01/08/2014
Lưu Na&Phạm Đức Nhì : ĐỒN & CŨNG CHỈ LÀ LỜI ĐỒN

clip_image001

Lưu Na : Đồn

Nhân đọc bài Sông Lấp –Một Bài Thơ Tòan Bích của Phạm Đức Nhì, chợt nhớ một lời đồn.

Đại khái là Tú Xương có giao tình với Phan Bội Châu lúc đó đang trong phong trào chống Pháp.  Chỗ bến đò mà Tú Xương cảm hoài chính là chỗ ban đêm nghĩa quân lén qua sông nên giả tiếng ếch kêu để làm hiệu.  Khi đã xảy đàn tan nghé, ông tú Vị Xương mới đêm nằm nghe ếch bên tai mà nhớ lúc xưa, và giật mình còn ngỡ (tưởng) tiếng ai gọi đò.  Không biết điều ấy thật bao nhiêu vì Tú Xương không bao giờ nói cho chúng ta biết, nhưng cái lời đồn đó làm cho bài thơ càng thêm nỗi ngậm ngùi, vì tang thương của đất trời chồng lên thêm với cái dâu bể của thời cuộc.  Cái buồn trong hơi thơ của Tú Xương càng sâu lắng.
Cũng trong cái khoảng chống Pháp ấy thì nghĩa quân phải sinh hoạt như một hội kín, lúc hội họp gặp nhau hân hoan tình đồng chí đệ huynh, mà ra khỏi chốn bí mật ấy thì buồn bã phải coi nhau như người dưng nước lã, nên thành câu sao đang vui vẻ ra buồn bã _ vừa mới quen thân đã lạ lùng.

Đó là bài thơ Nhớ Bạn Phương Trời của Trần Tế Xương:

Ta nhớ người xa cách núi sông

Người xa xa có nhớ ta không

Sao đang vui vẻ ra buồn bã

Vừa mới quen thân đã lạ lùng

Khi thấy thấy gì trong mộng tưởng

Nỗi riêng riêng đến cả tình chung

Tương tư lọ phải là trai gái

Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

Bài thơ được cho là lời nhắn gửi âm thầm đến Phan Bội Châu, một tâm tình nhớ bạn _ ta nhớ người xa cách núi sông, người xa, xa có nhớ ta không. Những câu sau nói lên hoàn cảnh tâm tình của lớp người chống Pháp.  Sinh hoạt trốn lánh kiểu hội kín (mượn chữ của Tạ Chí Đại Trường), nỗi niềm riêng phải sống để dạ chết mang theo chứ không thể thổ lộ ngay cả với người đồng tịch đồng sàng _ nỗi riêng riêng đến cả tình chung.

Trong đêm vắng nỗi buồn thật mênh mang _ một ngọn đèn một tiếng trống, lại nhuốm chút đắng cay chua chát, đó chính một trademark trong hơi thơ của Tú Xương, trong những lời kiêu bạc mà chứa đầy nỗi cô đơn:

Tương tư lọ phải là trai gái

Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

Nói cho ngay tình, cả cái tựa của bài bài thơ nhớ bạn tôi cũng không dám chắc là đúng, và những gì đọc được cũng chỉ là đồn đoán (bàn đề!!!!) khi còn đang học trung học, nhưng lúc đó đọc được 2 câu đầu thôi mà nỗi buồn man mác không nói ra lời vương mãi vào lòng.

Phải chăng lời đồn cũng có lời thi vị làm mình muốn nhớ hoài?

Lưu Na

01/09/2014

 Phạm Đức Nhì : CŨNG  CHỈ  LÀ  LỜI  ĐỒN

“Mẩu viết ngắn” với cái tựa chỉ có một chữ Đồn nhưng đã thổi một luồng gió mát vào bài viết khá khô khan của tôi. Trong số những phản hồi về bài viết Sông Lấp: Một Bài Thơ Toàn Bích, tôi thích nhất là “mẩu viết ngắn” ấy. Nó đã cho người đọc một góc nhìn mới về bài thơ Sông Lấp và đưa dẫn tứ, ý của bài thơ về một chân trời mới. Theo  Lưu Na, tác giả của “luồng gió mát”, thì có lời đồn như sau:

Đại khái là Tú Xương có giao tình với Phan Bội Châu lúc đó đang trong phong trào chống Pháp.  Chỗ bến đò mà Tú Xương cảm hoài chính là chỗ ban đêm nghĩa quân lén qua sông nên giả tiếng ếch kêu để làm hiệu.  Khi đã xảy đàn tan nghé, ông Tú Vị Xương mới đêm nằm nghe tiếng ếch bên tai mà nhớ lúc xưa, và giật mình còn ngỡ (tưởng) tiếng ai gọi đò…

    Lời đồn ấy có thể tin được lắm chứ! Phan Bội Châu sinh năm 1867, lớn hơn Tú Xương 3 tuổi,  đỗ Giải Nguyên năm 1900.

Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt Nam kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh,Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại,…(1)

Tuy Tú Xương không nằm trong danh sách những nhà yêu nước, cùng với Phan Bội Châu, có những hoạt động tích cực chống Pháp, nhưng với văn tài, với những bài thơ thấm đẫm lòng yêu nước của ông, việc Phan Bội Châu có giao tình với ông là việc có thể xảy ra lắm. Thêm vào đó lại còn bài thơ Nhớ Bạn Phương Trời (2)

Ta nhớ người xa cách núi sông

Người xa, xa lắm, nhớ ta không?

Sao đang vui vẻ ra buồn bã?

