01/05/2012
Ngộ Không : Tửu sư

clip_image002

Đó là cái quán cột tre cật, nền đất thô phẳng lì, tường trát bằng bùn trộn trấu, mái nứa đập dập cho khít lại lợp rơm trông cũng tươm tất. Chủ quán là ông phó Canh, là con của một ông đồ nát chữ. Bố ông mượn câu học kinh bất minh, bất như quy “canh”, hàm ý là học sách không thông, không bằng về đi cầy đặt tên cho ông.

Chuyện là bố ông người miền bể, lang bạt kỳ hồ ghé đây thấy vùng đồng bái quê mùa nằm ở thế đất quần ngư với chuôm đầu rồng, gò bút nghiên. Cổng làng có hai cột gạch, có hai câu đối bình bộ Nghè địa đa thiểu khách và vãng lai đạo lý sĩ hiền môn, nôm na là làng hiếu khách là…kẻ sĩ, tên làng lại là làng Nghè. Thế là bố ông ở lại bẻ chữ kiếm cơm nhưng không đủ vắt mũi đút miệng, chỉ vì vùng đất này thám hoa, bảng nhãn đông như tổ đỉa. Rồi thân già vác dùi nặng, tự dưng quàng cái ách vào người với cái quán bát nháo trên. Quán ế ẩm, bố ông càng thất chí tợn, nốc rượu nhiều hơn khách mong dục phá sầu thành tu dụng tửu. Sáng chiều bố ông ôm cái hồ trường nghêu ngao dữ nhi đồng tiêu vạn cổ sầu hiểu theo nghĩa là…cùng với mày, ta tiêu tán nỗi buồn nghìn năm.

Đột nhiên bố ông đốc chứng đóng cửa tạ khách, ngao du sơn thủy, hết xuân sang hạ, khi xuống núi nghe chim kêu trên cành, lúc lên non ngắm mây đi trên giời. Tối tối đốt mười hai nén hương như thập nhị bát tú, thắp bẩy ngọn nến như thất tinh đàn để quần ẩm với bằng hữu, tòan nói chuyện vờn trăng trên nước, mò kim dưới duyềnh như Lý Bạch. Chuyện ông Trích Tiên mò trăng dưới nước, rơi tòm xuống sông chết đuối vì rượu ai chẳng hay. Vậy mà bố ông chẳng chịu chừa cho, để ông bây giờ mắc cái nợ nhân gian.

Một ngày lên non cưỡi mây về bố ông bị thổ tả, trống điểm canh tư, biết mình không qua nổi canh đọa. Định phận tại thiên thư, bố ông bò dậy, phều phào trăn trối chỉ xuống dưới gầm trạn, có cái túi bọc da trâu, túm tó bằng dây chão buộc gầu tát nước, ấy là…”Tửu kinh”. Đọan bố ông xoay đầu về cố quận ở hướng đông hộc máu ra mà quy tiên. Tửu kinh là một thi tập rối rắm, đọc miết ông phó Canh mới lớ ngớ ra là kinh sách bố ông truyền thụ cách…nấu rượu Hồng xa xưa của đất Quảng quê ông.

***

Chẳng an phận với nửa sào vườn trống trải, cái ao thả cá với mươi con vịt, thế là một bữa, trên giời lê lết có mây xanh nắng vàng. Sau cái lễ thọ sơ tuần, vò võ một mình rúc một hơi thuốc lào, lim dim nhìn quán cũ một thời tan theo mây khói, ông bụng bảo dạ rằng phải cơ ngơi lại nghiệp nhà. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào, bây giờ đến phiên ông sắn tay áo tay làm hàm nhai. Chẳng qua cũng nhờ cái nghề đóng cối nên nẩy ra cái nghề giã gìò, giã nem, làm cho lắm tắm cởi truồng, danh phận với quán nhà lúc này chỉ là mấy cái móng trâu ninh nhừ.

Quán nằm khuất sau cây đa đứng sừng sững ở góc chợ. Phía trên là dẫy núi Con Thằn Lằn thấp dần xuống, nên nhìn từ trên cao, chợ như được treo lên…cành đa. Chợ có cả chục túp lều tranh lợp lá, giàn rường cột chống đỡ bằng những thân cây như so đũa phệu phạo. Quán xá có vẻ như khép nép, ngượng nghịu với những chiếc bàn ghế lúc nào cũng như muốn gẫy đổ. Qua bao năm tháng, mưa chan nắng dội, đến binh đao khói lửa, chợ làng Nghè vẫn thế. Thế nhưng nếu cả trấn Kinh Bắc có rượu làng Hòang Mơ thì trấn Sơn Nam này có rượu làng Nghè, những vại rượu được gạn chắt từ mảnh đời bèo bọt, da diết của bố ông. Qua nghề nhà, ít nhất bố ông cũng để lại đời sau bốn vại rượu gia truyền là Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liền, Đông tàn.

Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tính với phi tửu đồ bất thành trượng phu, bất tri tửu đạo bất hiền nhân, rõ ra ông cũng lậm cái giuộc của bố ông là thích quảng giao với những tao nhân mặc khách lắm chữ để náo thị u lâm mạc luận. Nhà cửa đơn chiếc, vậy mà lắm khi ông giữ khách lại qua đêm để nửa vách đèn tàn luận cổ suy kim. Trò đời bao giờ cũng vậy, làm thơ phải có người vịnh, cất rượu ngon như bố con ông thì phải có người thưởng lãm. Cái phiến tâm ông chỉ mong cái ngày được kết nghĩa với một tửu đồ. Để cả hai sẽ uống cho nghiêng đình đổ quán, uống cho nghiêng trời lệch đất. Để lúc ấy, ông cũng sẽ vay mượn hai câu của người xưa, ồ ề thổ lộ tâm can với nghĩa huynh, nghĩa đệ rằng huynh đệ, nễ ngã sinh tư vi cộng, bất uổng liễu kết nghĩa nhất trường, tư dã bãi, họat dã bãi, đại gia thống thống khóai khóai đích hát tha nhất trường, rệu rạo qua bố ông là sống cũng tốt, chết cũng tốt, nhưng uống rượu thì còn…tốt hơn.

