09/01/2011
Ngộ Không : Nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm.

Cả mấy chục năm mới ló mặt về thăm quê nhà, sau đấy nếu tôi với bạn già có gặp nhau ở cái đất tạm dung này, rồi châu đầu rù rì chuyện làng chuyện nước, nghe mãi cũng chán như cơm tẻ chiều đông ấy. Chả là bạn già thừa bứa biết tôi là người chỉ thích ôm đồm ba mớ chuyện cũ rích, mốc meo, nếu có dịp là chống gậy quanh quẩn như cái đèn cù đi tìm những hình ảnh của các cụ ta xưa. Như cái chõng tre bên vỉa hè có lọ kẹo lạc, kẹo vừng, chiếc điếu cầy, ống đóm, ngọn đèn dầu và cái ủ tích sành. Và chẳng thể thiếu những món ăn mộc mạc chân quê ngày nào trên đất Bắc…Thế nên chuyến về Hà Nội mới đây, như thăm người tình cũ đã lỡ tuổi xuân thì, nhưng vẫn son phấn điểm trang, ân cần đon đả. Sáng tinh mơ bún ốc, bún riêu, xế trưa nhọng rang hành tỏi, canh cua đồng, chiều tối cơm mới, cơm tấm chợ làng Hương.

Lại nữa, Hà Nội một thoáng hương xưa mà thiếu ít lá mơ xanh tím, củ riềng vàng nghệ, cũng mất mát đi một phần nào hương sắc của Thăng Long hoài cổ. Thiếu vắng hẳn cái thi vị một ngày gió bấc mưa phùn, đằng cuối ngõ Hàng Lược, ngồi chầu chực canh lò than tầu nổ tí tách, nơi đây có một quán không bảng hiệu. Bốn, năm đời cha truyền con nối, mà khách quen, không ai ngòai những sĩ phu Bắc Hà, nghênh ngang một cõi sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ còn có hay không. Ở đấy vào thập niên hai mươi, những tao nhân mặc khách, quấn khăn đầu rìu, quần sắn móng lợn, chân đất vỗ bèn bẹt ngồi trên chõng tre, tì tì đánh chén.

Nói cho ngay, ai quên bến lú mặc ai, chứ lu bu cách mấy thì về Hà Nội 36 phố phường chuyến này để đi tìm một chút hương hoa ngày cũ…Đã trót học đòi ăn mặc đầy đặn như người Hà thành bấy lâu, thế nên tôi đã phải cất công mầy mò đi tìm một nơi chốn có cái cái mái che mưa che nắng, ở đấy có một cái quán thịt chó cho ra dáng ra hồn, thưa bác.

Cuối cùng tôi cũng đã có mặt ở ngõ Hàng Lược trong một ngày cuối năm để xả xui cùng tống cựu nghinh tân. Xả xui đâu không thấy, chỉ thấy những cửa hàng đều đóng cửa từ chiều 30 đến mùng Bốn. Mùng Ba Tết, mặt trời mới đứng con sào, tôi xuất hành cầu âu đến khu Nhật Tân chạy dài hun hút từ đê Yên Phụ đến gần đập đá, hoa nở rực hồng cả một vùng trời nhỏ bé. Và có bao nhiêu cây đào là có bấy nhiêu quán thịt chó, hàng chục, hàng trăm, ngút ngàn xa tắp, nhấp nhô theo đụn cát bờ dốc, hàng hàng lớp lớp như…Vạn Lý Trường Thành. Nhưng tất cả đều đóng cửa im ỉm, chó giắt gì đâu, bỗng thấy một quán vườn hồng có lối, nhưng chưa ai vào. Bèn bồn chồn, náo nức đẩy cửa như Lưu Nguyễn nhập thiên thai. Vậy mà người Thăng Long ngàn năm văn vật cũng có dăm mống, như ngày nào năm cũ ở phố Hàng Đồng, Hàng Hòm, ngõ Cống Chéo. Những anh nhiêu, anh khóa đẳng cấp tôn ti với chiếu hoa cặp điều, tới trước thì mời quan bác lên chõng trên, chậm chân thôi cũng đành để quan anh an vị dưới đất thô, mục hạ vô nhân nhưng cũng chiếu cói như ai. Đầu năm đầu tháng, tôi ngó quanh ngó quất như thăm chừng, thôi thì thượng điền tích thủy, hạ điền khan, nhắm cái dồi trước đã…

Mặt mày bạn già đang nhăn nhúm như gái ngồi phải cọc, đúng là chó thánh nhai ra chữ, mắc chứng gì mà phải mang mấy đấng hậu sinh của ông thánh vạn thế sư biểu vào đây quấy hôi bôi nhọ cho nó rối rắm. Ấy vậy mà, bác cứ thử ngẫm lại mà xem: sau một vài chung lếu láo, nếu tôi có nhìn thấy cái đầu chó treo lủng lẳng nhe răng trắng nhởn như chào đón, để tôi nhồi nhét thêm mấy ông hủ nho, hủ nút thì cũng như thêm đũa thêm bát vậy thôi, thưa bác. Cũng như bài tạp bút này, đâu phải ăn không ngồi rồi mà có, cũng tầm chương trích cú trong Tứ thư ngũ kinh cả đấy. Của khôn người khó, vẫn chưa xong, dậu đổ, bìm leo, chó ỉa dập lại còn thêm mắm thêm muối với họ hàng gia tộc cùng thông gia, thông điếu để có chuyện hàn huyên với bác đây.

