11/10/2011
Ngộ Không : Gã thiền giả

 

Ghi chú : Truyện ngắn Gã Thiền Gỉa của Ngộ Không đã xuất hiện trên trang T.Vấn ( bộ cũ ) tháng 5 năm 2011. Bản giới thiệu lần này trên T.Vấn & Bạn Hữu đã được tác gỉa viết lại và có nhiều sửa chữa. Riêng phần “ lời bàn Kim Quỷ Thán “ vẫn được giữ nguyên như lần xuất hiện đầu tiên. Xin trân trọng giới thiệu. (TV&BH).

Trước khi vào truyện :

Hôm cuối tuần, chén chú chén anh với một người bạn cùng nhau trải qua nhiều trại tù mấy mươi năm về trước, tôi hỏi anh lúc này có còn ” thiền ” nữa không. Một tràng cười sặc sụa trước khi có câu trả lời : Thiền gì nữa, giờ chỉ còn ” ghe ” thôi ! ( Một lối chơi chữ theo giọng phát âm miền Nam . Chữ Thiền và Thuyền phát âm nghe mài mại giống nhau. Còn Ghe cũng là tên chỉ chiếc thuyền, đồng thời cũng là tiếng lóng – như hĩm, đồ . . . – chỉ cái nơi sâu kín của người đàn bà đã từng chôn vùi bao nhiêu những anh hùng hảo hán trong thiên hạ .)

Câu chuyện được miên man cùng với hơi men trở về những ngày đói khát năm nào. Thuở ấy, để chống đói, nhiều người chọn con đường ” vô vi “, tức không làm gì hết, giới hạn tối đa những cử động, kể cả nói, cười, hầu ” bảo tòan năng lượng ” của cơ thể. Một trong những cách ” vô vi ” là ngồi ” thiền “. Vừa giữ cho cơ thế ít tiêu hao năng lượng, vừa tập trung tâm não vào cái bụng ( vốn lúc nào cũng rỗng ) hầu tránh cho cái đói thường dẫn dắt tâm não đi thăm viếng những ” nhà hàng đầy ụ thức ăn ” , một lối ăn hàm thụ chỉ khiến “tình hình” thêm tồi tệ mà thôi.

Hàng đêm, sau giờ điểm danh cuối cùng trong ngày của cai tù, tất cả bọn ” cải tạo ” chúng tôi bị nhốt vào trong buồng giam, bên ngòai cửa đã khóa lại bằng những cái khóa to tướng.

Đây là lúc các Thiền Gỉa ngồi ” thiền “. Giường trên, giường dưới,ai cũng lẳng lặng ngồi xếp bằng tròn, hai tay để trước bụng, mắt nhắm nghiền , chìm hồn vào những cơn mộng về với quê nhà, có bữa cơm chiều nghi ngút khói, có vợ hiền, có con ngoan đang chờ đợi.

Theo ngôn ngữ của Ngộ Không, tác giả truyện ngắn ” Gã Thiền Gỉa ” dưới đây, trường hợp ” tu thiền ” nói trên của anh em chúng tôi thuở ấy có thể gọi là ” thiền chướng “.

Giờ đây, no cơm thì . . . ấm cật nơi xứ người, câu chuyện ” thiền ” năm xưa đã được anh bạn từng ” tu thiền ” tuyên bố hết rồi, vì lúc này anh chỉ ” tu ghe ” thôi.

Đói tán ăn. No tán địt. Thuở ấy đói, nên lúc nào cũng nghĩ đến cái ăn . Bây giờ no , cũng có những ” vấn nạn ” của cái no. Con người mà, chứ có phải ” Phật ” đâu mà có thể vượt lên trên những cái ” người ” ấy !

Chỉ lạ một điều là ông Ngộ Không viết truyện ngắn ” Gã Thiền Giả ” mà tôi đọc được đúng vào lúc câu chuyện ” Thuyền Ghe ” năm xưa cũng vừa được gợi nhớ lại.

Ngộ cả ở cái cách ông Ngộ đặt tên tác phẩm của mình. Gã Thiền Gỉa. Thiền Giả là người tu thiền, cần gì chữ Gã đầy mỉa mai đặt ở phía trước ?

Hay đây là một công án thiền mà đầu óc ” đầy ghe ” của tôi không “ngộ ” ra được ?

Hay ông Ngộ ( tức ngộ ) muốn chơi chữ ” giả thiệt ” chăng ?

Có lẽ, tôi ngưng ở đây để người đọc có thể bước vào thế giới ” thiền chướng ” của ông Ngộ K(k)hông Phí Ngọc Hùng, một thế giới mà người mang cái tâm tĩnh vào sẽ bị động, mang cái tâm động vào sẽ động hơn, mang cái tâm không tĩnh không động vào thì cũng giống như người bước đi trên một con đường.

Tôi được khai ngộ đâu đó rằng : Đường tức là đạo.

T.Vấn

Tháng 5 năm 2011

 

Sắc tức thị không, không thị sắc

Thiền giả hiểu thế việc nhân gian

Qua hai câu thơ dẫn nhập của cụ bà Hồ Xuân Hương(?) trên đây cho ra vẻ văn dĩ tải đạo, để bắt qua truyện thiền chướng của người bạn tôi trong bài viết. Ngoài ra, tôi còn dựa dẫm thêm vào tác giả Nguyễn Hoài Phương, ông kể lể về căn bệnh thiền của “anh bạn” ông và chính ông cũng bị…bệnh thiền nó hành như thế này đây, thưa bạn đọc:

“…Bất kể là sáng, là trưa, là chiều, là tối… Hay là đêm… Hay là vào bất cứ thời điểm nào của ngày và đêm… Ngày nào cũng vậy, ngày nào anh cũng có thể bốc điện thoại gọi cho tôi ít nhất là năm lần, mỗi lần ít nhất là mười lăm phút… để nói cho tôi nghe về cái hay ho của thiền. Để thuyết phục tôi thiền, anh nói nhiều và nói dai, để tôi không thể không nhận lời.

Lúc đầu, tôi cứ nghĩ là cứ ậm ừ rồi muốn ra sao thì ra. Nhưng không được với anh. Bất kể là sáng, là trưa, là chiều, là tối… Hay là đêm… Hay là vào bất cứ thời điểm nào của ngày và đêm…Ngày nào cũng vậy, ngày nào anh cũng có thể bốc điện thoại gọi cho tôi ít nhất là năm lần, mỗi lần ít nhất là mười lăm phút…để giục giã tôi thiền. Để được một số cảnh giới. Để sống thanh thản, như anh nói, tôi sẽ bỏ qua, sẽ quên đi được rất nhiều thứ phiền toái của cuộc đời.