***

Vì vậy như ông đồ thâm, ông phó Canh bầy trò treo ngay trên tường gần bếp bức tranh dân gian làng Đông Hồ để chiêu hiễn đãi sĩ. Tranh vẽ con gà sống thiến, lông đỏ, đuôi xanh, cổ ngóc lên như đang mổ..”chữ Dậu” to đùng gần bằng…con gà nằm ngay góc bức tranh. Ông vẫn nghĩ chòen chọet là thời buổi này từ làng lên huyện, chả ai nhiều chữ hơn bố ông nên biết quái gì chữ dậu. Đi vào văn chữ ông thấy họ chưa có chữ nào gọi là văn cả, chỉ độc một đám tò he, bét rượu. Có giỏi tới đây đọ chữ của bố ông, dẫu gì một thời cũng là ông đồ xứ Nghệ nát chữ chứ đâu có bỡn.

Chuyện xẩy ra đúng vào ngày vía bà Chúa Liễu…Sáng sớm đằng phương đông đã vàng tươi, lướt sướt khoe nắng mới, tuy mặt trời chưa ló rạng, đủ hôm nay nắng phải hửng to. Vô tình, ông dòm về hướng cái gò mả hoang xưa kia già làng gọi là gò quần ngư, ông đóan chừng từ giờ đến trưa, khách trẩy hội cũng nườm nượp kéo về bến đò Tràng làng ông. Chợt ông nghe thấy tiếng mái chèo khua sóng lụp bụp và dòm thấy một chiếc thuyền thúng đang chòng chành…chòng chành…Nắng xiên khoai yếu ớt, sóng lấp lóa, thuyền cập vào mé nước, mạn gốc cây gạo, thóang như một người đã đứng tuổi, lần theo bậc đá, bước xuống bờ nước, dò dẫm đi về phía quán. Bóng người ẩn hiện lấp ló sau gò một chốc, lừng lững xuất hiện lẩn khuất trong đám mồ mả. Gần hơn nữa, ông mới thấy người nọ đầu quấn khăn tam giang bệch bạc, mặc cái áo vải giãi đã sờn chỉ gai, chiếc quần trúc bâu gấu sắn cuộn tròn lên mắt cá chân, đi đôi guốc mộc nhuốm đầy bùn đất, tay cầm cái nón “cổ châu” đã loang lở lan tới vành. Ông dòm kỹ hơn, người ấy có vẻ ngang tàng chí khí lắm, trông chả ra dáng là khách làng nho cho mấy…

Và ông nhẩm chừng, chạy trời không khỏi nắng ắt hẳn là một…lão nho giả. Hôm nay lần mò tới đây thi thơ, thả chữ trong ngày hội bà Chúa hú họa vớ được giải lụa, kèm ba quan tiền kẽm để trả tiền đò. Nhưng lão lại phe phẩy cái nón cổ châu của các quan ở nội phủ mới rõ lạ, hay lão là quan viên trong phủ hội đồng văn Bà Chúa Liễu chi đây. Để điểm nhãn nho phong sĩ khí của…quan ôn quan vật, ông…giả nho nói chữ với lão: Quá môn trì, quan môn bế, thỉnh quá khách quá môn. Lão hừ một cái: “Quan quách gì. Đang khát nước bỏ bố đây” rồi sồng sộc bước vào quán không…cửa nẻo. Đã thế ông bương bả nặn ra một đống chữ cho sướng miệng: “Bẩm rước quan…sơi nước”. Lão nhấm nhẳng: “Hượm tí đã”.

Ve vé mắt một vòng, lão bắt gặp cái chõ rượu đang âm ỉ ngự trên cái đầu rau. Kháp với cái chõ là cái ống tre ngang để vắt rượu, từng gịot âm ỉ chẩy xuống cái tĩn nằm trên mặt đất phẳng lì. Ấy là rượu Hồng đào ông cất bằng gạo tẻ như rượu trắng cho khách vãng lai. Lão nho giả đăm đăm ngó chừng bốn cái vại sành đậy nút chuối khô bày một hàng trên cái ghế dài. Lão gật gà gật gưỡng với bức tranh Gà với chữ Dậu trong giây lát rồi cười đánh hậc một cái. Ông dòm thấy ngứa cả mắt, ruột gan muốn lộn tùng phèo. Chả hiểu trời đâm thánh đục sao, lão phủi tay, lững thững đi đến cái nồi, quẹt ngón tay một đường như con giun. Lão ngắm bức tranh, đắn đo cả một hồi lâu, như có gì suy nghĩ lung lắm. Rất nheo mắt, đưa ngón tay nhọ nồi lên từ từ, không phải quẹt cái rẹc, mà rất ư cẩn trọng…

Chấm vào chữ Dậu một chấm nhỏ bằng…hạt thóc.

