Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 255)

Tiếng Việt trong sáng

“Khủng”, từ trong nước, được một “bộ phận” giới trẻ và giới báo chí dùng. Từ cũ là “kinh khủng” hay ” khủng khiếp” (dịch từ “awful” / “awfully” trong tiếng Anh).

Bây giờ, người ta cắt gọn lại cho nó…”khủng” hơn.

Thí dụ: nói về một món hàng, một thiết bị công nghệ “tối tân”, “mới ra lò” chẳng hạn, toà báo có thể chạy tít: “Microsoft vừa tung ra thị trường một thiết bị “khủng”. Hoặc, thậm chí, tít chạy trong một bản tin xã hội hay giải trí: “Mười mỹ nhân sở hữu vòng một “khủng’ nhất thế giới”, hay: “Những người đẹp có vòng ba ‘khủng’ nhất hành tinh” (!!!).

(Bùi Vĩnh Phú – Trên những đường bay của chữ)

Thơ mới

Nguyễn Đức Tùng: Nhân cách của nhà thơ biểu hiện qua phong cách, giọng điệu. Phong trào Thơ Mới và văn học trước 1945 như Tự lực Văn đoàn, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, cùng thời với anh, đã ảnh hưởng đến phong cách của anh ra sao?

 Dương Tường: Tôi sinh năm 1932. Như thế là tôi sống qua thời kỳ Thơ Mới, tất nhiên là thế hệ của tôi, bạn bè tôi đều thấm đẫm tinh thần của thời kì vàng son rực rỡ đó. Nhưng ảnh hưởng của họ đối với tôi thì không đơn giản. Ví dụ như vào thời đó nhiều người thích thơ Xuân Diệu nhưng tôi lại không. Thời đó tôi thường nói đùa với bạn bè rằng ông Lamartine ngủ với ông Verlaine thì đẻ ra Xuân Diệu.

Nguyễn Đức Tùng: Ý anh nói là Xuân Diệu không có gì mới cả.
Dương Tường: Đúng thế. Ông ấy chính là hậu duệ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà Lamartine và Verlaine là tiêu biểu, chứ đối với tôi vào thời đó thì không có gì mới cả.

(Phụ đính: Dương Tường là nhà thơ, dịch giả. Nguyễn Đức Tùng là nhà phê bình thơ thuộc thế hệ trẻ. Cả hai đều ở trong nước)

(Nguyễn Đức Tùng – Viết không khác người ta thì đừng viết)

Lác

Lác: thưa thớt, một vài

(mưa lác đác)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Văn hóa người Việt xưa

Thời Hậu Lê 1663, S. Baron người Hòa Lan lai Bắc kỳ sinh ở Thăng Long viết về Đàng Ngoài đề cập đến sử ký, địa dư, văn hóa dân tộc, phong tục, chính sự và y học nước ta qua một quyển sách giới thiệu Đàng Ngoài cho người Anh đọc có tên A Description of the Kinhdom of Tonkin (Thăng Long – Kẻ Chợ).

S. Baron nhận xét người Việt ở thế kỷ 17 như sau:

“Người Việt tầm vóc nhỏ bé, tính tình nhu hòa, hiền hậu, không nóng nẩy nhưng hèn yếu. Ưa ganh tị, ưa khoác lác, hay mê tín dị đoan, lại ở bẩn.

Hiếu học chẳng phải ham hiểu biết mà vì muốn đạt mục đích ra làm quan. Không ưa đi đây đi đó mà cũng không tin lời những người xuất dương thấy rộng nhìn xa. Tự cao tự đại cứ cho người Việt Nam mình là nhất.

Nghệ nhân tài giỏi không phải là không có nhưng bị vùi dập.

(Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Lối xưa xe ngựa…)

Tiếng Tầu dễ mà khó

Vu nghĩa là đi qua. Qui là về, là con rùa.

Vu quy là con gái về nhà chồng, không là con rùa về nhà chồng.

Vì chữ “qui” viết bằng bộ “chỉ” như trong chữ vu qui đây có nghĩa là…vợ bị chồng bỏ. Tuy nhiên, nếu như chữ “qui” là con rùa viết với bộ “sước” có nghĩa là…chồng để cho vợ bán dâm.

(Việttide)

Ai là tác giả ca dao?

Thống kê về ca dao cho biết:

Tình yêu                  5880 bài      47,1%

Nhà nông                  698 bài        5,6%

Vợ chồng                    61 bài        0,5%

Vua quan                    71 bài        0,6%

Giàu nghèo                 76 bài        0,6%

Tín ngưỡng                 87 bài        0,7%

Như vậy tình tự là thể tài chính của ca dao, chứ không phải là chuyện cày.Như thế ca dao không phải để phản ảnh đời sống của nhà nông. Muốn làm thơ tình tự (sau này là ca dao) phải trên thông thiên văn dưới thuộc lòng địa lý với nhân sinh quan, xã hội quan (đôi khi có cả vũ trụ quan) thì “còn ai trồng khoai đất này”, không ai ngòai những hàn nho.