Chỉ còn mỗi một thứ phiền toái dẫu cố gắng đến mấy tôi cũng không thể nào mà quên đi được. Ấy là, hình như tiếng chuông điện thoại của anh vẫn đã, đang và sẽ còn đi theo, vẫn còn ám ảnh tôi mãi mãi…Bất kể là sáng, là trưa, là chiều, là tối hay là đêm…Hay là vào bất cứ thời điểm nào của ngày và đêm…Ngày nào cũng vậy, ngày nào anh cũng có thể bốc điện thoại gọi cho tôi ít nhất là năm lần, mỗi lần ít nhất là mười lăm phút để trao đổi với tôi về những nét thăng hoa phát tiết của thiền cho người đời. Theo anh thì tuyệt vời trên cả…tuyệt vời !

Bây giờ thì lúc nào tôi cũng nơm nớp, nơm nớp…chỉ sợ lại phải nghe tiếng chuông điện thoại reo. Nơm nớp…Vì, đấy rất có thể lại là điện thoại của anh…”.

 

***

Tôi áng chừng vậy là bạn đọc đã bắt mạch được bệnh chứng thiền như thế nào. Cũng như người bạn thâm căn cố đế mà tôi gọi là “” sau đây, cũng chẳng khác gì “anh bạn” của ông tác giả trên. Gã suốt ngày với dăm khoẻn chữ lỗ mỗ lơ ngơ, sáo mòn vô nghĩa, từ ngữ ta bà sáo rỗng phù vân, phù thế, hư ảo, hư vô. Cái gì cũng “hư”, cái gì cũng “vô”, cái gì cũng “phù”. Gã như con bò nhai lại những xác chữ bã mủn một cách…cực kỳ kinh khóai.

Cuối tuần có bão rớt lạc về, mưa gió nhì nhằng, chẳng đi đâu được nên gã “nằm” liêu xiêu ở nhà, gã căng mắt chiếu quán, chiếu tưởng lên cái trần vô tri, vô tính trong phòng. Thấy lạ quá chừng chừng nên tôi gõ cửa hỏi cho ra nhẽ thì bị gã mắng như tát nước vào mặt:

– Bá ngọ mày, tao đang tụng, chút nữa nói chuyện.

Lát sau tôi lật đật hỏi gã:

– Đang tụng sao lại chủi thề.

Gã trả lời tỉnh khô:

– Tao tụng…Phật nghe. Tao chửi…mày nghe.

Nghe thông suốt xong, tôi hỏi gã rằng…”nằm” thiền để làm gì mà khổ vậy. Nếu tôi là gã…thì… thì…thèm vào, đếch thiền nữa cho xong. Khỉ ạ. Thiền gì mà khỉ thế này chẳng biết nữa! Hết ngồi lại…nằm. Mà giời ạ, chẳng thiền có chết ai đâu.

Với khuôn mặt rất thiền tính, thiền quán, gã vêu vao thuyết pháp:

“…Xưa…khi Mã Tổ còn là tăng và chuyên ngồi thiền. Bạn là Nam Nhạc hỏi rằng:

– Ông ngồi thiền để làm gì vậy?

– Để làm Phật.

Nam Nhạc vặn vẹo Mã Tổ:

– Thiền không quan hệ đến nằm hay ngồi gì cả, học Phật như vậy là giết Phật. Phật vốn không hình, không tướng. Chấp tướng pháp vào ngồi thì không đạt được cái lý của thiền học.”

Lưỡi tôi đá cái miệng, bèn hỏi: “Phật là gỉ?”. Gã lại được thể bệu bạo tiếp:

“…Một thầy tăng hỏi thiền sư Triệu Châu:

– Phật là gì?

Triệu Châu đáp:

– Phật là que cứt khô.”

Ông cố nội tôi đội mồ sống dậy cũng chả hiểu…cứt khô gì. Thôi thì hãy trở về với quá khứ vị lai của gã, chuyện là tôi biết tỏng gã…tu bằng cách viết bài cho đặc san nhà chùa. Đồ phải gió cắn răng gì đâu, vậy mà ngày nào tôi cũng thấy gã…tu từ một tới hai chai bia.

Khỉ thậ! Tôi hỏi gã…tu gì mà hốc vậy? Gã nhét vào miệng tôi như vầy, thưa bạn đọc:

“…Thiền sư Dairyo được mời dự tiệc cùng với mấy tăng lữ. Chủ nhân muốn thử đạo hạnh của mấy vị sư này, nên thay vì hầu trà lại rót rượu vào mấy cái chén thố. Tất cả sư sãi ngồi ngó nhau, trừ thiền sư làm như không hay biết, nốc cái ực và khà một tiếng. Có thầy tăng mách:

– Đó là rượu đấy!

Dairyo chăm chăm nhìn vào mặt thầy tăng, hỏi:

– Sao ông biết tôi uống…rượu.”

Vắt óc nghĩ không ra công án…tu tỉnh ruồi bu trên. Vì không hiểu bèn học khôn, nên khen đấy, chê đấy. Cứ thế, khen rồi chê, chê lại khen. Khen, chê cho lắm cũng chuốc vạ vào thân vì tôi trở lại câu hỏi cũ rích mốc meo: ”Thiền là gì?”. Như đợi cơ hội này từ đời tám kiếp nào rồi, gã buông xả thêm một giai thoại thiền nữa, gã vả miệng cắt lưỡi tôi như thế này mới khổ tôi:

“…Ngày nọ có một ông quan hỏi thiền sư Taigu:

– Thiền là gì?

Thiền sư trả lời:

– Thiền là một cái gì đó…tròn và lăn, trơn và trượt.

Quan ngớ ra chưa kịp thông suốt. Thiền sư tiếp:

– Một cái gì không nắm bắt được, không mô tả được.

Quan ú ớ:

– Bản chức chẳng hiểu gì cả?

Thiền sư gục gặc cái đầu và ậm ừ:

– Ít nhất thì Ngài cũng hiểu được điều đó, thưa Ngài…”.

Ít ra thì tôi cũng vỡ bọng cứt hiểu là gã chê tôi…dốt như me dốt đấy thôi. Tôi giận gã, nhiều khi phát chán, rồi lại không chán, lại chán, rồi lại không chán. Tôi không bao giờ giận lâu cho được. Tôi cạch mặt gã mấy ngày, gã dửng dưng, tôi sợ mất gã như nhện sợ mất bọc trứng. Vì là bạn gã, tôi hiểu lơ mơ thiền gồm có ngôn ngữ bí ẩn, thái độ kỳ quặc của mấy ông thiền sư khi được vấn đạo. Ông chỉ giản dị nói ra những gì ông thấy và cảm nhận lúc đó. Để người hỏi nhức nhối thêm. Và nếu người hỏi không điên cái đầu là…ngộ, là đạt. Gã như thế đó…Tôi như vậy đấy… Dường như như vậy. Vì vậy tôi mới động não động tình có bài viết này, thưa bạn đọc. Và bạn đọc đừng rỗi hơi hỏi…’’Tôi là ai ?’’. Vì chuyện đâu hãy còn đó.