Ông ngớ ra vì chữ “dậu”, thêm cái chấm thành ra chữ “tửu”. Không quay lại, lão nói trống không…vào mấy vại rượu: “Ngon chăng, nhà bác cho một nậm”. Ông khựng lại, ngặt một nỗi, tay cầm vại Xuân Sinh, cái đầu đất sét lại đóan già đóan non, ngữ này người ngợm nhếch nhác, lại ra dáng lừng khừng, ắt hẳn chẳng phải là tửu đồ. Thế nhưng ít nhất lão ấy cũng chiết tự được chữ tửu ở chữ dậu mà ra, hay lão là cố nhân một thời của bố ông. Vậy thì hãy để lão ấy dùng tạm vại Hạ Trưởng còn non tháng, xem tửu lượng của lão tới đâu rồi hẵng tính.

Cái vại nâu còn dính bùn khô vừa đặt lên trõng…Lão chậm rãi cầm cái bát chiết yêu úp ngược trên ngọn đèn hột đỗ đảo qua đảo lại hơ cái lòng bát. Lão hờ hững rót ngang miệng bát và đợi cho láng rượu sóng sánh lắng xuống một chút. Lão lâm râm: “Vội năm, vội tháng, ai lại vội ngày. Bác có gì nhắm đây?”. Đi vào để hâm lại cái móng trâu, cúi xuống hun lửa, ông vơ vẩn đến hôm nay có chọi trâu, thể nào quán nhà cũng thửa được nhăm cái, quán sẽ đắt như rươi. Ông vẩn vơ đến sáng sớm mở hàng, gặp lão khách lạ ông cũng hơi có ý hồ nghi: “Quái, tửu đồ là đây phỏng”. Bước ra ông ngồi ngay trước mặt lão và nhắc khéo: “Xin mời quan bát rượu…lạt”.

***

Lúc này lão mới lười biếng bê cái bát lên, cũng không chịu nhấp cho một ngụm nhỏ, mà chỉ khà một cái và chậm rãi:

– Với mỹ tửu của nhà bác phải học thói tri kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh. Nên dùng mắt nếm đươc vị ngon của rượu. Dùng tai nghe được hương thơm của rượu. Dùng mũi ngửi được sắc thái của rượu. Còn như đã phải dùng lưỡi để uống thì là thói thường của hàng tục tửu đấy thôi.

Nghe luận về rượu nhà, ông rủa thầm, cái lão rách mép này rõ rách chuyện, chả ai…nghe được hương thơm bao giờ. Ông định gân cổ lên thì bu nó ơi: Lão ấy hất cả bát rượu gia truyền của nhà ông xuống đất. Ngay chỗ…đàn kiến đang bò lổm ngổm đi kiếm gạo. Giời ạ, lũ kiến hốt hỏang bơi nháo nhào bò lên mép đất khô, nằm chỏng gọng lấy càng vuốt mặt, vuốt mũi rồi lăn cu đơ ra, chả biết trời trăng mây nước gì sất cả.

Bây giờ lão mới thốt lên một tiếng nhỏ:

– Chà, hơi gắt…Có hơi già lửa!

Ông phó Canh sợ vãi đái ra quần vì ngẫm thấy cụ cũng rành về rượu chẳng khác gì bố ông, nên ông vừa định…thì cụ đã khoát tay:

– Tôi hỏi khí không phải, nhà bác cất rượu với gạo ta…

Ông phó Canh lập cập:

– Chẳng dấu gì…cụ, năm nay vụ Chiêm dưới này bị úng thủy…

Ông quên bu mất nhè lão quan gọi bằng cụ, chả là trong đầu ông cứ bị ám ảnh cụ là người sành rượu, lắm chữ. Ông không dám khoe mẽ rượu nhà mọi khi ủ tòan nếp Chiêm tháng mười, bã rượu phải chữ trong vại gốm làng Thổ Hà để men giữ lâu ngày, thả xuống ao cả năm cho mát rượu.

Ông ngập ngừng thăm chừng:

– Bẩm cụ qúy quán ở đâu ta.

Cụ già cười nửa miệng:

– Tôi người làng Ngừ.

Ngừ với nghè, ông đơm chuyện:

– Nhà cháu nghe hơi nồi chõ quý quán có thờ hai con cú, con cáo bằng đá đã thành tinh, nên chúng có thể biến thành người. Đêm mưa gió, chúng hóa thành một lão già đội nón rách, mặc áo tơi như một người hành khất.

Cụ cau mày:

– Hừm…Rõ nhảm.

Thịt hầm vừa cữ vớt lên đĩa, cụ lấy đũa thọc xuyên ngang cái móng và đưa lên miệng cắn từng miếng nhỏ. Cụ thảnh thơi kể lể:

– Là thế này….làng tôi thì ai mà chả biêt có lăng Ngừ thờ Thái sư Trần Thủ Độ. Trước lăng là hai bức tượng người nữ Chiêm Thành chầu hầu, giữa là mộ của Thái sư. Sau mộ có bầy dụng cụ sàng sẩy lúa gạo là dần, sàng, nong, nia làm bằng đá tròn, dẹt. Lại có bi ký và bi đình tựa kiểu tam mục, rõ ra văn chỉ khoa mục…

Gặm xong cái móng trâu, cụ ôn tồn tiếp:

– Từ ngôi mộ ngó ra phía gốc cây cổ thụ cả trăm năm có con cú to bằng con ngỗng lớn, con cáo to bằng cả con bê. Tất cả cú, cáo, dần, sàng, nong, nia đều được dân làng gọi bằng “Ông”. Ông cáo nằm đối diện với ông cú, có vẻ đăng đối và tri kỷ lắm, còn để làm gì thì chỉ có giời biết. Chỉ biết rằng…