Những hàn nho không thành đạt, làm thày đồ, làm thày thuộc và đôi khi phải cày cấy nữa. Hàng ngày chen vai thích cánh với dân tình. Họ chính là những người đóng góp vào nền văn chương truyền khẩu qua ca dao.

(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Chuyện chữ nghĩa

Thời cụ Nguyễn Du thế kỷ 18 và 19, về thịt chó cụ viết trong bài Hành lạc từ như sau:

Tội gì ngàn năm lo

Có chó cứ làm thịt

Có rượu cứ nghiêng bầu

Được thua trên đời chưa dễ biết

(bản dịch của cụ Lê Thước)

Sát bên nước ta là ông Tầu cũng nhậu thịt chó. Chứng cớ chữ “nhiên” là nhúm lửa gồm 3 chữ ghép lại: Chữ nhục là thịt, chữ khuyển là chó nằm ở trên chữ hỏa là lửa.

Riêng chữ hành lạc ngày xưa của cụ Nguyễn Du khác với chữ…hành lạc ngày nay.

Lạ cực kỳ…! Thôi nhá!

(Trà Lũ – Lá thư Canada)

Triết lý củ khoai

Lúc bé, tưởng thành người lớn là lớn, bây giờ thấy nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn. Và đến khi thật sự thành người lớn thì người ta sẽ biết không bao giờ bé trở lại được.

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Cái trâm

Tục này chỉ là một thứ bí truyền do người mẹ thủ thỉ “tâm sự” ngầm với con gái vào buổi trước khi về nhà chồng. Thời trước, cô dâu quấn khăn nhiễu trên đầu, có đính mấy chiếc kim trên khăn là đủ hiểu rồi. Vì có những trường hợp mẹ mất sớm hoặc đám cưới xa quê vắng mẹ, nên nhiều bà mẹ thời nay không biết để truyền tiếp cho con gái.

Hoặc mẹ vợ đưa cho con rể nhưng bà chỉ đưa 7 chiếc kim.

Xuất sứ của tục này là đề phòng tai biến “phạm phòng”.

“Phạm phòng”là gì? Nói thô tục là chết ngay trên bụng vợ khi quan hệ vợ chồng. Ca dao tục ngữ có câu “nhất phạm phòng, nhì lòng lợn” có nghĩa là:

Được ăn lòng lợn ngon miệng, dẫu…chết cũng…sướng.

Chữ nghĩa làng…nhậu

Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tại thị

Rượu nhập vào người như chó điên ngoài chợ.

(Cẩu cuồng là cái đèn, đây là đèn sáng ngoài chợ. Còn chữ “cẩu cuồng” là con chó có 2 móc chéo nằm ngang như 2 cái xương)

Tửu sử ngoại truyện

Thế kỷ 14, người Nhật mượn bến Vân Đồn làm ngõ thông thương qua đất Đại Việt để mang về tơ lụa, đồ gốm. Thời đó họ chưa biết làm đồ gốm. Bát uống trà của trà đạo sau này chính là đồ gốm Chu Đậu trước kia. Trà cụ đầu tiên do thiền sư Raku Zengoro, thời lãnh chúa Ashikara mang về cho thiền viện Kasuga có dáng bát trà đời Lý, được gọi là An Nam Yaki của làng Chu Đậu thời Lê Mạc và được trưng bày ở bảo tàng viện Tokyo và Nagoyga.

Vương Hồng Sển trong Khảo cổ về đồ sứ men lam Huế viết: Người Việt uống chè xanh, chè vối bằng bát. Lại nữa bát trà mang hình thái bình bát của các tăng sư ta, nên ảnh hưởng đến chén tống (temmonlu) của người Nhật sau này.

Cũng theo Vương Hồng Sển:

Chén Tống trước để uống trà, sau để uống rượu.

(Nguồn: Vương Hồng Sển)

Sách giáo khoa

Tôi cho rằng dạy văn thì phải đúng là dạy văn, chương trình văn học thì phải đúng là chương trình văn học. Vẫn quan tâm tới vấn đề tư tưởng, nhưng phải có phẩm chất văn học thật sự. Vẫn tuyển lựa nhiều tác giả, nhưng tập trung vào chín ông nhà văn. Chín vị này được tuyển nhiều hơn những tác giả khác, có bài khái quát riêng về tác giả. Đó là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nam Cao.