Sự thể tôi cứ dây dưa với nhà không số phố không tên của vỉa hè Hà Nội năm nào, chẳng qua là những ngày bẩy, tám tuổi, trời mưa phùn gió bấc lạnh se người. Hà tất thành sầu với cỏ cây, ông bác buồn tình sai thằng cháu đi mua thịt chó về làm một cữ cho quên trời quên đất. Trên đường về, một tay cầm cái đĩa thịt luộc mỏng tang, một tay cầm cút rượu bé con con, thằng nhóc tôi dò dẫm bấu năm đầu ngón chân xuống nền đất sét vì chỉ sợ vồ ếch thì rõ…trơ mắt ếch. Thằng cháu rỗi hơi chẳng biết làm gì vì nhìn đâu cũng chỉ một mầu xám chì thảm sầu, thảm thiết đến nẫu người. Để rồi nhởn nhơ về đến nhà, chẳng hiểu cớ sự gì mỗi thứ chỉ còn đúng một nửa. Vặn óc nghĩ không ra, đến cả gần nửa đời người tôi vẫn chịu không hiểu nổi cái…túc duyên ngãu hứng này, thưa bác.

Sau dăm lát thịt chó luộc béo ngậy, những ngụm rượu trắng đầu đời ấy, bằng đến tuổi này, tôi vẫn nặng nợ với nó, như một cái duyên nghiệp vậy thôi. Thì như nhà Bụt đã dậy: đi tu Phật bắt ăn chay, thịt chó ăn được thịt cầy thì không nghìn đời mấy ai nỡ quên là vậy đấy, thưa bạn già. Bác nheo mắt ra ý ngại ngùng như ông nhà văn Hoàng Hải Thủy nghi ngờ làm gì có chuyện nhà chùa nuôi chó, thì đây tôi xin hầu bác một chuyện dân gian nhá:

Một hôm, có ông sư từ trên núi xuống chơi một nhà phú hộ trong làng. Mấy con chó chạy ra sủa ăng ẳng. Sư làm như không biết giống chi, bèn hỏi: “Nhà ông nuôi giống chim gì mà nó hót nghe hay quá thể vậy!” Ông phú hộ ngỡ nhà sư xưa nay mải mê tụng kinh gõ mõ trong am, trong cốc xa lánh cõi đời trần tục nên…chẳng biết chó gì, nên đáp: “Bạch thầy, chúng tôi nuôi nó để lúc khách đến chơi, nó hót cho vui nhà ấy mà”.

Nhà sư nói với nhà chủ rằng:

– Chúng tôi ở trên chùa am thanh cảnh vắng, vậy mà chưa thấy giống chim nào như chim của nhà ông. Dám xin ông mở lòng từ bi cúng nhà chùa một con. Chúng tôi đem nó về, chúng tôi nuôi để nó hót cho vui chùa thì thật là quý hoá lắm thay.

Nhà chủ không lẽ chối từ, mới sai thằng đầy tớ lấy dây buộc một con chó dắt đi theo nhà sư. Ðuợc một quãng, nhà sư bảo thằng đầy tớ:

– Thôi cho anh về, kẻo phiền lòng anh ra. Tôi dắt con chim về chùa cũng đuợc rồi.

Chó thấy nguời lạ dẫn mình đi nên nó cứ co dây giằng lại. Nhà sư vừa cố sức kéo, vừa mắng con chó rằng:

– Có đi không thì…lá mơ…lá mơ!

Bác lại nhíu mày ra điều: Dào, chuyện láo lếu. Thôi thì tôi xin mạo muội trở lại với tiệm thịt chó bốn, năm đời trên gác xép phố Hàng Lược ở khúc trên. Chuyện là sau cách mạng mùa đông, mùa thu nhảm nhí gì gì đó, tiệm bị cây đa, cây đề cấm tiệt. Thế nhưng có người ở chốn Ba Đình tới nói nhỏ với chủ quán rằng ấy là cấm bàn dân thiên hạ đấy thôi, cuối tuần cứ mở cho quan chức…bồi dưỡng. Và cũng ở quán này, có giai thoại Nguyễn Tuân trong Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh, ông Mạnh đây kể lể lể rằng:

“…Tôi đưa Nguyễn Tuân về viện đại học Vinh ở Thanh Hóa để diễn thuyết, phó viện Trần Văn Hối làm tiệc lớn chiêu đãi và thủ một chai rượu ngoại đưa ra để thù tiếp nhưng Nguyễn Tuân làm lơ, lôi gói cơm nắm trong ba lô, xắt mấy lát mỏng, ăn với ruốc, sau đó lấy bi đông rượu rót ra cái nắp uống. Rồi ông vừa ngó chai rượu nằm chỏng chơ bên đĩa tiết canh và nhởn nha kể chuyện từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen của nhà chùa, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục vừa thanh, vừa có vị chát của nhựa sen, vừa có hương thơm của hoa sen.