Ông phó Canh láo nháo chêm vào:

– Chả ai lại đi thờ cáo với cú…

Cụ thở ra, gắt nhẹ:

– Úi dào…Như ông biết đấy, ngặt một nỗi tai trời ách đất ngập nước quanh năm, chỉ trồng được lúa của người Chiêm. Hai tượng Chiêm Thành và dần, sàng, nong, nia để trấn yểm mùa màng. Ấy là tôi học có bấy nhiêu…

Cụ lẩn mẩn tiếp:

– Cũng chuyện trấn yểm nghe già làng kể có một cái mả, gặp lúc bãi lở, quan tài bật lên, trong có bốn cái lọ cổ gắn ở bốn góc. Theo truyền thuyết xưa kia có một thầy Tầu qua đây tróc huyệt mắc nạn và được ông Trần Lý, tức ông tổ họ nhà Trần đất Tức Mặc cứu thóat. Ông thầy đền ơn bằng ngôi mộ thái đường, huyệt đế vương trường tồn vạn đại. Xong thầy cáo biệt, hẹn khi nào nhà Trần tức vị, con cháu sẽ qua uống rượu mừng…

Trần Cảnh lên ngôi vua, con cháu ông thầy Tầu y lời qua. Quan Thái sư tiếp đãi trọng thể, ban tặng vàng bạc, nhưng trên đường về Ngài cho người chặn đường giết để cướp bộ phong thủy địa chí. Vì như trên vừa đề cập, vi lụt lội nên quan tài trong huyệt đế vương lộ ra. Nên Ngài mượn tập kỳ thư dị chí mà họ mang theo để đọc. Đọc xong rồi, Ngài lo ngại nhà Trần có cơ chẳng thể truyền tử lưu tôn đời đời kế thế vì ông thầy Tầu ghi chú trong bộ phong thủy địa chí nên cẩn trọng vì có phản tặc trong triều…

Cụ nhởn nha thêm:

– Cứ theo quan nha ra thưởng cho hay qua tập kỳ thư dị chí thì chữ ám chỉ giòng họ tên phản tặc từ chữ “khẩu” mà ra. Vì thời gian với nét còn nét mất, nếu có hai nét sổ ngang là “ẩm” tức uống, là “tửu đồ” thì chả nói làm gì. Nay còn lại lờ mờ với một nét ngang như cái đũa, chiết tự thành “thực” tức ăn, là “khất thực“ nên tôi cứ bán tín bán nghi.

Trở ngang đầu đũa, quẹt quanh mép, cụ đưa đẩy:

– Theo tôi thì chữ Trần, người Tầu đọc là “chén”. Nên tôi đồ là…một tửu đồ chăng. Thế nên bấy lâu nay tôi có ý đi tìm…

Ông phó Canh bộp chôp:

– Hóa ra cụ…

Giọng cụ đầy hóm hỉnh:

– Nhà bác cứ nghĩ thế…Tôi chẳng dại lưu xú vạn niên vì mười mẫu thượng điền của quan Thái Sư đâu.

Vậy ra cụ cũng như ông, cũng đang mỏi mắt đi tìm một bạn rượu đây. Rồi ông nghe cụ rung đùi ngâm nga đúng tâm ý ông: tuế nguyệt du nhàn, tứ hải tao phùng thanh nhãn khách. Nhưng ông có hơi sốt ruột tí chút, người ta thì trà tam tửu tứ, vậy mà cụ này độc có một bát rượu thôi mà…nhấp mãi cũng không ra cái hồn người, mà chỉ thấy nói chữ. Ông sinh nghi, hay cụ chẳng phải là một tửu đồ. Nên ông thăm chừng:

– Mời cụ sơi bát nữa.

Cụ phe phẩy cái nón, gật gù:

– Rượu tri kỳ hương chứ bất tri kỳ vị. Thêm nữa tửu vô lượng, bất cập loạn, loạn ngôn thì chẳng thua Lồ Phồn tửu đâu. Nhà bác khéo tay cả đấy.

***

Cả hai vui chuyện vui trò, quên tiệt đi mất là khỏang đất trống ngòai kia bàn dân thiên hạ đang lũ lượt kéo về họp chợ. Các ông với khăn sếp áo the, tay cầm ô nháo nhác đây đó. Các bà mặc váy lĩnh, lưng thắt ruột tượng, bã trầu đỏ thắm cắn răng, chuyện trò râm ran. Ấy vậy mà bên kia bãi đất trống đã rộn ràng tiếng trống ròn rã. Nhóm đánh cờ người trên phủ huyện kéo về. Trên bục cao, ông tổng cờ ngồi bên án thư cầm trịch cho 32 quân cờ nữ áo hồng, nam áo xanh. Ở trong này, ông vừa khoe trận đồ năm nay cụ Nghè làng Mộ Trạch làm tổng trịch thì nghe cụ như reo lên như ấm nước sôi:

– Úi dào, rượu Hòang Mơ, cờ Mộ Trạch.

Đẩy cái bát chiếu yêu sang một bên, cụ mở lời:

– Có đám Mộ Trạch, kéo theo đám Hòang Mơ về đây. Không chừng tôi với nhà bác có cái túc duyên vừa gặp được một kỳ tửu bất thế kỳ nhân cho mà xem. Thế nào họ chẳng nếm rượu của nhà bác. Mà nào họ đâu có hay: Đất nhà bác là đất tửu địa. Cứ nhìn cái ao nhà thì biết ngay. Như cái…

Nghe nói vậy, ông nháo nhác ra ngòai ao, chửa nhận thấy ao nhà ra cái giống gì thì ông bắt gặp một con chó…què. Nó đi bằng ba chân khập khiễng từ ngòai bước một vào quán, và ngừng lại nằm dưới chân ghế hửi hửi. Cụ cũng lõ mắt nom xuống và hỏi:

– Chó bác ư?