Vừa mới quen nhau đã lạ lùng

Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng

Nỗi riêng riêng cả đến tình chung

Tương tư lọ phải là trai gái

Một ngọn đèn khuya trống điểm thùng

thì tra cứu trong tập Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình, tôi thấy ở phần chú thích đã được ghi rõ ràng là: “Bài này tác giả viết tặng Phan Bội Châu”. Như vậy, phần đầu của lời đồn về mối giao tình đã trở thành sự thật. Riêng phần còn lại của lời đồn:

Chỗ bến đò mà Tú Xương cảm hoài chính là chỗ ban đêm nghĩa quân lén qua sông nên giả tiếng ếch kêu để làm hiệu.  Khi đã xảy đàn tan nghé, ông Tú Vị Xương mới đêm nằm nghe tiếng ếch bên tai mà nhớ lúc xưa, và giật mình còn ngỡ (tưởng) tiếng ai gọi đò…

thì chưa thể kiểm chứng được.

Thôi thì cứ cho toàn bộ lời đồn ấy là thật và xem lại bài Sông Lấp của Tú Xương:

       Sông xưa rày đã nên đồng

       Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

       Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

       Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

trong đó tiếng ai gọi đò (chữ nghiêng) ám chỉ tiếng ếch kêu làm hiệu của nghĩa quân để gọi đò qua sông. Bốn chữ tiếng ai gọi đò được viết nghiêng là để phân biệt với tiếng gọi đò bình thường của khách trong cuộc sống hàng ngày ở bến đò. Để người đọc có thể hiểu được cái ẩn ý ấy người bình thơ phải có một đoạn chú thích để giới thiệu lời đồn.

Nhưng có những bài thơ sử dụng phép ẩn dụ mà lại ở vào thế “tấn thối lưỡng nan”,  nghĩa là có hai đặc tính mâu thuẫn: bất khả chú thích và bất khả liên tưởng. Tác giả không thể chú thích rõ ràng để người đọc dễ hiểu, thường là vì ba lý do:

  1.  An ninh: có thể bị tù tội, có khi mất đầu.

  2.  Tế nhị: không muốn công khai xúc phạm đối tượng của phép ẩn dụ; như thế sỗ sàng quá.

  3.  Kỹ thuật thơ: chú thích sẽ “bật mí” ẩn ý, sẽ giết chết phép ẩn dụ.

Còn người đọc thì không thể dùng khả năng liên tưởng để hiểu ý được vì khoảng cách giữa tứ và ý quá xa, không thể bắc cầu.

Bài thơ Sông Lấp (nếu chấp nhận toàn bộ lời đồn là thật) ở vào trường hợp này.

Người bình thơ ở vào thế “bị triệt buộc”: bất khả chú thích , bất khả liên tưởng. Nếu chú thích sẽ vô hiệu hóa phép ẩn dụ; nếu không chú thích thì người đọc sẽ không thể lần ra ẩn ý của tác giả. Trường hợp chấp nhận hy sinh phép ẩn dụ để đi về hướng lời đồn, đưa đoạn chú thích vào bài bình thơ thì, bài thơ, dù vẫn còn nguyên 4 câu, 28 chữ (không thay đổi chữ nào) nhưng cấu tứ đã trở nên rời rạc, lỏng lẻo. Hồn cốt của bài thơ hoàn toàn nằm trong tiếng ếch và tiếng gọi đò. Con sông còn đấy hay đã bị lấp cũng không quan trọng. Giả sử gia đình ông Tú dời nhà xa hẳn con sông Vị Hoàng. Cơn mưa đêm vừa tạnh; tiếng ếch kêu từ ruộng mạ nhà ai vọng lại; ông giật thót mình  rồi cao hứng viết bài thơ. Lúc ấy chỉ tiếng ếch kêu cũng đủ gợi nhớ đến tiếng gọi đò của nghĩa quân. Hai câu đầu và cả cái tựa Sông Lấp của bài thơ cũng có thể vứt đi để thay bằng hai câu khác, cái tựa khác, mà vẫn không ảnh hưởng gì đến tứ thơ. Mất đi phép ẩn dụ tài tình, mất đi tính chất đắc địa của câu chữ, Sông Lấp, với cách hiểu ấy, đã mất hẳn bản sắc của nó, chắc không thể có chỗ đứng trang trọng trong lòng người yêu thơ như ngày hôm nay.

Để viết những bài bình thơ tác giả thường dựa vào văn bản, lịch sử, văn học sử, sự hiểu biết về thơ, kinh nghiệm làm thơ và một chút trực giác trong việc cảm nhận thơ ca của mình. Những giai thoại, những lời đồn trong làng thơ, theo tôi, chỉ nên được xem như những chiếc lá, những bông hoa trang điểm chứ không nên đưa vào làm thân, làm gốc cho một bài bình thơ. Nhưng dù sao đi nữa cũng xin thành thật cám ơn  Lưu Na. “Mẩu viết ngắn” của Lưu Na đã làm bài viết của tôi tươi mát hơn. Tôi đã có dịp nhìn lại bài thơ Sông Lấp một lần nữa, kỹ càng hơn, cẩn trọng hơn. Và đã nhận ra rằng: “Lời đồn, dù có căn cứ, dù đầy tính thuyết phục, cũng chỉ là …lời đồn.”

Chú thích:

  1. Wikipedia.org
  2. Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình, NXB Giáo Dục, 2004 (tr.914)

Phạm Đức Nhì

Rất mong nhận được bổ khuyết, phê bình của những người yêu thơ. nhidpham@gmail.com

 

 

©T.Vấn 2014