Chuyện là như trên vừa kể lể, gã viết báo chùa và lấy bút hiệu là…Ngộ Không. Chẳng qua là gã hủ nho, khủng khỉnh cọ đít nồi nhóp nhép được ba chữ chi, hồ, giả, dã. Nếu bạn đọc hỏi nghĩa gì, gã được thể nhang thơm đèn thắp, cảo mực đề văn, nuốt câu bớt chữ, thêm dấm thêm tương dăm văn tự án, gia sản một mẻ ngôn từ như sau: Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ. Ngòai trời bắt đầu mưa lâm râm, tôi nguôi ngoai vì nghe rõ tiếng mưa rơi. Gã nói có mưa đấy, bộ mày không thấy mưa cũng theo nhau về đây đó sao? Có mưa theo nhau, sao mày không theo tao? Thời buổi này mà không theo thiền thì lỗi thời quá đi! Ấy đấy, gã điên thế đấy! Khỉ! Tôi không để ý lời gã nói. Ngoài kia trời vẫn mưa hiu hắt…

Thấy mặt tôi bè ra như cái bướm, mắt trố ra như mắt ếch, nói cho ngay nào tôi có khác gì con ếch, con bướm của Trang Tử. Vì rằng con ếch ngồi trong đáy giếng, làm sao nói được chuyện biển cả, con bướm chẳng sống qua mùa hè làm sao nói được chuyện tuyết rơi, vì nó không biết gì xa hơn đời nó. Như rình rập dịp này từ lâu, nay mới được dịp thuyết giảng cho tôi rạch ròi là “nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, không nghi không ngộ” mới…chết “ngộ”. Gã hé mở thêm, tham thiền không đem cái tâm ra đợi để được…ngộ. Vì đợi ngộ không khác gì ngồi bên đường đợi Phật, rốt cuộc Phật chẳng bao giờ đến với mình, muốn Phật đến thì phải đi tìm thôi. Lộng giả thành chân, thà gã nói quách ra Ngộ Không là…’’không ngộ’’ cho tôi đỡ rối trí. Vì vậy tôi gọi gã là…gã thiền giả. Giả hay thật, câu trả lời đầu môi chót lưỡi của gã vẫn là có và không. Diễn đạt theo thiền thì hết thảy tồn tại hiện hữu trong mê hay ngộ. Chỉ là niệm: Cũng…có mà cũng…không có. Có với không, gã lại làm tôi rối như canh hẹ thêm!

Lại nữa, gần đây gã thửa được cái tượng thiền sư ở tiệm bán đồ cổ, tượng gỗ cao cả thước, nặng cả chục ký lô, tướng hung dữ, lông mày sâu róm, mắt trắng dã, mũi quặp, râu quai nón. Tôi chả hiểu gốc gác ông thiền sư này ngoài cái tên là Bồ Đề Đạt Ma. Trước đây qua tranh vẽ, tôi chỉ thấy ông ngồi trên thuyền lau, người to hơn thuyền, thuyền không có mái chèo, nên chẳng hay từ đâu đến và sẽ…đi về đâu.

Với tôi, hình ảnh lổn nhổn của mấy ông thiền sư là ẩn náu cả chục năm trong hang hốc, người ngợm bụi bặm, tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm. Suốt ngày hết chống gậy lên núi nhìn mây bay, lại chống gậy xuống sông nhìn nước chẩy. Ngẩng đầu lên không thấy trời, cúi đầu xuống chẳng thấy đất. Thấy núi không là núi, nhìn sông chẳng là sông. Đi không biết mình đi, ngồi chẳng hay mình ngồi. Đến khi mệt mỏi thì tựa gốc cây, ngửa mặt lên trời cười khan ra cái điều…khinh bỉ cuộc đời. Một ngày thiền sư chống gậy xuống núi, giữa chốn ta bà mà chẳng thấy một ai ngoài cái Ta. Suốt ngoài và trong cái thân, chỉ là một ụ mối nghi hoặc với hoài nghi.

Về lão Đại sư đeo bị, vai vác gậy treo lủng lẳng cái hồ lô thật bắt mắt… Tôi tọc mạch hỏi gã bộ lão Đại sư qua Tầu để…uống rượu chăng? Như được gãi ngứa, gã râm ran:

 

“…Ông tăng Tầu hỏi thiền sư Cửu Phong cũng người Tầu rằng: “Ý của Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua…Tầu là gì”. Cửu Phong trả lời: “Một giỏ lồng rùa nặng chín cân. Hỏi nhảm nhí”. Thầy tăng không thông đạt, đi nửa đường gặp thiền sư Hương Lâm, tăng vấn câu hỏi ấy và Hương Lâm đánh cho một gậy và giảng luận: “Ngồi lâu thấm mệt”. Vẫn chưa hanh thông, thầy tăng cất công đến tham vấn thiền sư Mã Tổ và được trả lời: “Đồ quỷ đái dầm, thầy lạy trước cái đã”. Thầy tăng vừa cúi lạy xong, bị Mã Tổ đạp cho một cái ngã bổ chửng. Thầy tăng lồm cồm ngồi dậy, chắp tay mừng rỡ: “Đại ngộ.. Đại ngộ”. Bèn lạy tạ trở về chùa, sau thành đại thiền sư, dậy bảo thiền sinh: “Từ hồi Ta bị Mã Tổ đạp cho một đạp nên…cười chẳng nổi”.

Chuyện khỉ gió gì đâu, tôi muốn…cười cũng không xong vì thấy mấy ông sư tầu tầu đúng là quái tăng, cứ rình rình dậy thiền nhau bằng cách khện vào đầu mấy gậy hay đạp cho một đạp. Điên không chịu nổi. Sao tôi lại làm bạn với người như gã và không dứt ra được. Đếch học thiền nữa cho xong. Tôi muốn cút ra khỏi đời gã, cút khỏi thiền chướng của gã. Nhưng tôi với thiền thành nếp rồi, sửa lại không được nữa mới đau đời chứ. Thấy tôi chao đảo, gã mặt nghiêm và buồn rằng: “Với những câu nói của thiền, không nên phỏng đoán hay phân tích. Đó là những công án bí ẩn hay có vẻ vô nghĩa đến đâu nhưng vẫn có những ẩn tàng một cái gì sâu xa đằng sau những câu trả lời. Nếu mày có căn tu, một ngày nào đó trái nắng trở trời, mày sẽ…ngộ ra thôi”.