Ông chưng hửng, lắc đầu quầy quậy:

– Bẩm…Dạ…Không…Mà có gì lạ thưa cụ.

Cụ lom khom ngắm nghía, giọng rổn rảng:

– Giống “Bối kiếm cẩu” đây. Trên lưng nó có dải lông kéo từ đầu đến đuôi như một cây kiếm, tạo cho uy quyền sinh sát cho chủ nó, như thái sư hay tể tướng chẳng hạn. Chả nhẽ…

Cụ ậm ừ:

– Thọat thấy giải đất như cái lưỡi kiếm. Nay nhìn ao nhà bác, nào khác gì cái hồ lô. Giống như sách dậy và gọi là “Tửu địa”.

Rồi cụ tặc lưỡi bâng quơ:

– Tam nhật nhất tiểu điểm.

Ông ấp úng hỏi:

– Tam…tam…là tích gì, thưa cụ.

Giọng cụ nhỏ hẳn đi:

– Theo “Cẩu kinh” là chó cực hiếm. Nếu nó một chân…

Lại chuyện ngược đời nữa, ông như nhẩy cẫng…hai chân lên:

– Cụ cứ nói bỡn, chó gì lại…

Cụ lại cười đánh hậc một tiếng:

– Ấy là tôi muốn nói lúc nó gác một cẳng lên gốc cây để bài tiết. Nó chỉ đái đúng ở một điểm ấy mà thôi. Chỗ nó đái là cái huyệt cực tốt, sách gọi là huyệt cẩu thủy, nhưng phải đợi nó chết cơ. Đúng giờ tuất ngày tuất, mang xương bố mà táng vào đấy thì mai kia chúa biết mặt vua biết tên. Nhưng chỉ truyền được đúng một đời không hơn, vì tuổi chó quá ngắn.

Quái lạ, ông nhủ thầm, quân tử ẩn hình, tiểu nhân lộ tướng, mà cụ này lại…quái tướng dị nhân. Thế nên ông chả hiểu ra làm sao cả, ông chắc mẩm chém chết cụ này là thầy địa lý đây. Mà mấy thầy địa lý chỉ được cái giỏi nói chữ và xoay ba cái đầu rau để ăn vạ nhà người ta. Nhỡ cụ ăn vạ nằm ì ở quán như bạn bố ông thì bỏ bố. Ông xoay qua chuyện rượu:

– Sao cụ biết có kỳ tửu tới đây.

Cụ vuốt râu khề khà:

– Theo “Truyền nhân kỳ tửu địa”, giống chó này xuất hiện tất có kỳ tửu.

Cụ điềm đạm tiếp:

– Tôi đi đã nhiều nơi, uống mẻ bát thiên hạ, mà chẳng thấy đâu. Nay có cơ may gặp bậc kỳ tửu ở đây thì đó là cái túc duyên.

Ngừng lại một lát, cụ nói chữ:.

– Thành giả, vật chi chung thủy, bất thành vô vật, nhà bác có lòng thành, lại có hảo tửu. Rồi cũng sẽ gặp…

***

Ông đứng dậy vì có dăm khách phương xa mới tới, vừa tiếp khách ông vừa nhủ thầm, bản địa nhà ông là đất vạn đại dung thân cho những đại tửu đồ. Đất quần hùng của các danh tửu. Mùa hội làng này họ sẽ kéo về đây để đấu rượu. Họ sẽ uống cho nghiêng đình đổ quán, uống cho nghiêng trời lệch đất. Rượu sẽ đổ ngập sông, tràn ngang núi. Tửu khí ngất trời, mây không có chỗ ẩn thân. Âm khí thối đất, cỏ ba niên chẳng ngóc đầu lên nổi cùng kẻ còn người mất. Vì vậy ông nhìn ai cũng là đại tửu đồ. Như cụ đã dậy, đất nhà là đất tửu địa, với địa linh nhân kiệt, vì vậy ông đang lóng ngóng đợi một kỳ tửu bất thế kỳ nhân sẽ lừng lững đến quán ông đấu rượu.

Vừa bước ra, ông bắt gặp một lão ăn mày mù đang ngồi bệt ngòai hiên tự lúc nào. Ông thoáng lạnh người, vì cụ vừa nhắc đến…khất thực hồi nãy thì lão ăn mày này có mặt. Bất giác ông thuỗn người nghĩ ngợi mông lung…

Rằng từ đời Trần lên đến giờ, đất này là đất văn học, rặt chẳng có ăn mày, họa chăng làng Ngọc Động có ông Nguyễn Phúc. Xưa kia ông ăn xin ngòai chợ huyện, nhưng có chí học hành nên cũng lều chõng đi thi Đình. Nhưng chỉ đỗ thám hoa, nên không có mũ áo cân đai. Hay vì ông là khất thực, nên chẳng được dân làng trọng vọng mang ô che lọng chắn ra đón rước. Nên ông chui vào đình làng có cái đà ngang nghêng phong chiếu thủy và treo cổ tự tử…Có thổ thần sở tại làm chứng, ông thề rằng sau ông: Làng này chẳng một ai đỗ Thám Hoa nữa, mà chỉ có nước đi ăn mày.