Tôi nhủ thầm trong bụng, thịt chó mà dám cho vào tòa sen, ông sư nào mà hỗn thế, có kể cũng chẳng ai tin. Nhưng vừa ăn vừa nghĩ đến cái tục, cái thanh của nó như Nguyễn Tuân thì ắt hẳn chắc cũng thú….”

***

Nghĩ phất phơ chuyện xưa chuyện nay một lát, đảo mắt ra ngoài bờ đê, gió sông Hồng hiu hiu thổi, tôi ung dung tự tại với những lát dồi mỏng, cắt xéo như miếng chuối xanh, ngào ngạt thơm phức. Gắp một miếng chấm muối tiêu chanh, rồi đưa cay một hơi rượu cẩm, thấy cả tiết, sụn, lá thơm, đậu xanh trong miếng dồi như gắn bó với nhau nồng ấm, thân thương. Hết một cút cũng đủ ngất ngây và trong những khoảnh khắc của tang bồng hồ thỉ, tôi chợt rung đùi mời gọi trời đất mang mang ai người tri kỷ..Và hòai cổ một thời cùng rượu làng Ngang, làng Hòang Mơ, để tri giao quái ngã sầu đa mộng với cụ Nguyễn Đăng Cảo của một thời bút nghiên. Mặc nhiên, có thể nói cụ là người đầu tiên có tên trong sử thi, cùng cái thú tiêu dao với ăn thịt chó, trước cả Đọan Trường Tân Thanh với cụ Nguyễn Du. Cụ mê mẩn thịt chó đến độ cứ có anh mực, chị vện là đổ vấy cho…tri thiên mệnh tuốt luốt qua bài thơ chữ Hán mà tôi quên tiệt có cái tên gợi cảm, gợi tình không kém là Hành Lạc Từ. Và được cụ Lê Thước diễn Nôm như sau:

Tội gì ngàn năm lo

Có chó cứ làm thịt

Có rượu cứ nghiêng bầu

Được thua trên đời chưa dễ biết

 

Với chữ Hán, sát bên nước ta là ông Tầu cũng ăn thịt chó. Chứng cớ chữ “nhiên” nghĩa là nhúm lửa gồm 3 chữ ghép lại: Chữ nhục là thịt, chữ khuyển là chó nằm ở trên chữ hỏa là lửa nằm ở dưới. Nhưng ấy là chuyện mãi ở khúc sau, thưa bác.

Còn cụ Cảo, chuyện nghe như chuyện chó đá vẫy đuôi, nhưng lại nằm trong gia phả gia tộc của thằng em rể tôi. Nên cũng chẳng biết làm sao hơn, đành kể lể, như chó chết thêm đồng riềng vậy thôi, thưa bạn già:

“…Cụ Nguyễn Đăng Cảo, còn được gọi là Nguyễn Đăng Hạo, người huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Cụ đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh khoa Bính Tuất 1646, đời vua Lê Chân Tông, khóa này có 17 tiến sĩ. Thi hương, thi hội, thi đình, cụ đều đỗ đầu. Năm Kỷ Mùi, vua nhà Thanh thấy sao văn khúc giáng ở phía Nam, bèn cho sứ thần sang nước ta tìm nhân tài và gặp cụ. Sau khi thử tài, vua nhà Thanh phong cụ là lưỡng quốc trạng nguyên và phán: “Địa linh nhân kiệt đời nào cũng có, nhưng vượt trội hơn cả từ nay về sau chỉ có một Đăng Hạo”.

Năm 1659, cụ được bổ làm Đông Các đại học sĩ, nhưng làm quan ba năm thì bị bãi chức vì tính cương trực nên không được trọng dụng. Cụ lấy ngao du sơn thủy làm cái thú tiêu dao, vòng kiềm tỏa không ngòai “rượu Hòang Mơ, cờ Mộ Trạch” và thịt cầy.

Một ngày cụ gặp đạo sĩ núi Lan Kha và xin tu tiên, đạo sĩ trả lời:

– Tu tiên có ba thứ phải ghét, năm thứ phải kiêng, trong những thứ ấy có thịt cầy.

Cụ gật đầu và chống gậy theo đạo sĩ lên núi học đạo, gần trưa qua một cái chợ, mùi thịt cầy trong quán bay ra sực nức. Cụ thèm rỏ rãi, chịu trời không thấu bèn xin đạo sĩ cho một bữa chót cho…chót đời trước khi thành tiên. Ăn xong lau mặt thì cụ thấy đạo sĩ và chợ búa đều biến mất. Như Lưu Nguyễn lạc thiên thai về lại chốn trần ai, thì ra đây chính là chợ Cầu Lim làng Nội Duệ, chỉ cách núi Lan Kha non dặm đường mà thôi…”