Nghe vậy, tôi bèn vén môi vấn gã cái công án u u minh minh mà tôi đã khổ công tầm chương trích cú với một rượu, một trà, một đàn bà, ba cái lăng nhăng nó quấy ta, có chăng chừa rượu với chừa trà. Qua vừng trán ưu phiền, gã lao tứ khổ tâm, vuốt râu thả chữ:

“…Một hôm thiền sư Ikkyu và Lâm Tế bất ngờ thấy một nữ nhân trần truồng tắm ở dưới sông. Ikkyu ngừng chân, cúi đầu, kính cẩn chiêm ngưỡng thiếu nữ. Lâm Tế vặn hỏi: “Sự gì thầy nhìn chòng chọc vào cái thân thể trần truồng đó”. Ikkyu trả lời rất phàm tục: “Hãy như đi cầu, đi tiểu và làm người thật thôi. Khi đói thì ăn, mệt thì ngủ. Ông chớ nên mê Phật ghét phàm, làm vậy ông chỉ tổ chẳng bao giờ thoát ra được cái vòng xoáy luân hồi. Nếu ông khát, ông mơ về nước, nếu ông lạnh, ông mơ cái áo ấm, Còn ta, ta thấy một thân thể trần truồng, ta mơ về những niềm vui khuê phòng. Đó là bản ngã của ta”. Ikkyu giảng giải thêm: “Ông là người tu hành khi chưa đạt đạo thì đại kỵ chuyện giao tiếp của nam và nữ, thế nào cũng phạm giới vì phản chiếu cái tâm của mình. Ông sở dĩ kỵ nhìn người nữ ấy, cũng vì cái tâm súc sanh của ông vẫn còn. Như ta đây, khi giác ngộ đại đạo rồi thì ta chẳng có tà tâm nào cả, chuyện nam nữ tương giao ấy vốn là lẽ tự nhiên của trời đất. Ta bảo rằng Phật đạo đã dậy như vậy đấy”.

 

***

Mặt tôi lại đực ra như ngỗng đực, rõ ra là chuyện khỉ ho cò gáy gì đâu chẳng biết nữa. Gã như thế đó…Tôi như vậy đấy…Một ngày như mọi ngày, mới sáng bảnh mắt ra kêu đói, bắt tôi đi mua phở về cho gã ăn rồi về bàn chuyện…thiền tiếp. Tôi hầu gã hơn hầu bố tôi không bằng, thế mà tôi thấy cực kỳ vui mới hay chứ. Khỉ thật!

Riêng hôm nay, bỗng có tiếng chuông điện thọai rôm rả như ấm nước sôi reo, tôi đưa điện thoại cho gã, gã nghe mặt mày hớn hở. Bỏ bu, tôi lại lây bệnh ông tác giả ở trên…Bây giờ thì lúc nào tôi cũng “nơm nớp, nơm nớp…chỉ sợ lại phải nghe tiếng chuông điện thoại reo. Nơm nớp…”. Vì rất có thể là điện thoại của…ông bạn nào của gã gọi để luận về thiền. Lát sau, gã xách xe ra khỏi nhà, biết là có mục, tôi theo gã vào một cái quán vắng trong khu phố chợ. Tôi hiểu bạn đọc đang thắc mắc tôi là ai. Có ở chung nhà với gã không? Sao mới nghe lóm điện thoại đã bén gót theo gã ra đây che đóm ăn tàn? Tôi cũng chẳng biết thưa thốt gì hơn với bạn đọc là…xin đọc hồi sau sẽ rõ.

Họ cũng vừa tới và họ đây là hai mẹ con. Tôi ngắm trộm, bà mẹ khoảng bốn mươi, cô con gái cỡ hai mươi. Bà mẹ vẫn còn có nét, qua câu chuyện tôi thấy bà đang lẻ bóng nên tôi gọi bằng cô cho gần gũi. Thóang nhìn cô ta có nét mệnh phụ phu nhân, nhưng xa vắng, buồn u ẩn đến…nẫu người. Và tôi chợt bắt gặp gã, như đang ẩn hiện những nuối tiếc cùng những ngày tháng qua mau, gã cúi đầu xuống ly bia mầu hổ phách đang sủi tăm, nhạt nhòa với một “thóang hiện em về trong đáy cốc”. Tôi tự thầm hỏi, hay là tình cũ không gọi mà tới, nào ai biết ma ăn cỗ vì chuyện này thì có thể sẩy ra cho bất cứ ai, một lần trong đời. Riêng tôi thì không…

Cô nói năng có chút e dè, và qua chuyện thì hóa ra gã và cô ta là hai anh em họ mới…đau cái đầu. Hai anh em rù rì nhỏ to, tôi được biết thêm, cô ta ở xa lắm…ở mãi bên kia trời Âu lận, hai mẹ con ở một tỉnh nhỏ, cô cắm hoa và vẽ tranh thiền triển lãm. Thơ thiền, nhạc thiền, tôi vật vờ, còn tranh thiền thì chịu chết. Nhưng cô có mang tặng gã hai bức, chốc nữa về tôi sẽ được ngắm…“thiền” méo tròn ra sao. Bỗng cô sai con chạy ra chợ mua ít đồ dùng vặt vãnh, cô con gái vừa rời khỏi chỗ. Cô kéo ghế gần gã hơn, lấy trong ví ra một tấm hình đã cũ.

Tôi lom lom thấy có ba người: Gã, cô ta và…một cậu trai.

Tôi nhận ra ngay gã. Hình chụp ngày Tết, cô mặc áo dài ngắn cũn cỡn, cổ đeo kiềng. Còn cậu trai tóc chải ngôi giữa, mặt mày hơi ngao ngáo, mới đầu tôi nghĩ là họ hàng chi đây, hóa ra là bạn cùng xóm của gã và cô ấy thế mới…điên người. Ngòai ra tôi còn biết tên cậu ta nữa…

Cô sụt sùi thì thầm, nhỏ dần như ấm ức, cớ sự như vậy nên tôi càng lắng tai qua tiếng còn tiếng mất, nhưng câu chót thì tôi nghe không sót một chữ…Nghe xong, tôi muốn bá thở.

Mẹ ơi, cô con gái của cô ấy, cũng là: Con của một…ông sư.

***

Về đến nhà, gã nằm đo giường và thở hắt ra vì bão. Nằm chán chê đến hai ngày nhìn mưa rơi lộp độp, rồi trời quang mây tỏ, gã xách bịch bia ra vườn ngồi uống. Đang tu chai thứ hai, mắt gã lóe lên như đom đóm đực, vì bất ngờ chộp được hai con ruồi bự sự bằng móng tay út, như ruồi xanh, ruồi trâu, ruồi ma ấy. Chắc mẩm bạn đọc đang nghĩ dại, hay gã bắt mồi đưa cay. Tôi cũng chưa biết nếp tẻ gì, thì thấy gã nhón từng con, bỏ vào cái chai không, nhưng vẫn còn chút xíu ít bia thừa. Lạ chửa kìa, bạn đọc thấy không? Vừa rơi tõm xuống lớp bia mỏng tang, chưa yên chỗ, con ruồi con đã thoả mái tắm táp, lau mày lau mặt, như thiếu nữ ngủ ngày ấy. Còn con ruồi lớn đủng đỉnh chấm mút chút bia cặn, rất tửu đồ, rất nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ…