Ông phó Canh lẩn mẩn tiếp, rằng ông ăn mày họ Nguyễn nay đã mồ yên mả đẹp, lại là Thành Hòang làng Ngọc Động, thì giữa ban ngày ban mặt hẻo lánh tới quán ông để nhát ai đây. Sau khi ông thám hoa mất, chỗ lều ông ở được đắp cao, xây tường chung quanh và gọi là “nền Phúc”. Vua Trần sắc phong ông là: Đương cảnh thần hòang, tuyên võ tướng quân, thượng kỵ đô úy, hùng dũng anh linh, thông minh chính trực, gia phong quang ý, gia tặng trác vỳ, dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Nhưng gần đây làng bày thêm lệ mới, tráng đinh đến tuổi phải nộp cheo, dù nhà cao cửa rộng cách mấy cũng tay gậy tay bị đi xin ăn mang lộc về cúng ông Thần Hòang. Và trong đầu ông thì lão ăn mày đang ngồi ngòai kia, chém chết cũng là dân làng ấy mà ông đã nghe kể qua. Vừa nghĩ đến đây thì đám bạn rượu họ kéo nhau đứng thù lù sau lưng ông. Đột nhiên ông khựng lại vì búa vào mặt ông là lão ăn mày này với cái tai có thành, có quách như tai Phật. Vậy mà lại đi ăn mày…Chợt nhớ chữ tắc đánh chữ tộ của cụ với một nét sổ toẹt như cái đũa, hóa thành “thực”, là “khất thực. Hay là lão…Cái đầu ông lại lầng quầng với cái kim nằm trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Chả lẽ lão là…tửu đồ. Mà mù sao biết uống rượu đây, hả giời. Nào ai biết ma ăn cỗ đây, tiện tay ông nhòn bát rượu cụ ơ hờ không uống hồi nãy. Ông nhướng mắt thăm chừng, cụ gật gật cái đầu…Ông quơ cái bát mang đến cho lão ăn mày. Lão ngửa cổ lên nghe ngóng, chẳng buồn thò tay rớ tới. Bực mình quay về bàn ông lầu bầu: “Mù có khác, ăn mày còn đòi xôi gấc”.

Bỗng cụ nhíu mày, xuống giọng thật nhỏ, vừa đủ cho ông nghe: “Cung nhi vô lễ tất lao”. Cụ lại sì sầm: “Hảo bằng hữu phải thết bằng hảo tửu”. Ngu lâu đần dai cách mấy ông hiểu ngay là cung kính nhưng thiếu lễ cũng sổ toẹt và nhòm cụ. Cụ vỗ tay nhè nhẹ ngang giải rút quần, chỗ cái ruột tượng, nghe lạch cạch mấy quan tiền kẽm chạm vào nhau…Hiểu ý cụ có hơi rủng rỉnh, ông quay vào vơ vại Xuân Sinh với cái bát chiết yêu. Cái đầu ông ngọ nguậy vì ông thương bố ông, rõ ra cơ ngơi nhà ông đã đến hồi mạt vận. Đúng là ăn mày đánh đổ cầu ao, gia cang còn mỗi vại Xuân sinh này mà để lão kia…sơi. Thế nên ông ủng oẳng văng tục với…cái vại rượu: “Mả bố mày nhá!”. Ông lẳng lặng để bên lão và không quên hích vào đùi lão môt cái…

***

Lão đổi thế ngồi, an nhiên tự tại thế kiết già. Lúc này mới lặng lờ mở cái bị, lôi ra cái chiếu con con và một cái bát giống như bát ăn cơm. Ông ngọng trông thấy, vì đời thuở nhà ai đi ăn xin còn bê cả bát theo. Nói cho ngay, ấy là cái chén thố mới hốc. Cái chén thố này vào thuở nhà Tống, trước dùng để uống rượu, sau vì…tửu lạc vong bần nên để…uống trà.

Chưa hết, lão thổi vi vu vào lòng chén, tẩn mẩn lấy vạt áo lau từ trong ra ngòai. Lão để cái thố lên cái chiếu con, bê hũ rượu ngang tầm, dùng răng cắn nhẹ nhàng lôi tuột cái nút lá chuối ra. Ông ngẩn ngơ, vì với cái nút ấy, ông phải cong lưng nhét vào dễ gì mà lấy ra nhẹ hều như thế. Vẫn chưa xong, lão nghiêng cổ vại ngang vai và từ từ chuyên rượu xuống cái chén. Ông láo ngáo, vì chẳng thấy một gịot nào vung vãi ra ngòai. Ủa mà lạ một điều nữa là, cứ nhè tay nghề như ông mà đổ rượu như thế là thể nào cùng có tiếng tong tong như mưa rơi ấy thôi. Vậy mà lão rót không một tiếng động, ngay cả bọt tăm bằng mắt con rạm cũng không nốt. Quái thật.

Lão lặng lẽ cúi gập lưng xuống, cái đầu gần sát đất. Với mười ngón tay, lão từ tốn đưa cái chén thố lên…Ông bụng bảo dạ, cái ngữ này to hơn quả bứa gì cho cam, mà phải khúm núm bằng cả hai tay đến rõ khổ. Ấy vậy mà lão chưa nốc ngay, lão nghểnh tai nghe ngóng động tĩnh trên không…Hêu hêu trên ngọn cây gạo bên kia bìa trảng có ổ chim cú đã về tổ từ lâu, tứ bề im ắng. Ngòai tiếng cuốc kêu xa xa, chơ vơ như mũi đinh thích nhẹ vào thinh không bàng bạc. Tĩnh lặng. Mắt lão hấp háy lặng lờ nhìn ra ngòai cánh đồng trống xâm xấp những nước là nước, dưới chân núi lầm thầm hơi sương trườn mặt đất từ cửa rừng bò ra cánh đồng…Chẳng hiểu nghĩ ngợi gì, như có gì u mặc lắm, lão chậm chạp đặt cái chén xuống.