Tất nhiên không phải chỉ có chín ông này là lớn hơn cả, cũng phải cân nhắc nhiều mặt: có miền Nam, miền Bắc; có giai đoạn lịch sử này, giai đoạn lịch sử kia; tiêu biểu cho những trường phái văn học nhất định. Tinh thần đổi mới của chương trình này là: dạy văn phải đúng là dạy văn, lịch sử văn học phải đúng là lịch sử văn học, chứ không phải dạy lịch sử chính trị, lịch sử xã hội

(Nguyễn Đăng Mạnh – Dạy văn thì phải đúng là dạy văn)

Ca dao cổ phong

Cổ phong là thể thơ lâu đời ở Tàu. Khi mượn chữ viết của họ, ta tìm hiểu văn hóa của họ. Thể thơ trong Kinh Thi rất giản dị, nó chỉ là những câu dài bằng nhau được đặt kế tiếp nhau, không đòi hỏi phải có vần. Nhà nho ta dựa theo thể làm thơ chữ Hán, rồi sau đó làm thơ tiếng Việt, sau đấy để có những bài ca dao giản dị như:

Sáng mài cưa

Trưa mài đục

Tối dục cơm

Hoặc giả như:

Con chim sáo sậu

Ăn cơm nhà cậu

Uống nước nhà cô

Đánh vỡ bát ngô

Bà cô phải đền

(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Thành ngữ và danh ngôn

Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ…Nay con cháu mai sau đời sau chế tác “lung tung, trống kèn” những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ:
• Có những điều mà 1 ngưòi không biết, 2 người không biết, 3 người , 4 người… cũng không biết thì đơn giản là họ có biết cái quái gì đâu.
• Thà ngu vì thiếu i ốt còn hơn là thiếu i ốt mà vẫn ngu

(Hic! Nó nói cái gì thế).
• Trông mày khôn lắm cơ! Thằng ngu ạ.

Chữ nghĩa làng văn xóm chữ

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Việt là thứ tiếng đứng thứ 12 trên thế giới về số đông người nói là 83 triệu. Tiếng Việt vay mượn rất nhiều từ ngữ 58thứ tiếng lớn nhỏ ở  nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm.

Như cụ Nguyễn Gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết :

“Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán”

“đành hanh” là tiếng gốc Chàm, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị

(Nguyễn Hy Vọng – sưu tầm & tản mạn)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Đánh răng: Không phải là đánh, đập cho răng đau.

Mà là dùng bàn chải và kem làm cho sạch răng.

(Nguồn: từ sổ tay của một người Mỹ học tiếng Việt)

Câu đố

Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo tính quan niệm của hình ảnh/ Có một số hình ảnh lặp đi lặp lại trong một số câu đố khác nhau. Chúng cho thấy việc dùng những hình ảnh này đã phản ánh một sự nhìn nhận, một quan niệm về đối tượng được đề cập. Dưới đây là một số các hình ảnh này:

“Con đánh mẹ, mẹ la làng,
Làng ra, con lại nằm ngang trên đầu”

(Cái dùi và cái mõ)
Hình ảnh “mẹ – con” của vật không phải người hay động vật mà là dụng cụ gồm hai loại bộ phận rời, thì bộ phận lớn là “mẹ”, bộ phận bé là “con”.
(Triều Nguyễn – Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố)

Góp nhặt sỏi đá!

Hỏi : Tui mù tiếng Việt, ngó mấy câu ca dao này tui mù chớt luôn!

Nhờ ông thày bày dùm, tui cám ơn thiệt tình.

– Đồ láu cá láu tôm

– Chó có váy lĩnh
– Chỉ đâm ba chầy củ

Đáp: Để tui…“Ăn đàng sóng nói đàng gió” à nha.

(DatViet.com – Trau giồi tiếng Việt)

Chữ Việt gốc Tầu

Chữ Việt gốc Tầu là một đặc thù của văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, là những chữ, mà ta dùng thẳng từ của người Tầu và dùng âm của mẫu tự quốc ngữ viết lại. Như:

Chí quách (còn gọi là xí quách) với chí là heo và quách là xương, chay (kiêng thịt).

Dầu chá quẩy nghĩa là “quỷ chiên dầu”, quỷ đây là vợ chồng Tần Cối (còn gọi là dầu cháo quẩy).

Bò bía là bánh tráng cuốn củ sắn, tôm khô nhỏ, lạp xưởng đậu phọng rang.

Há cảo với há là tôm, cảo là bánh tức bánh tôm..v..v..

Cón là láng. Ta ghép chữ thành lán cón, thật sạch, lán cón.

(Lê Ngọc Trụ – Tầm nguyên tự điển Việt Nam)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Trong Phụ nữ tân văn số 5-1929 có bài thơ tựa đề Sài Gòn của tác giả Hải Khách:

Sài Gòn nguyên thị nhất đô hội

Đủ Tây, Chà, Chệt, Mọi, Cao Mên

Kể chi là đất người quen

Tiêu khiển cũng một đôi phen lếu láo

Vậy người Nam đã gọi người Hoa là “chệt”  trước thập niên 30.

(Phan Anh – Chùa Hoa)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search