Vẩn vơ nhìn ra khoảng đường Nhật Tân mênh mang hiu quạnh, lẩn thẩn với ngày là gió tháng là mây, cùng cái tiết hàn của trời cuối đông với tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân, bà già cũng chết cóng. Vậy mà bà già chủ quán vẫn còn tươi tắn, trong một ngày đầu năm vắng vẻ như chùa Bà Đanh, đon đả ra chào khách, dông dài về một thời hòang kim. Kể lể nghề nhà, mấy đời sống bằng nghề thịt chó ở phố Hàng Than. Bà lân la ngồi trước mặt tôi, một chân bó gối trên chõng tre, một chân thòng xuống sàn nhà. Hơn thế nữa, đầu quấn khăn vành dây, bà vẫn giữ hàm răng đen hạt huyền, môi cắn chỉ và mượn miếng trầu là đầu câu chuyện, miệng bòm bèm, tung tẩy:

Thầy cháu vẫn thường bảo: chó tháng ba gà tháng bẩy, gà lọt dậu chó sáu bát, những anh chị chó đang tuổi hoa niên, lúc ấy đem ra đụng thịt mới ngon. Con chó thui rơm, da nó vàng ươm, lớp bì mỏng tang, cái đuôi ngắn một mẩu, nhọn hoắt, dựng thẳng đơ, thật là ăn miếng nào rõ ra miếng ấy. Khi thui chó, đã đành thầy cháu phải kén rơm sạch, rơm mới, thầy cháu còn rị mọ nhét vào trong bụng nó một nắm lá ổi cho thơm lòng mát thịt. Mà có nằm trong chăn mới biết chăn có rận, có qua nghề nhà mới biết, miếng nạc cắt ra ở đùi ngon một kiểu, miếng thịt cắt ra ở lưng có nhiều bì, lại ngon một cách khác, miếng nầm, tức phần có nhiều sụn ở ức thì nhất. Cháu cũng chả biết con chó có dây mơ rễ má gì với cây đậu xanh không, mà người ta dùng hạt đậu này để đắp vào vết thương bị chó cắn. Nhưng dồi chó thì nhất định phải làm bằng hạt đậu xanh, rang lên, xiết vỡ, thêm ít búp ổi, lá mơ lông, trộn với tiết. Luộc xong, thầy cháu phải hơ qua lửa cho se mịn lại, chứ không thì rỗng tuyềnh tuyệch, cắn nó ngậy, ăn nó bùi nghìn nghịt làm sao ấy.

Ấy đấy, cũng như món rựa mận…Mà nhà bác lầu bầu “dựa mận” với “rượu mận” gì đấy, giời ạ, họ gọi trại là “rựa mận” từ nhựa mận mầu đỏ tím như trái mận ấy, nói vô phép vô tắc chứ nhà bác ăn thịt chó mòn răng mà chả biết chó gì sất cả. Cũng chẳng dấu gì, chứ lại món này nhiêu khê lắm bác ấy ạ, nấu rất hao thịt và nhiều công, nào là phải bóp thịt kỹ với mắm tôm, mẻ và gừng già. Nhớ là gừng chứ không phải là riềng đâu bác ấy nhá, gừng càng già càng cay là thế đấy. Xong phải đun liu riu đều lửa trong nồi gang, người Bắc mình gọi là ninh ấy mà, cho đến khi các miếng thịt đều sậm mầu như mầu mận chín, nước quánh lại sánh sành sanh là đúng cữ. Mấy cụ ở đây vẫn kháo nhau, món này kẹp với bánh đa hoặc ăn với bún thì sướng âm sướng ỉ cả ngày, hôm sau mùi vị vẫn còn lai láng, thịt dắt kẽ răng, sỉa răng sỉa lợi vẫn còn thơm phưng phức mùi gừng.

Nghĩ ngợi một lát, bà nhởn nha, không nói bác ấy cũng biết, đã nói đến thịt chó là phải nói đến riềng, mẻ và mắm tôm. Ấy dạo này già rồi nên hay lẫn, quên không nói cho bác ấy nghe, ăn thịt chó không bị độc là nhờ cái nhà anh riềng đấy, thuốc Nam người mình dùng để chữa chứng đau bụng, đầy hơi, đi lỏng, kiết. Còn được gọi là cây gừng một lá, “láng giềng” của gừng nên còn được gọi là “giềng”, rồi cũng lại bị gọi trại đi là…”riềng”. Lại lẩm cẩm nữa, quên khuấy nó đi mất bát mắm tôm chanh, cháu thả vào đấy vài lát ớt tươi, lưng chén rượu trắng cho bay mùi. Trăm hay không bằng tay quen, chỉ quơ dăm vòng đũa là bát mắm tôm nổi bùng lên ngay, dậy thơm ngào ngạt…Thầy cháu vẫn nói, chả hiểu có đúng không, đã mắm tôm phải gắt, nó là âm thanh chát chúa của tự nhiên, giống như tiếng chầu gõ vào tang trống gỗ, tiếng phách cật tre già trong dàn hát cô đầu, tiếng ngâm, tiếng hãm. Khi không bà buông một tiếng dài thườn thượt: “Rõ mấy cụ rỗi chuyện”. Chêm tí vôi vào miếng trầu, bà chậm rãi: “Cụ Cử làng Bưởi sau mấy cút còn bốc nhằng, thịt chó vẫn là âm thanh náo nức của cuộc đời, nó biểu hiện sự sô bồ, tung hòanh và tháo cởi”. Rồi bà tặc lưỡi: “Giời ạ, rõ chán chữ với nghĩa của các cụ, cháu nghe cứ như bầu đục chấm mắm cáy ấy, chả ra làm sao sất cả”.