Ông chột dạ, hay lão chê rượu xuân, hạ, thu, đông nhà ông.

Như không biết mọi người đang hom hom nhòm, lão sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, vuốt lại cái nếp quần thô mà lúc này ông mường tượng ra tấm nâu sòng…Lão nhổ nước bọt vào hai lòng bàn tay, xoa xoa vào nhau như bắt ấn. Lão đĩnh đạc bưng cái chén lên, cũng với hai tay cùng vẫn từng ấy động tác như dâng hương khấn sớ. Gần đến cằm, tay này chuyển cái chén thố lên lòng bàn tay kia. Tay còn lại đưa xuống mu bàn tay có cái chén. Tất cả những động tác ấy nom thật nhẹ nhàng đến gần như quen thuộc của một tay sành rượu lão đời. Vậy mà lão vẫn chẳng chịu ực ngay, mắt cứ chăm chăm vào mặt rượu gần như không sóng sánh, ngay cả một gợn sóng nhẹ tênh cũng không. Ông phân vân, cái chén có gì mà săm soi, mà giời ạ, lão thì…thong manh rõ. Nhưng ông ngắm kỹ, lão ấy chẳng ra dáng một người hành khất mà phong thái thóat tục như sư cụ chùa làng.

Lão chậm rãi đưa ngang mũi, cái yết hầu cứ thụt lên, thụt xuống. Rất nhàn nhã, thong dong với mõ sớm chuông chiều. Trong lắng đọng, lão thở ra và hít vào một hơi thật ngắn, thật nhẹ. Thế rồi mắt lão cứ hấp háy lim dim. Mặt cứ đờ ra. Miệng mấp máy như lâm râm tụng kinh. Được mấy khắc, lão thảnh thơi đặt cái chén xuống… Mọi người ngẫng ngẫng với nhau. Riêng cụ thì không…Như lễ nghi kinh kệ đã hòan tất, lão cuốn cái chiếu bỏ vào bị, bình thản đứng lên, nải bố quàng vai, khật khờ đi về phía ruộng nước và đằng sau là con chó đang lò cò nhẩy bước một với ba cái chân. Cả hai hướng về cái gò mả mà hôm nay ông thấy có môt cái dáng khác hơn mọi lần, hình dạng cái gò giống như một con nhái khùynh chân ôm cái bến đò.

Thế nhưng cái bát thì lão để quên!

Lão khuất sau mấy cái mả hoang, trơ trơ một quãng trống lộng gió cằn cỗi, một thóang chiều còn sót lại, ngày như tắt ngúm, mở ngảng thóat ra trảng hoang vu. Ông thấy hồn ông nhao nhác, giữa đồng không mông quạnh, như có tiếng sáo diều. Mà nào có. Chỉ thóang như có tiếng đồng dao văng vẳng nghêu ngao từ…lão với tiếng còn tiếng mất vẳng lại: “Hề…! Tửu nhân…hề tửu nhân”. Mà không lẽ, nhìn qua cụ, như tự kỷ ám thị, ông thấy cụ đang nhóp nhép như nhai mấy hạt lạc rang dở dang. Miệng như cụ mấp máy: “Hề…! Tức Mặc tửu nhân khứ vô hồi”. Trộn lẫn và đứt quãng, nên thực tình ông không biết là ai cất tiếng tiếp…: “Hề…! Vấn ngã tại hà liên giao hợp – Hề…! Lồ phồn tửu. Hề tửu nhân bôi”.

***

Bóng lão ăn mày khuất dần, lúc này cụ mới lên tiếng:

– Này nhìn cho kỹ kìa…Ấy đấy, lão đi trước, con chó lò dò đi sau thì mù ở cái khổ nào, thưa mấy bác.

Cụ chỉ vào cái bát, thong thả tiếp:

– Nhẵn như đít nồi, bác nào rỗi hơi cứ thử thì hẵng hay.

Nhẵn như đít nồi… ông phó Canh nhủ thầm, gì mà lạ, rõ như ban ngày ban mặt bát rượu còn nguyên kia, ai đời chó lại chê cứt. Ông hết nhìn cụ, tới đám khách, đến cái bát. Lúc này cụ mới lừng khừng nói với ông:

– Như tôi đã mạn phép thưa, đến lúc nhà bác cũng gặp thôi.

Cụ phe phẩy cái nón:

– Đó là phép “Hấp tửu sương”.

Ông đi lại quơ cái vò Xuân Sinh và mở nút đế xem nếp tẻ ra sao. Ông nhăn mặt phun phè phè ra ngay, vì rượu lạnh tanh như nước ốc. Mà lạ chửa, vại rượu còn bùn khô đất bám, ẩn hiện như lão hành khất quẹt nét ngang sổ dọc bằng móng tay thật sắc nét, nét hai chữ thảo…Hảo tửu. Bán tín bán nghi, ông cầm cái bát lên, cũng…hít hà như lão ăn mày, và đúng như cụ nói, ông chẳng ngửi thấy mùi rượu gì cả, lạt thếch như nước ruộng. Lật ngửa cái trôn, có ấn dấu triện đỏ nâu với hàng chữ Thiên Trường phủ chế. Quanh men chén có hai câu thơ thủy mặc Vị thủy đầu can nhật, kỳ sơn nhập mộng thần. Ông đắn đo, đồ Nội Phủ này dường như quen quen, như mới đâu đây, nhớ lại hồi nhỏ ông theo bố ông hầu rượu quan Thái Sư, hình như ông đã thấy cái chén ấy…Trong một thóang…

Thóang như cụ đây có nét thanh cảnh như…Ngài Thái sư.

