, gần cuối năm nhâm thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay.

Vì vậy hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở bắc Cao Ly.

***

NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)

Bài Mới Nhất
Search