Đổi thế ngồi, bà lan man, ăn thịt chó phải uống rượu trắng Vân Điển, rượu thuốc hăng hắc mùi táo, tầu cam thảo thì vứt đi cho chó nó tha. Còn rượu nếp cẩm, nếp cái thì chả ra cái thá gì, nhạt thèo lèo như nước ốc. Nhưng có một thứ rất hợp với bia, ấy là món chả chó, món này dậy mùi nhất trong các thứ chả đấy nhà bác ạ, hơn cả thịt chả Nam Định quê cháu. Trước khi nướng đã được ướp riềng già, mẻ, mắm tôm trộn đều với nhau. Thịt chó cắt từng miếng bằng đốt ngón tay, vừa nạc vừa mỡ, xiên vào từng xiên rồi nướng. Mà lúc nào cũng phải là than tầu, than quả bàng lắm khói nên thâm thịt. Vớ phải cái giống củi ẩm thì chỉ có mà đi tướt và phải quạt liền tay cho đỏ, thịt xèo xèo cháy, mỡ giỏ xuống than bốc khói thơm quyện vào thịt và đợi chín vàng như nghệ mới tươm tất. Bầy lên đĩa, thầy cháu còn cầu kỳ rắc lên ít sợi riềng khô. Rồi bà chép miệng, bia và chả chó hợp nhau lạ lùng, thầy cháu vẫn nói vậy, nào cháu có biết mốc khô gì đâu, chắc ở đời này chẳng có thứ nào hợp với bia hơn là thứ chả chó, phải không bác. Mà bác ấy ạ, lạ một cái là ăn thịt chó phải có húng, mà cái húng ấy phải là…húng chó. Khác với húng dũi bò lan mặt đất, húng chó mọc thành cây, ra cành ra lá, lại ra cả hoa nữa. Và ngon nhất ở được trồng ở làng Láng nên gọi quen là húng Láng, một đĩa húng chó, có thêm mấy cọng ngổ, mấy nhát riềng tươi, một cái bánh đa vừng. Chấm miếng thịt nướng vào bát mắm tôm, làm một hớp bia, nhâm nhi với miếng riềng, cọng húng, miếng bánh đa…Thì giời đất ạ, ngon…quên chết đấy! Bác ấy ơi”.

Quán có khách, bà lẹt đẹt đi vào. Tôi ngồi nghĩ bâng quơ, một chuyến đò nên duyên, gặp bà chủ quán mau mắn vui chuyện, đi nhẹ về nặng, nên tôi lại có thêm một mớ chữ nghĩa để sau này làm vốn. Cũng tự lâu lắm rồi, tôi không gặp lại cái khăn mỏ quạ, cái áo cánh nâu, dáng đi lòm khòm, nhai chầu bỏm bẻm, bỗng dưng không đâu lại u hòai về bà hàng thịt chó nào đó ven chợ, ven sông: “Ăn rồi xách nón ra về – Thấy hàng chả chó lại lê chân vào – Chả này bà bán làm sao – Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng không”.

***

Theo hơi hướng mùi chả chó nướng của bà chủ quán, tôi lục lọi ký ức về ông cậu “trẻ” lớn hơn hai, ba tuổi, cùng một thời đánh khăng, đánh đáo. Nên mạn phép bạn già, gọi bằng “nó” cho gần gũi, và tôi tin rằng mỗi người có một dòng sinh mạng như định mạng đã an bài. Số là nó ở quê bị thương hàn, tay chân nó đã tính chuyện bắt chuồn chuồn. Theo phong tục xưa, các cụ mang nó ra chuồng lợn ủ trấu lấy khí âm, khí dương để nó có lỡ nằm xuống thì cũng không đến nỗi lạnh lẽo. Nghe tiếng kêu eng éc, nó ngóc đầu dậy nhìn con lợn và thều thào muốn ăn tiết canh…chó. Rõ quái, đòi gì lại đòi cái thứ yêu ma ấy không biết nữa. Nhưng nghĩ trước sau gì nó cũng về với ông bà ông vải nên các cụ chiều cái thằng ôn vật lần cuối, ăn xong nó không chịu chết mà nhăn răng ra sống để thành…thằng bạn thịt chó của tôi, thưa bác.