Rách chuyện thêm là…một buổi, gã hủ nho bạn tôi thơ thẩn phố chợ, thấy sách bày trên kệ, thuận tay mở ra xem, bất đồ cả mừng vì tóm được một số…công án thiền “đóng hộp” bèn thửa về. Thế nên buổi nay gã lôi tập thiền thư ra tụng. Nhưng mắt vẫn ngó chừng hai con ruồi, lại nhìn tôi ra ý dò hỏi ắt hẳn là một cái, một đực chăng? Gã như thế đó…Tôi như vậy đấy. Dường như đúng thế. Ít nhất là tôi nghĩ thế. Gã và tôi, thấy mỗi lần con cái vo ve, con đực như bực bội và loi ngoi muốn bò ra khỏi cái cổ chai. Khi không gã nhỏm dậy đi lấy cái kéo, đồ nghề bonsai. Tôi chắc mẩm gã ngứa mắt vì ba cái lá lạc lõng, nên muốn tỉa tiếc chi đây. Chả là cây đang già lão, cắt với xén gã tạo ra dáng như cô gái đang thì. Cây đang mơn mởn động tình, gã làm cho lão hóa, hom hem. Mỗi lần hòan tất xong một tác phẩm nghệ thuật…cây, gã lỳ một lam, làm một ly, rồi đổ vấy cho…đọan tống nhất sinh duy hữu tửu và buồn tình ngâm nga: Khỏang trời đất cổ kim, kim cổ – Mảnh hình hài không có, có không.

Gã nhìn tôi, như biết tôi đang thao tác về gã. Gã lên giọng tụng kinh thư thiền:

“…Một thiền sư có việc phải sang sông…Người lái đò là một cô gái đang độ xuân tình, trong lúc đi đò, thiền sư chợt nhận ra một nút ngực áo của cô lái đò bị bung ra và bầy trước mắt sư một cái gì lạ lẫm lắm. Bởi thế sư cứ nhìn chăm chắm vào cái…lạ lắm của cô lái đò. Sắc tức thị không, không tức thị sắc, cô lái đò biết thiền sư đang nhìn ngực mình…”.

Gã ngừng đọc, tu một hơi bia…Thấy con ruồi đực bò ra khỏi cái cổ chai, gã tóm lấy, vớ cái kéo, rất cẩn trọng như tỉa cây, gã cắt béng hai cái chân của nó. Tôi hết nhìn gã và con ruồi, mà ủa lạ chửa kìa? Gã bỏ con đực vào lại cái chai, lần này, con cái gặp lại chàng… ngày về anh đã cụt chân, lại hí hửng vo ve nữa, và con ruồi đực chỉ nhẩy cà nhắc, cà nhắc. Tôi định hỏi gã gì quái vậy? Nhưng lại thôi, vì thấy gã vẫn đang đắm chìm với…thiền:

“…Qua đến bờ bên kia, mọi người lục tục trả một quan tiền đò. Đến phiên thiền sư, thiền sư cũng định thế. Không ngờ cô gái hóm hỉnh bảo:

– Xin nhà thầy cho hai quan.

Thiền sư còn đang ngạc nhiên thì cô gái bồ bã tiếp:

– Mọi ngươi qua đò chỉ qua đò thôi. Còn nhà thầy, ngoài việc qua đò, còn ngắm ngực tôi nữa. Vì vậy tôi tính một quan cho tiền đi đò và một quan về khoản nhìn người lái đò.

Thiền sư ngượng quá đành bấm bụng trả hai quan…”

Con ruồi đực cứ nhẩy cà tửng, cà tửng. Ngứa mắt, gã dốc cái chai và lôi nó ra cắt hết chân và bỏ vào lại. Bây giờ con ruồi cái có vo ve cỡ nào, nó vẫn nằm yên một chỗ, và không…cục cựa. Tôi không hiểu bạn đọc nghĩ gì, trong đầu tôi đang lẩn quẩn với hình ảnh ông sư với người tình cũ em họ gã. Hay là….Nhưng tôi vội sua đuổi ý nghĩ u u minh minh ấy đi! Vì thằng này theo tôi nhắm chừng chỉ khẩu xà tâm Phật vậy vậy thôi, chứ chả đến nỗi nào.

Gã vẫn cắm cúi đọc, như không có chuyện gì sẩy ra trong chốn u mê tục lụy này:

“…Bận về, thiền sư không dám nhìn cô gái mà úp mặt xuống lòng đò, không dám nhìn lên. Đến bến, mọi người trả tiền đò, đến lượt thiền sư, cô gái nheo mắt:

– Xin nhà thầy cho năm quan.

Chẳng nhịn được nữa, sư cãi cho ra nhẽ:

– Nhưng tôi có nhìn cô đâu nào.

Cô gái đỏng đảnh trả lời:

– Đồng ý là bận đi, nhà thầy chỉ dùng mắt nhìn bên ngoài của tôi. Nhưng bận về thầy lại nhìn hết thân thể bên trong của tôi bằng…cái tâm,

Nghe xong, thiền sư hóa…ngộ”.

Chém chết công án thiền cô lái đò có bộ ngực hớ hênh với ẩn dụ nào đó? Dường như đúng thế, it nhất là tôi nghĩ thế. Để rồi gần mực thì đen gần đèn thì lu, tôi mù u rằng thiền sư nhận thức mắt mình quả tình có vô tình…va chạm một tí vào chút dư thừa của cô lái đò, để chứng ngộ thấy cái bản ngã của mình ẩn nấp trong bộ áo nâu sòng. Thế nên tôi trộm nghĩ thì phải chăng thiền sư đã liễu đạt, đã chứng ngộ.

Chả như chuyện Tầu qua thiền nhập môn với ông sư trẻ vặn vẹo ông sư già mà gã đã kể tôi nghe. Cứ theo gã, thì gốc gác từ chuyện Nhật:

Một hôm thiền sư Tanzan và Ekido đi qua một vũng lội gặp một thiếu nữ trong bộ kimono đai lưng bằng lụa. Họ thấy thiếu nữ ngập ngừng. Cô rón rén. Bước một chân chạm nước rồi do dự. Cô vén kimono lên một chút. Lại dọ dẫm chẳng biết nông hay sâu. Nước lên gần đầu gối. Cô thấy gai gai lạnh nổi da gà. Vạt váy kimono vẫn còn vướng víu. Liều thêm một chút. Cô cởi phắt cái đai lưng ra…Hiểu theo nghĩa là phần thân thể đằng trước của cô, chẳng còn gì nhiều để ẩn dấu nữa. Thấy vậy Tanzan ghé vai cõng cô gái qua vũng nước. Thế là Ekido cằn nhằn. Là người phàm mắt tục, tôi không mảy may tin khi ông thiền sư Tanzan cõng cô gái hở hang mà chẳng động não động tình và quên cái va chạm ngập da thịt…giết người từ sau lưng!

