ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 271)

Văn hóa ẩm thực: Thịt kho tàu Thịt kho tàu không phải là món ăn của người…Tầu. Đúng ra là “tàu”. Tàu đây hiểu theo người Nam ở miệt dưới như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ. Tàu nghĩa là…“lạt”. Và kho tàu là kho lạt lạt chứ không phải là kho mặn.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 270)

Hồi ký Hồi ký của tác giả cộng sản ngoài Hà Nội có những nét riêng của nó không trộn lộn được với ai. Trong Từ Bến Sông Thương do nhà xuất bản Văn Học in năm 1986, nữ sĩ Anh Thơ kể chuyện những mối tình của người ta và chuyện đời văn của

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 268)

Ben Ben: đi theo (ai thong thả trâu nào ben cho kịp) (Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện) Từ điển văn học bộ mới Vừa được phát hành đầu năm 2005, là tái bản của Từ Điển cùng tên, ra đời trước đây hai mươi năm và có nhiều

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 268)

Tuyển tập thơ đầu tiên Lê Quý Đôn soạn bộ Toàn Việt thi lục, sách soạn xong năm Mậu Tý 1768 thời vua Lê Hiển Tông. Gồm 20 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Trần. Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam thượng (Thái

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 267)

 Ăn mày chữ nghĩa Khổng Tử đi chơi ra phía đông, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng: “Tôi thì tôi cho mặt trời, lúc mới mọc, ở gần ta hơn. Về buổi trưa, ở xa ta hơn.”Còn một đứa nói: “Tôi thì tôi cho mặt trời

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 266)

Tết và tiết Chữ “Tết” đồng âm với chữ “Tiết” trong 24 “tiết khí” của lịch nông nghiệp. Tết Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của Tiết lập xuân, là ngày khởi đầu cho việc trồng trọt, gọi là ngày Nguyên Đán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu nhầm

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 265)

Sông Tương  Đó là dòng sông cổ tích, dòng sông huyền thoại của: Ngày xưa có anh Trương ChiNgười thì thậm xấu, hát thì thậm hay Với cảm hứng “ai về Kinh Bắc” – nhạc sỹ Văn Cao đã sáng tác bài “Trương Chi” réo rắt bổng trầm bất hủ “ai có về bên bến sông Tương,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 264)

Chữ nghĩa làng văn II Năm tôi (Nguyễn Dữ) học lớp nhất trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây (Thị Nghè, 1954) gặp mấy chuyện nửa cười nửa mếu. Và xin bắt đầu lại câu chuyện, mỗi tuần phải viết một bài chánh tả. Viết xong, cả lớp đổi tập cho nhau. Cô giáo đọc lại,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 262)

Lúa Chiêm Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè, thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông, xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 261)

Giai thoại làng văn Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh: – Ông Lành (tức Tố Hữu) đang nói sao cậu lại cười?  Khải sợ quá, vội chối: – Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu! (Hồi ký

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 260)

Ngôn sử 3 Khi vừa tốt nghiệp cử nhân văn khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, hắn mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử”. Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp philologie, tôi

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 258)

Bắn sẻ Do chữ “xạ tước”, nghĩa là bắn…con chim sẻ. Do tích Đậu Nghi vẽ con chim sẻ trên tấm bình phong và hứa ai bắn được trúng chim sẻ gả con gái cho. Lý Uyên, tức vua Đường Cao Tổ sau này, bắn trúng và…được vợ. Cung oán ngâm khúc có câu “Làng

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