Nó và tôi lê la hết quán này sang quán khác và được nghe nó luận về cái tên không thôi cũng nhức nhối, như quán Cờ Tây, quán Cây Còn chẳng hạn, ngược xuôi chung quy cũng ở con cầy mà ra. Cứ như theo nó, đầu đuôi suôi ngược thì chú cẩu là con vật được loài người thuần hoá đầu tiên, cách đây khoảng 40 ngàn năm, vì chú cẩu trung thành, lại là con vật giữ chủ chốt trong các cuộc đi săn, giữ hang động…Nên nhiều nơi thờ chú như vật tổ. Suốt từ Himalaya đến sông Dương Tử, nơi cộng đồng Bách Việt và nhiều sắc tộc khác, ngoài hệ Hán-Tạng sinh sống, người ta thờ chú cẩu như linh vật, người Mán ngày nay vẫn còn xem chú như là thuỷ tổ của mình. Nhưng theo thời gian, tín ngưỡng thờ linh vật là chú cẩu bị phân hoá trong chính cư dân vùng Bách Việt trong cuộc di dân.
Theo một vài tài liệu xưa, người Việt ở phương Bắc đã ăn thịt chó từ 10 ngàn năm nay, nhưng suốt lịch sử hành phương Nam trong năm bảy trăm năm qua sống chung đụng với người Chiêm Thành, người Việt ở phương Nam lại không mấy mặn mà với món “vương nhục” này, có lẽ do họ chung sống với các cộng đồng người Khmer, Phật giáo, Ấn Độ giáo…Tại Sài Gòn, những quán thịt chó xuất hiện vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ co cụm trong những người Bắc vào Nam lập nghiệp làm phu đồn điền cao su. Khi Thiên Chúa giáo theo dân di cư vào miền Nam, việc ăn thịt chó dù không phải là bản sắc hay tín điều của đạo này, nhưng bước đầu là để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, ăn nhậu nội tại, và thịt cầy đã gần như trở thành “bản sắc ngầm” của người Công giáo tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức…

Chưa hết, nó còn đào sâu chôn chặt với các cụ ông Bách Việt ta xưa ở cái thời đồ đồng, đồ đất gì ấy xách giáo, mác vào rừng săn, bắt gặp một con vật có bốn chân, đuôi cong, mũi nhọn tục gọi là chồn, cheo, cáo… Trông thấy cũng vui mắt, thế là các cụ hè nhau ra mang về ngả thịt đánh chén. Sau đến màn cây nhà lá vườn để ngả qua con chấn bốn cho. Vì ngại các cụ bà mè nheo, thế nên các cụ cứ nhập nhằng với con chồn, cheo, cáo, nên nói chại đi là….”con cầy” cho…con chó mồ yên mả đẹp.

Với nó, nặng mùi kinh thư, kinh điển, nói có sách mách có chứng chẳng qua là vua Càn Long hành phương Nam được nếm qua món một sống hai chết này bèn gọi là “vương nhục”, tức vua của các lòai thịt, cóc nhái cũng vất đi. Dân Quảng Đông vốn sính nói chữ nên gọi là “xực tam lục”. Mầy mó với đổ sí ngầu thì tam, lục cộng lại là “cửu”. Từ mảng chữ nghĩa ấy, người Nam ta gọi chại đi là “cẩu” chăng? Thưa bạn già.

***

Bác cơm nhà quà vợ bấy lâu đã quen hơi, nay nghe thằng cậu tôi lẻo mép với chuyện chó cắn mèo cào đâm rách chuyện. Nói xa chẳng qua nói gần, thiển nghĩ cũng như động đũa động bát vậy thôì…Như bát bửu với chân gấu, môi đười ươi của bà Từ Hy thái hậu, thái thịt thì chẳng có món nào lại tiếng dữ đồn xa, tiếng lành đồn gần tới âm phủ như sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ còn có hay không. Để nó moi móc thêm…chuyện chó chết sau:

Có một thằng cẩu sau khi bị bỏ vào nồi nước sôi cạo lông trắng hếu, bèn lấy đó làm oan gia tương báo vì vắn hạn, vắn số nên xuống âm ty khiếu nại. Diêm Vương hỏi rằng chi đó, xong một tiếng “Be”, rồi cẩu ta cứ thẫn thờ thật tình kể lể rằng đầu dây mối nhợ, trăm tội ở cái be rượu làng Ngang, làng ngược của ông Chiêu Lỳ nên cẩu ta bị ngả thịt, nhồi nhét với những món như chả chìa với riềng, gừng già, nướng cho vàng ươm. Rựa mận bóp mẻ với lá mơ, lá ổi, ninh cho đỏ ối. Mắm tôm quậy cho tép chanh, ớt nổi lều bều trên mặt bát, phải đánh cho sủi bọt, sủi tăm bằng cái mắt cua đồng này kia. Nghe tả chưa xong, Diêm Vương cũng thờ thẫn sua tay “Thôi đừng kể nữa, tao thèm lắm rồi. Mà mày chết cũng đáng đời lắm, thằng cẩu”.

Chó chết chưa phải là hết chuyện, một lần khác nó gân cổ nằng nặc gọi lá mơ là “ngưu bì đống”, vì vậy da trâu qua nước Nam ta cũng hợp lẽ trời, lá mơ tam thể mà đi với tam khoang tứ đốm là đúng quá rồi, húng chó cặp với “nhất vàng nhì vện” thì có sai chạy gì đâu. Xa hơn chút nữa nó kể vung xích chó rằng sách Bản thảo cương mục đời Minh tôn vinh “hòang khuyển vi thượng, hắc khuyển, bạch khuyển thứ chi” thì lại được biến thái, biến thể qua tiếng Nôm là “nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm”. Chân quê theo ruộng vườn và thời khí thì thêm bớt với trời nắng chó trắng, trời mưa chó vàng. Mưa nắng làng nhàng chó nào cũng được để rồi tuyệt cú vẫn là ngon như óc chó, thưa bác.