Rõ khỉ! Thiền gì mà lẵng nhẵng vậy chẳng biết nữa nên tôi im như thóc ngâm vì biết gã mê thiền. Gã mê cái gì vậy? Không biết! Thiền có gì cho gã mê nhỉ?. Chẳng có gì! Kệ, nghĩ nhiều đau đầu mệt xác. Thế nhưng ấy là chuyện Nhật hay Tầu dậy khôn người mình qua sách vở, còn đây là chuyện Ta với cụ Nguyễn Khuyến, thưa bạn đọc:

Chuyện quỷ tha ma bắt là một lần cũng qua sông như Ikkyu: Cụ gặp một cô gái đang tắm, khác với Ikkyu khi bất ngờ thấy một nữ nhân trần truồng tắm ở dưới sông. Ikkyu ngừng chân, cúi đầu, kính cẩn chiêm ngưỡng thiếu nữ. Thì cụ Nguyễn Khuyến để lại bốn câu thơ…để đời. Bài thơ này không có ghi trong sử sách và được thuật lại qua người con của cô gái ngày ấy mà cụ Nguyễn Khuyến đã gặp một chiều trên bến nước :

Con gái nhà ai tắm vệ sông

Vú vê để hở váy quai cồng

Ước gì ta được mà ta để…

Ta…để mà ta lại…để chung

Qua sông ai nỡ quên đò như cụ Nguyễn Khuyến: Thiền như vậy mới là thiền.

***

Nốc hết chai bia, gã bỏ vào nhà. Con ruồi đực vẫn nằm quay đơ. Tôi lẽo đẽo theo xem gã dở quẻ gì nữa đây và tự than thầm rằng hôm nay gặp cái ngày chéo ngoe gì đâu! Hóa ra gã đem treo hai bức tranh của cô em họ. Tôi tần ngần đứng ngắm, bức thứ nhất theo trường phái ấn tượng. Bạn đọc nên hiểu là không phải ấn…bức tượng vào tranh. Mà là trát thật nhiều bột mầu vào bản vẽ, rồi ra người thưởng lãm muốn…hoang tưởng là gì cũng xong tuốt. Quả là như vậy, cô ta dùng nhiều mảng mầu phủ lên nhau dầy đặc, chỗ đậm chỗ nhạt, như một mảnh phù điêu khắc mỏng nên tôi chả hiểu khỉ mốc gì sất. Chỉ biết rằng ấy là…tranh thiền.

Bức thứ hai mầu sắc nhẹ nhàng hơn, nét vẽ rõ hơn là một khúc cây khô, điểm dăm ba cánh hoa mai vàng chơ vơ…Bố cục cổ điển như tranh thủy mạc với những nét chấm phá, nhất là khúc cây nghiêng ngả, cằn cỗi, mốc meo rất…ấn tượng.

Và tôi nhớ mong manh: Hình như đã thấy hình ảnh này ở đâu đó, lâu lắm rồi.

***

Hôm sau, mới sáng tinh mơ gã và tôi rời khỏi nhà. Ngồi trong xe, tôi cứ lấn cấn chuyện hai con ruồi hôm ấy, như có một cái gì không đúng bài bản. Gã vẫn bình thản lái xe như không có tôi ở bên cạnh. Tôi vẩn vơ nghĩ ngợi mông lung, giống như chuyện ông sư già cõng cô gái qua vũng nước là quên ngay, bỏ lại sau lưng mọi nhiễu sự. Nhưng thằng tôi với ông sư trẻ vẫn lêu bêu theo sau và giữ tịt trong đầu những ám ảnh, ám chướng…Cuối cùng chịu hết nổi, tôi há họng hỏi gã. Gã giọng lừng khừng, không thiền tính chút nào: Hữu hình tất hữu họai…. Mồi điếu thuốc lá, giọng khào khào: Âm động của vô thức, âm thanh không âm thanh. Nghe hãi quá thể, tôi nghĩ dại, thôi rồi cứ như Tiếng vỗ của một bàn tay. Mà giời ạ, tay chân con ruồi mới bị gã cắt béng đi rồi thì còn đâu mà vỗ mới viếc. Tôi chưa kịp “ngộ” và “đạt”, gã luận thêm một công án thiền, nghe tức như bò đá: “Khi con ruồi không có chân tay. Nó sẽ bị…điếc”.

 

Và tôi chột dạ, gã bóng gió gì đây? Chẳng dấu gì bạn đọc, tôi có cái tật bẩm sinh là có cái đầu hơi nhọn…Mà nhọn thật. Nên lúc nào cũng đội sùm sụp cái mũ. Như mũ ni che tai, nên gã muốn nói tôi…điếc đặc chăng! Có giời mới hiểu gã! Gã như thế đó…Tôi như vậy đấy…Bạn đọc đừng mất công hỏi tôi là ai? Hãy đợi khúc sau sẽ rõ!

Bỗng dưng gã quay qua tôi, vén mồm sáo cuội:

‘’…Thiền sư Roykan khi đã đứng tuổi tu ở thiền viện hẻo lánh ven biển, tại đây có một thiếu nữ hay lang chạ với nhiều người rồi có con rơi. Một buổi, một thiếu nữ mang con mới sanh tới cổng chùa, đặt lên tay thiền sư và nói: ‘’Con thầy đây’’. Sư ngước mắt lên buông hai chữ: ‘’Vậy hả’’, vậy thôi, cô gái bỏ đi. Thiện nam tín nữ thấy lạ, nên tới hỏi sư: ‘’Đúng là con của thầy !?’’, sư thản nhiên trả lời: ‘’Vậy hả’’. Là xong. Ít lâu sau cô gái trở lại chùa nói: ‘’Không phải con của thầy’’ rồi cám ơn và bế con đi. Sư cúi đầu xuống cũng chỉ thốt hai chữ: ‘’Vậy hả’’. Là hết…’’

 

Tôi giật mình vì tự dưng gã mang công án sư có con kể lể khơi khơi. Dậu đổ bìm leo, tôi bốc nhằng hỏi chuyện về bạn gã. Gã trả lời bằng cách quay đi phun khói mù mịt như tầu hỏa. Quay cái cửa kính xe xuống cho đỡ ngộp, tôi ngó lơ ra bên ngòai đồng trống và bỗng thấy cái bảng chỉ đường. Ủa, gã đang đi về hướng đông, dọc ven biển tới tỉnh T….

Tôi lặng người, tất cả mọi sự từ hôm qua đến bây giờ ăn khớp với nhau như hai cái đĩa răng cưa quay ngược chiều, từng khe nấc, từng thời điểm. Vậy mà cái đầu đất tôi nghĩ không ra! Khỉ thật! Vì gần đến tỉnh T…, phải qua phà, vào một con đường mòn và tôi nhớ rõ mồn một có cái chùa, có một ông sư trụ trì, trước đây nghe hơi nồi chõ là bạn mèo mả gà đồng của gã, tên là…Tôi thộn mặt ra trông thấy, không lẽ nào…Giời ạ, chả là vì cùng tên! Hóa ra:

:

Cậu trai trong hình hôm nọ và ông sư trụ trì là một.

