ngộ không;cnlv

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 140)

    Truyện Kiều với Hoàng Xuân Hãn (II) Theo Đại Nam chính biên liệt truyện viết: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm, tự Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều truyện hành thế”. Nghĩa là Nguyễn Du có tài về thơ chữ Hán lại giỏi về thơ quốc

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 139)

    Chữ nghĩa làng văn Tùy bút – tùy hứng là phóng bút – là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy: Một cơn mưa, một giọng hát, một hớp trà, một trang sách, một tà áo phất phơ dưới gió, một tiếng ve rỉ rả trong rừng…

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 138)

Tiếng Tàu tiếng Việt Thủy ngưu đâu phải là trâu nước mà là con trâu cày của ta. Vì theo người Tàu ngưu là con bò, ngưu nãi là sữa bò chứ nào phải sữa trâu? Vì bên Tàu không có trâu. Con cúi Đàn bà con gái xắn quần lên Cái gì trăng trắng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chuyện làng văn xóm chữ với bút hiệu (5)

Mô phỏng theo tên người nổi tiếng Ơ đầu thế kỷ 20, nhà thơ trào phúng nổi danh nhất là Trần Tế Xương, đỗ tú tài nên người ta thường gọi ông là nhà thơ Tú Xương. Thế là hàng loạt người làm thơ trào phúng sau ông muốn tôn ông là “sư phụ” nên

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 113)

  Ngôn ngữ Nói năng là ngôn ngữ: tự mình nói là “ngôn”. Đáp lại lời kẻ khác là “ngữ”. Sách có câu “Ngôn nhất thuyết ký xuất, tứ mã nan truy” nghĩa là “một lời nói ra bốn con ngựa chạy theo không kịp”. Nguồn gốc tiếng Việt III Trong quyển Nguồn Gốc Mã

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 71)

Tết và tiết Chữ “Tết” đồng âm với chữ “Tiết” trong 24 “tiết khí” của lịch nông nghiệp. Tết Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của Tiết lập xuân, là ngày khởi đầu cho việc trồng trọt, gọi là ngày Nguyên Đán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu nhầm

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 66)

Nghi vấn làng văn Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời có hai truyện Thả thơ và Đánh thơ rất gần với lối chơi Nhã Lệnh và Trù Lệnh của Trung Hoa (Cảo Thơm 1962 trang 61-100). Không biết có phải người mình bắt chước họ hay không? (Nguyễn Duy Chính – Ấm Nghi Hưng

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 63)

Văn học miền Nam (II) Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 60)

Giá sách cũ làng văn 1975-2010 Lớp nhà văn từ 70 tuổi trở lên… Những nhà văn còn sót lại của lớp tuổi trên 70 có thể đếm trên đầu ngón tay. Như Doãn Quốc Sĩ sau 1975, ở hải ngoại, ông cho xuất bản Mình lại soi mình (1981), Người vái tứ phương (1982),

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Tác Giả và Tác Phẩm – Hoàng Dung (I)

Tiểu sử Tên thât: Hoàng Xuân Trường, sinh ngày 5.6.1945, Hà Nội. Hiện ngụ cư tại Virginia Tác phẩm Đi Vào Cõi Vô Cùng – Chiến Tranh Đông Dương 3 – Sau Bức Màn Đỏ   Vài hàng về tác giả Hoàng Khởi Phong Tôi không biết phải gọi Hoàng Dung, tác giả cuốn sách

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 59)

Chữ nghĩa làng văn Chính sự giao lưu giữa các nền văn hóa ở miền núi đã sản sinh ra những loại từ như “chó má“, “tre pheo“, “vườn tược“. “Chó”, “tre”, “vườn” là tiếng Việt, – “má” là tiếng chỉ “chó” của người Tày (to ma). – “pheo” và “tược” là tiếng chỉ “tre”

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 58)

Tiếng Việt dễ mà lại khó Em thấy sự khác nhau giữa các miền về phương ngữ, giọng nói, v.v… nói lên sự phong phú và là niềm tự hào về tiếng Việt. Chính vì cái diversity đó mà em rất yêu tiếng Việt. Sự thật mà nói thì mình thấy tiếng Việt giữa các

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