ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 265)

Sông Tương  Đó là dòng sông cổ tích, dòng sông huyền thoại của: Ngày xưa có anh Trương ChiNgười thì thậm xấu, hát thì thậm hay Với cảm hứng “ai về Kinh Bắc” – nhạc sỹ Văn Cao đã sáng tác bài “Trương Chi” réo rắt bổng trầm bất hủ “ai có về bên bến sông Tương,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 264)

Chữ nghĩa làng văn II Năm tôi (Nguyễn Dữ) học lớp nhất trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây (Thị Nghè, 1954) gặp mấy chuyện nửa cười nửa mếu. Và xin bắt đầu lại câu chuyện, mỗi tuần phải viết một bài chánh tả. Viết xong, cả lớp đổi tập cho nhau. Cô giáo đọc lại,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 262)

Lúa Chiêm Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè, thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông, xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 261)

Giai thoại làng văn Nguyễn Khải cũng kể lại, hôm ấy anh ngồi chủ tịch đoàn. Có một cậu nói nhỏ với anh: – Ông Lành (tức Tố Hữu) đang nói sao cậu lại cười?  Khải sợ quá, vội chối: – Không, răng tôi nó hô đấy chứ, tôi có dám cười đâu! (Hồi ký

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 260)

Ngôn sử 3 Khi vừa tốt nghiệp cử nhân văn khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, hắn mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử”. Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp philologie, tôi

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 258)

Bắn sẻ Do chữ “xạ tước”, nghĩa là bắn…con chim sẻ. Do tích Đậu Nghi vẽ con chim sẻ trên tấm bình phong và hứa ai bắn được trúng chim sẻ gả con gái cho. Lý Uyên, tức vua Đường Cao Tổ sau này, bắn trúng và…được vợ. Cung oán ngâm khúc có câu “Làng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 257)

Giai thoại làng văn Hoài Thanhcon người sinh ra để đọc thơ, bình thơ, có lần nói với tôi: Có một bữa, ông Hoài Thanh nằm trên giường, có vẻ mệt. Bỗng ông nói với con: “Cha mà không có anh Lành (Tố Hữu) thì Bùi Công Trừng nó giết cha rồi!”. Té ra là

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 255)

Tiếng Việt trong sáng “Khủng”, từ trong nước, được một “bộ phận” giới trẻ và giới báo chí dùng. Từ cũ là “kinh khủng” hay ” khủng khiếp” (dịch từ “awful” / “awfully” trong tiếng Anh). Bây giờ, người ta cắt gọn lại cho nó…”khủng” hơn. Thí dụ: nói về một món hàng, một thiết bị công

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 254)

Chữ Hán Trong một buổi nói chuyện với bằng hữu, Mai Thảo cho hay ông rất tiếc không biết chữ Hán. Vì theo ông: Viết văn không biết chữ Hán như ngồi ghế không có…cái tựa lưng. Ca dao cổ phong Cổ phong là thể thơ lâu đời ở Trung Hoa. Khi mượn chữ viết

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 237)

Kiến văn tiểu lục Cách đây 300 năm, cụ Tam nguyên Duyên Hà Lê Quý Đôn viết sách Kiến văn tiểu lục (chép vặt những điều thấy nghe) ghi chép lại trong sách những chuyện hay, nhỏ, vui, lạ và khoảng 100 câu người xưa để lại từ đời Trần đến đời Lê những lời

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 236)

Chữ nghĩa làng văn Ở trong nước, trong nhà, sau 1975 không có thứ tự do viết. Cho nên, hình như tác phẩm nào “phạm húy” đều được chú ý, tò mò, để trở thành bán chạy, và nổi tiếng. Người viết, và cả người đọc bị sống trong không khí thúc bách khác thường.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 230)

Chữ nghĩa làng văn Chỉ với truyện ngắn, người ta mới biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng câu. Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng. Truyện ngắn là nơi ta có thể thử tìm phong cách cho mình. Truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện. Ở đây, ta được

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