***

Giống cuốn phim câm quay chậm, bằng vào cách đây không lâu: tôi nghe bát nháo gã có một ông bạn nối khố mãi bên trời Âu, đang học nửa chừng bỏ đi tu. Mà tu cũng lạ đời. Ông tu theo kiểu hết sức âm u, ông xa lánh cõi trần tục, ẩn mình trong rừng sâu. Ông cất…nhà chim trên cành cây, khát thì ông thả bộ xuống suối, đói thì chim ăn gì ông ăn nấy. Sáng, ông tĩnh tọa dưới gốc cây để chứng ngộ chiếu kiến ngủ uẩn giai không. Giấc ngọ, ông vừa tụng kinh gõ mõ, vừa đi bộ chung quanh cây cổ thụ. Cây cỏ chung quanh ngóc đầu lên không nổi, nên đành…chết tiệt. Chiều, ông leo lên cây ngủ. Rồi ông chán cảnh rừng xanh chim kêu vượn hú, ông khăn gói gió đưa qua đây, trụ trì ở một tỉnh lỵ hẻo lánh bên đường, buồn như phố quận. Thí chủ kháo nhau rằng sư quán chiếu, quán niệm bằng cách thở bằng bụng. Sư thiền tọa, thiền định, bằng cách nhìn chằm bằm vào cái chấm trên tường. Thế nên họ tôn ông là…thiền sư.

Năm nào không nhớ, tôi và gã đến thăm. Nhớ lại cái lúc gã và sư gặp nhau, ở ngòai sân chắp tay thủ lễ bạch thầy với thí chủ. Bước vào tư phòng, họ mày, tao chi tớ đôm đốp, chỉ thiếu vắng tiếng…chửi thề. Mới đây học gã, tôi chân trong chân ngòai cửa thiền môn, nên rất ái ngại gặp sư. Nhưng gặp rồi tôi thấy sư có nét mặt đôn hậu, nụ cười rất từ bi hỉ xả. Tôi mến mộ sư hơn nữa khi sư chỉ cây bonsai đơn côi, đơn chiếc và chuyện trò với gã rằng một ngày như mọi ngày: tối sư bê ra ngòai hứng sương đêm, sáng sư khiêng vào trong đặt trên bệ cửa sổ. Mà cây bonsai nào có đẹp gì cho cam: chỉ là gốc mai rừng trơ trụi, chẳng có đến một cái nụ non mãn khai, ngòai dăm chiếc lá èo uột, vật vờ trên khúc cây khô đét và già nua. Tôi bâng quơ hỏi tên chậu bonsai, sư ngần ngừ. Sư thở ra…

Như tiếng thở dài:

Gió thông đưa kệ tan niềm tục

Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời

Đột nhiên tôi mường tượng lại khúc cây thô trong bức tranh thiền là cùng một thế la đà. Chỉ khác một điều, cành mai của cô em họ gã, nay đang đầy sức sống. Để rồi lúc này thì tôi đã hiểu. Kéo theo một mớ thơ thiền trốn nhủi trong tâm khảm rủ nhau lũ lượt chui ra:

Đêm đêm tôi nhớ bàn tay cũ

Và thấy trong kinh đủ bóng hình

Bế quan tọa thị, tôi và vách

Tôi tụng kinh gì, em nghe đi

Gã vẫn hục hặc lái xe, như gì suy nghĩ lung lắm. Tôi vẫn đeo đuổi ý tưởng của riêng tôi với ông sư và cô em họ như duyên với nghiệp, cũng chỉ là bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. Cả hai như cùng đi chung một con thuyền hệ lụy, chưa ghé bến ngộ. Vốn liếng góp nhặt sỏi đá của tôi vốn dĩ chỉ có bấy nhiêu. Nhưng cũng võ vẽ rằng giúp cho một người bằng mười lần xây tòa Bửu Tháp, huống chi chuyện sát sinh. Không dưng với hai chữ sát sinh, tôi chột dạ, ngó quanh ngó quẩn, nhìn xuống gầm sàn xe, xem có…dao, búa, kìm, kéo gì chăng. Đường tới chùa gặp ông sư còn dài như về Tây Trúc, mặt mày gã mỗi lúc một nặng như chiếu ướt.

Buồn tình tôi kể cho gã nghe một chuyện thiền mà tôi xem lóm trên mạng lưới:

“…Tại một thiền viện nọ, thiền sư đang giảng kinh kệ cho các thiền sinh mong để giải thóat và liễu ngộ. Ngài có ý chọn một trong những thiền sinh thấu triệt đạo, để lãnh ấn chứng thay thế Ngài trông coi thiền viện khi Ngài viên tịch. Vị thiền sư giảng giải “Trong luật giới có ba thứ phải ghét, năm thứ phải kiêng, một trong thứ ấy là sát sinh”. Các thiền sinh chăm chú nghe, Ngài giảng tiếp “Nếu các con giết một con kiến, kiếp sau con đầu thai sẽ là con kiến. Giết con bò kiếp sau sẽ là con bò. Giết một người, kiếp sau sẽ là…”.

Bỗng nhiên có một thiền sinh đứng dậy và lẳng lặng đi vào trai phòng.Thiền sư ngạc nhiên nên hỏi đi đâu thì thiền sinh ấy trả lời “Thưa thầy, đệ tử vào bếp tìm…con dao”.

Dòm chừng gã chưa chứng ngộ công án cao thâm đến như vậy. Gần nửa đường, bỗng chốc hình ảnh cây bonsai lại ẩn hiện trong tôi, qua cái lắng đọng của một buổi sáng ít nắng nhiều mây. Tôi quay qua gã, nhắc lại chuyện ông sư, quanh năm suốt tháng cứ còm cõi, bê ra khiêng vào khúc cây khô cằn. Tôi thu vén với gã, gốc mai gầy nay chắc cũng đã xanh tươi, nếu có nụ non, thì rồi cũng phải đến kỳ mãn khai, rồi sẽ có một ngày sẽ rộ hoa.

Gã thao láo nhìn tôi. Trong một khỏanh khắc, như nhận thức được tiếng chuông tỉnh thức…Gã lẳng lặng vòng xe trở lại, ở một khúc quanh gần nhất trước mặt…mua một bịch bia.

Gã lại đầu cua tai nheo một công án thiền khác:

“…Thiền sư Ikkyu kể chuyện cho thiền sinh rằng một bà lão dựng một căn lều cho thiền sư Hakuin tu tập. Một hôm để thử nghiệm mức độ thâm sâu giác ngộ của sư, bà dẫn một thiếu nữ tới để quyến rũ sư. Khi thiếu nữ ôm sư và hỏi: “Thấy sao?”. Sư trả lời: “Cây khô trên đá lạnh…Có chút hơi ấm cho ba đông”. Bị một cơn gió lạnh lướt qua, đột nhiên Hakuin gục xuống, thiền sư thều thào với thiếu nữ: “Hãy sưởi ấm ta với thân thể ngươi”. Cởi áo ra, phơi bầy trọn vẹn, thiếu nữ ôm Hakuin, sư nằm ngủ nhiều giờ trong vòng ôm của thiếu nữ…”.