Quay lại để nhìn cho kỹ thì…cụ không còn đấy nữa. Cụ đột nhiên biến mất, như mây trôi gió thỏang tan lõang vào hư không. Quanh chỗ cụ đứng, chỉ thấy trời đất trầm tiềm, đủng đỉnh muôn niên ngót hòanh cổ đại. Mặc dù Ngài Thái sư Trần Thủ Độ về với thiên cổ đâu đó vào cái năm Ất Dậu ngày nào. Ông như đang đắm chìm trong ruộng, núi, rừng dạt dào một nỗi quan hòai, quan san của người về từ một cõi u minh, u tịch…Thẫn thờ hướng ra bến bãi, về phía cái gò mả, chỉ thấy tha ma mộ địa với đám cỏ gà hiu hắt, vi vu chạy từng gợn, từng gợn đuổi bắt nhau. Chung quanh lẫm mây mù, lởn vởn chắt ra một thứ váng chiều ướt sũng, sền sệt như nước hến. Nhìn về phía bến đò chỗ cây gạo, cái thuyền thúng chơ vơ, cái mái chèo gác một bên gờ và đang…chòng chành…chòng chành…trên sóng nước.

Chỗ cụ ngồi, như có vật gì được chặn dưới cái bát chiết yêu, ông vội rảo bước tới thì…Bố mẹ ơi, ngòai dăm đồng tiền kẽm, lỗ vuông…Ông thấy một nắm giấy bèo nhèo như giấy vàng mã để hóa vàng, như trong ngày lễ phủ hội đồng văn Bà Chúa Liễu. Ông cầm lên thấy tiền in ấn hình long vân, long giáng, thủy ba, tản vân. Ông xăm xúi đọc bốn chữ công Thiên Trường thông bảo dưới là niên hiệu Mậu Thìn thời tiên vương Trần Minh Tông.

Nhìn vào quán nhà, ông thấy khách lậm rượu mỗi lúc một đông. Họ đang lên cơn đồng thiếp, họ đang nhập vai phi tửu đồ bất thành trượng phu, bất tri tửu đạo bất hiền nhân. Ông ngửa mặt nhìn lên bầu trời, đất với trời vẫn u ám như chậu nước gạo đục, mây xám mỏng như bánh tráng trũng…

Trúc gia trang

Hạ chí, Quý Mùi niên

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Nguồn: Nguyễn Bản, Chu Thiên, Phạm Lưu Vũ,

Băng Đình, Nguyễn Hữu Liêm, Nguyên Bá, Độc

Cô, Đặng Thân, Bàn Tài Cân, Đào Vũ Hòai.

***

Phụ đính:

Nhiều người vẫn lầm tưởng rằng tiền giấy đầu tiên của nước ta được in ấn, phát hành dưới triều Hồ. Cho đến khi trong một văn bản sử học, Trần Khánh Dư có nói một câu: “Tiền giấy đời Trần ta …”. Sau đây, người ta tìm ra thời điểm ra đời của những tiền giấy đầu tiên này sớm hơn. Trước khi triều Hồ thành lập, người có ý tưởng là Vương Nhữ Chu vào cuối năm Mậu Thìn (1388), Tư liệu về Vương Nhữ Chu không nhiều nên đến nay chúng ta vẫn chưa thể biết được chính xác quê quán, năm sinh năm mất và chi tiết về cuộc đời cũng như sự nghiệp của ông là được vời ra làm quan, giữ chức Thái bảo.

Ông đã dùng tiền giấy thay cho tiền đồng chứ không phải là Hồ Quý Ly. 

clip_image003

Tiền “Hội sao thông bảo” do một nhà sưu tầm vẽ lại.

Cho mãi đến năm 1396 tức 8 năm sau :

"Mùa hạ tháng 4, Hồ Quý Ly mới bắt đầu phát tiền giấy Thông Bảo hội sao. In xong ra lệnh cho người đến đổi, cứ một quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất tài sản bị tịch thu. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả".

Tiền phát hành có hai yếu tố mới: tiền không ghi niên hiệu vua. Đây là một hình thức khai tử niên hiệu của triều đại Trần, chuẩn bị cho một triều đại mới. Tiền giấy sẽ góp phần giúp cho nhà Hồ thu về số lượng đồng lớn dùng để đúc vũ khí, đặc biệt là súng thần công, một loại binh khí mới được ra đời trong thời gian này. Chính vì thế, tiền giấy được nhà Hồ phát huy hiệu quả triệt để thời gian khi cầm quyền.

Cho đến nay, chúng ta chưa tìm được đồng tiền giấy nào cho nên chưa rõ kỹ thuật in ấn, cách thể hiện hình vẽ mà chỉ biết được qua ghi chép trong lịch sử. Nhưng những hiện vật thời Trần tìm được qua các cuộc khai quật khảo cổ học như hình rồng, thủy ba (sóng nước), tản vân (vân mây) khắc tạc trên các bệ đá thời Trần đã phần nào cho biết sự phức tạp của các họa tiết trang trí trên đồng tiền này. Tiền giấy cũng cho thấy, nghề sản xuất giấy có sự phát triển đặc biệt với kỹ thuật sản xuất ra loại giấy để in tiền.

©T.Vấn 2012