Rồi nó mạc luận tiếp là “nhất vàng, nhị vện…” thì hợp đạo lý nhân thường hơn là “nhất bạch nhị vàng”, khi không đang vàng, khoang, đốm lại lạc lõng chữ Hán lạch “bạch” vào đây. Hơn nữa cũng ít ai ăn chó trắng vì chó trắng cắn…ma, có kiêng có lành. Chẳng vậy mà các cụ kiêng ăn thịt chó đầu tháng, cuối năm để thành chuyện xưa tích cũ, như người Tầu kiêng ăn thịt chó vào tháng chín “cửu nguyệt vật thực khuyển” vì theo dịch lý tháng chín thuộc chi Tuất, nghe mịt mùng như tối ba mươi, chẳng nghĩa lý nước non gì sất cả. Riêng phần con này ngon hơn con kia là do mấy ông lái chó gọi cho có vần có điệu vậy thôi và nó chắc như bắp luộc chó nào chẳng ăn cứt, ốc nào chẳng ăn bùn, cá mè một lứa hết, vậy đấy thưa bạn già.

Đột nhiên cái thằng cậu mèo mả gà đồng của tôi biệt tăm biệt tích, nghe phong phanh nó trốn lính ở trại di cư Lạc Dương hẻo lánh. Tôi mò tới thăm nó, hai thằng ngồi ở cái thềm đất cao, ngắm con đường đất đỏ ắng lặng đến ngáo người, có bóng cô hàng quẩy gánh nghiêng ngả theo gió sớm tự đằng xa…Như quen nhau từ tiền kiếp, nó ới “Lại đây, chó”. Cô hàng cũng chẳng vừa, áo chúc bâu quần cháo lòng, hất cái nón lá lên chanh chua: “Ai chó đấy”. Đúng ra giai thoại này, tôi có đọc qua đâu đó, nay mắt thấy tai nghe mới thấy hay hay và rồi thì, như khách quen, đâu cũng vào đó. Ngồi ngay bờ hè, cả đám chuyện trò nắng mưa với cô hàng…bầy hàng đúng theo nghĩa đen. Quanh năm suốt tháng, “Đi gánh đau vai – Nằm dài nhịn đói – Một vác dao bầu – Một xâu thịt chó”, và gánh thịt chó quê mùa có món lòng. Nó lại được thể múa rìu qua mắt thợ, làm lòng dễ như…chó ăn trứng luộc, mà phải chấm với nước mắm chanh mới đúng điệu. Thế là cô hàng con mắt có đuôi, cong cớn “Trai tơ lấy phải nạ dòng – Như nước mắm thối chấm lòng chó thiu” và tiếp là ngúng nguẩy, lườm với ngúyt. Nó vậy đấy, vì vậy về quê nhà chuyến này, mấy tuần sau ghé thăm nó, đón tôi ở trước cửa, nó khoe mẽ rằng giầy dép còn có số, số nó là số…chó bỏ giỏ cua, vì vợ nó không ai ngòai cô hàng xáo năm nào.

Thế nhưng từ dạo ấy, nó không chịu đớp thịt chó nữa…Chó thật.

***

Gió sông Hồng hiu hiu lạnh, những cụm lau khô bên bờ dốc, phất phơ lay động như ngọn cỏ gió đùa. Đầu năm quán vắng, tôi ngồi đấy tiêu dao ngày tháng, tôi thường thì, có một chút men nồng đầu óc ngất ngây, lại thích quay về một thuở mịt mùng gió mây với người Phạm Thái rằng: “Nào ai tỉnh, nào ai say…”. Rõ ra chỉ một chút ngẫu hứng vậy thôi thưa bác, nói cho ngay bác có ngồi chênh vênh lửng lơ giữa trời và đất, lắng nghe ngọn gió rù rì qua…gầm chõng. Nếu không có yên sĩ phi lý thuần của cái thú thứ nhất quận công thứ nhì ị đồng thì bác cũng lãng đãng cùng đất trời, chẳng là Tiêu Sơn, tiêu hóa để phiêu bồng thì cũng học thói cụ Nguyễn Công Trứ: “Ôi nhân sinh là thế ấy – Như ngọn đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao – Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào – Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín”. Ai chẳng có những giây phút thả hồn theo mây khói, thưa bạn già.