Tôi bụng bảo dạ: Khỉ gió gì đâu, thiền gì mà trúng gió thổ tả thế này thì chẳng thiền có chết ai đâu. Thế nhưng tôi nhầm. Gã tiếp, rõ ra có đầu có ngọn giống như…một khúc cây:

“…Ikkyu luận công án trên cho thiền sinh của mình: “Nếu nữ nhân ấy ôm nhà sư này, thì khúc cây khô của ta cũng sẽ dựng thẳng đứng dậy”. Hakuin ngưỡng mộ Ikkyu nên nói ông không quan hệ tình dục với thiếu nữ ấy, nhưng nếu có thì là một thăng hoa của thiền trong đời sống. Hakuin vẽ bức tranh khỏa thân “Nhà sư và thiếu nữ ” tặng Ikkyu. Ở bức tranh, phần đàn ông của sư dựng dậy, và phóng túng chữ thư pháp với mẫu tự “Ichi” là “Một”. Góc bức tranh có bài kệ “Vạn pháp trở về Một, vậy Một quy về đâu?”. Hakuin dẫn giải qua công án về chữ Một: “Ngay trong trận bão dữ dội nhất, cái này của Ta vẫn bất động như…một khúc cây khô”.

Về đến nhà, ngồi xuống bàn uống bia và gã đè “đầu” tôi xuống tờ giấy cho xem công án của gã viết. Gã vừa nguệch ngọac xong cũng vừa đúng lúc tôi kiệt sức. Theo quán tính, tiện tay gã quẳng mảnh giấy, chai bia và tôi vào…thùng rác. Nằm lẫn lộn giữa mấy chai bia, tôi một nơi, mũ một nẻo. Đang tự nhủ thân phận thằng tôi đâu có khác gì hai con ruồi trong vòng trầm luân, lõm bõm bơi trong bể khổ. Thì giời ạ, tôi vớ ngay được tờ giấy gã vừa vất đi và mở ra đọc:

“…Thiền sư Inzan đến với Gazan để tham vấn công án. Gazan đưa tay ra hỏi:

– Sao cái này được gọi là cái tay?

Inzan chưa kịp trả lơi. Thiền sư Gazan giơ chân lên hỏi tiếp:

– Sao cái này gọi là cái chân?

Khi Inzan cố mở miệng thì thiền sư ôm bụng cười ngất và nói:

– Người đời nay tìm con đường ngộ nhập vào thiền bằng vào những công án, trích dẫn đủ loại luận giải. Đó chỉ là giải thiền ngoài cửa miệng, chẳng mang lại một thực chứng nào cả. Ngay bản thân những thiền sư, không vượt qua những chướng ngại của chính họ thì làm sao có huệ nhãn hay tâm thức điểm hóa người khác”

Thiền gì mà quái. Tôi nhủ thầm, hóa ra có quái như vậy nên mới là thiền sư. Vậy chứ gã là gã thiền…thật hay là thiền….giả đây?.

Giả hay thật. Câu trả lời là có và không. Cũng…có mà cũng…không có. Vật lộn với chữ nghĩa cho lắm tôi nghĩ quẩn về một kiếp lai sinh trong cái vòng lẩn quẩn để chẳng hiểu bản thể của chính mình từ đâu mà có? Và…có hay…không?

Thế nên tôi đành phải bấm bụng hỏi lão bạn đời tôi là cái tay. Lão cười ruồi:

“Bạn đừng lo! Tôi đã gặp trường hợp như vậy rồi. Bạn chính là cái bút của gã. Cái đầu đầy hoang tưởng của gã đã tạo ra nhân vật thứ hai để đối thoại. Cái xứ vật chất này đã nuốt chửng cái thằng người thực của gã và khạc ra một thằng người khác. Cái bút chính là bản ngã của gã, là…cái thằng người mới được khạc ra đó. Đó chính là…bạn chứ chẳng phải ai khác”.

 

Chợt nhớ gã vừa đưa ra công án…sao cái này gọi là cái tay. Tôi ngóc đầu dậy, chả là gã viết báo chùa nên tính kể cho gã nghe chuyện mà lão bạn đời tôi là cái tay vừa mới buông xả. Thì bỗng có tiếng điện thoại kêu như dế kêu… Và tôi nghe thấy gã hành thiền:

“Thế Ngài không biết thiền chướng hay sao? Một căn bệnh hay lây bây giờ. Ngài không hay ở trong nước đổi mới tư duy với cao trào công án thiền. Vì cần thuyết phục nhau, thì “dùng công án Thiền dễ hiểu hơn nhiều”. Như “Lấy đũa quơ trăng”, “Thiền sư qua sông”, “Quẳng dao giết lợn xuống là thành Phật” rất rõ ràng, sáng tỏ. Như hỏi một nhà văn rằng vì sao anh ta cứ mài óc ra mà viết bài cho báo lá cải. Đáp: Phật cũng chỉ là que cứt khô thôi mà! Hỏi tiếp: Sao Phật lại là que cứt khô? Đáp: Anh không biết công án Thiền à? Thế là người hỏi cứng họng. Trao đổi với một nhà phê bình khác: Bài viết này của anh nội dung chả nói được điều gì. Đáp: Nói được cũng bị ba mươi hèo, không nói được cũng bị ba mươi hèo thôi ông ạ. Hỏi tiếp: Ba mươi hèo ở đâu ra thế? Đáp: Thế là ông không đọc công án Thiền rồi!…”.

 

***

Bạn đọc giật mình đánh thót vì nghe tiếng điện thoại reoBây giờ thì lúc nào bạn đọc cũng nơm nớp, nơm nớp…chỉ sợ lại phải nghe….Nơm nớp… Vì bệnh thiền vừa mới lây sang bạn đọc đấy. Không biết chừng rất có thể lại thêm một chuyện thiền hay một công án khác nữa. Tôi nào có hơn gì bạn, mõi lần nghe dế kêu tôi cũng nơm nớp, nơm nớp…chỉ sợ lại phải nghe….Nơm nớp…

Thế nên tôi vội vàng đậy cái nắp bút lại như…mũ ni che tai, thưa bạn đọc.

 

Trúc Gia Trang

Lập xuân, Canh Dần niên

Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

Chú thích: Bài viết được đắp chữ vá câu từ tác phẩm và tác giả “Con Bọ Xít” của

Ngô Ngọc Trang và “Chứng Bệnh Ferma” của một tác giả khuyết danh ở Canada.

 

 

©T.Vấn 2011