Thế nhưng say thì chưa say, vừa chợt tỉnh giấc mộng hòang lương, nhìn đồng hồ, cũng đến lúc phải xuôi Nam. Vào đến Sài Gòn cũng đã nhá nhem tối, bèn đánh khèo một giấc. Chuyến về thăm nhà này, lại thêm chuyện họ hàng hang hốc để dông dài với bạn già, như vừa tỉnh giấc mộng nam kha thì cũng đã xế trưa, bà chị tất tưởi ra chợ Ngã Ba Ông Tạ mang về đĩa thịt luộc lúc nào không hay. Làm non nửa đĩa nhưng vẫn có một cái gì lạc lõng, không thấy mềm môi, ngọt ở đầu lưỡi, hoang vắng về chiều…

Chó đen quen ngõ, mấy ngày sau tôi mầy mò tìm ra quán Lá Mơ đầu cầu Thị Nghè. Bước vào quán đông nghẹt, đập chát vào mắt là một dàn rượu rắn thật bắt mắt, từ nhất xà đến ngũ xà, con nào con nấy cuộn mình nằm ngủ chèo queo, an giấc nghìn thu đến lạnh người. Đảo mắt một vòng, tôi như lạc vào thế giới của Đồ Phồn, Chí Phèo, bàn ghế thấp lè tè, bát đĩa cốc chai la liệt, ngổn ngang trên bàn dưới đất. Cái không khí xô bồ tuệch tọac ấy vậy mà nên thơ mới chết người, cùng cái bát nháo của đám sĩ phu Bắc Hà hai nút, nồng nặc trong một cõi ta bà mù mịt khói hương, cùng khói thuốc lá ngập trời như bức tranh vân cẩu. Lững lờ bâng khuâng được một lúc, buồn tình như con thạch thùng ăn đêm, tôi tặc lưỡi một cái tách gọi đĩa trần như nhộng. Lại vẩn vơ đến chuyện kẻ Bắc người Nam, ngòai kia luộc, trong này hấp cách thủy, nhưng cũng đằm thắm ra phết chứ đâu có bỡn, những thớ thịt lẳng lặng len vào khe răng, tê tê và ngưa ngứa. Không cần móc, xỉa, đưa cay một cốc tam xà là chui tuốt tuồn tuột xuống cổ họng. Thêm một ngũ xà nữa thì bần thần với những buồn vui lẫn lộn không đâu ùn ùn kéo về như nắng mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu..thịt chó, thịt cầy, thưa bác.

Chẳng dấu gì bạn già, nhìn đám tửu đồ bát nháo mãi cũng chán, tôi đâm lạc lõng, lại dáo dác thả hồn theo mây khói về quán thịt chó ngõ Hàng Lược, ở đấy những hình ảnh cùng mấy thợ ăn thịt chó ngồi bó gối quấn khăn đầu rìu, quần xắn móng lợn như thân quen cùng một cõi đi về. Để rồi gần hơn nữa, cái đầu cám hấp của tôi lại ngọ nguậy về Vũ Bằng, ông họ Vũ này bắn một câu thần tình gì đâu: “Đã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt chó như thấy thiếu thốn một cái gì khó diễn tả. Như thiếu vắng một người tình cùng những ngày tháng mênh mang hiu quạnh”. Rồi tôi lếch thếch trở về một thời quá vãng xa xăm với cụ Nguyễn Đăng Cảo, với cụ Nguyễn Du, với Tô Hoài cùng vang bóng một thời với…thịt chó.

Đang ngồi trong quán, chợt nhớ ra chỉ còn một, hai ngày nữa là đến ngày về. Bỗng thấy trống vắng và trong tôi lại dở chứng thương vay khóc mướn…Rằng món ăn lưu danh thiên cổ này, rồi ra cùng một lứa bên trời lận đận, mai đây theo tâm tư tôi qua bên này và sẽ đi vào quên lãng. Qua sông ai nỡ quên đò, thưa bác.

***

Rồi ngày về cũng đến, đưa người ta không đưa sang sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng… Từ xế chiều đến tối khuya, họ hàng và bạn bè tới thăm hỏi và tiễn đưa. Chỉ tội nghiệp bà chị cùng cha khác mẹ của tôi, từ ngày hai chị em ra đời, cũng trên dưới năm mươi năm, chẳng một lần gặp mặt, năm 54, loáng thoáng nghe tên chị ở làng quê, chị ra Hà Nội thì tôi đu tầu há mồm vào Nam. Tôi đi hết biển thì chị đeo tầu hỏa vào Sài Gòn, sau này chị em cũng chỉ đắm thắm qua thư từ và hình ảnh. Chiều nay ngày cuối, chị tôi lại lẳng lặng dắt chiếc xe đạp, vất vả ngược xuôi tận chân cầu Thị Nghè, mang về mấy đĩa cho cậu em tiếp bạn. Chị tôi vẫn chân chất quê mùa của hương đồng cỏ nội, lại thêm một lần đi nhẹ về nặng, gói ghém cho cậu em làm quà mang về. Chị ngồi bệt xuống sàn nhà, đếm từng miếng riềng, nhặt từng lá mơ, gói ghém đóng hộp, cúi đầu dấu nước mắt ngắn dài….”Chị thà coi như là hạt bụi – Em thà coi như hơi rượu cay”.

Về đến phi trường, nhìn thấy cái bảng dọa nạt này kia nên tôi cũng ngại ngùng. Bỏ thì thương vương thì tội, thôi cũng đành quẳng gánh lo đi nhẹ lấy mình cùng cỏ xót xa đưa, cỏ xót xa người. Thế nên ngần ngừ moi ra hai “hạt bụi” thả vào thùng rác. Cát bụi lại trở về cát bụi, bồi hồi tiếc nuối, như mất mát một cái gì không tên với một nhớ hai quên…

Thạch trúc gia trang

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

©T.Vấn 2011