Tuyển tập thơ đầu tiên
Lê Quý Đôn soạn bộ Toàn Việt thi lục, sách soạn xong năm Mậu Tý 1768 thời vua Lê Hiển Tông. Gồm 20 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Trần.
Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam thượng (Thái Bình). Ông đỗ Bảng nhãn thời vua Lê Hiển Tông và là tác giả những bộ Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ..v..v..
(Phùng Thanh Chủng – Hợp tuyển thơ đầu tiên ở nước ta)
Nguồn gốc tiếng Việt V
Khi nhắc đến nguồn gốc của Việt ngữ, ông Phạm Thế Ngũ cũng có nêu giả thuyết là người Việt có cùng tông tổ với người Mường, vì các nhà khảo cổ, khi xét về phong tục, lịch sử cũng như ngôn ngữ của người Việt, đã thấy có rất nhiều điểm giống với người Mường. Hiện nay, trong tiếng Việt có rất nhiều tiếng tương tự với tiếng Mường, và có thể xem đó là hình thức tối cổ của tiếng Việt tương đương, thí dụ :
Một hai ba trời đất núi sông trâu gà tằm ăn lá dâu
Móc hai pa tlòy tất nủy không tlu kà thảm ăn lá tô
Thứ tiếng cổ ấy, về sau, trong ngôn ngữ người Việt, thâu nhận thêm những yếu tố vay mượn của các chủng tộc lân cận mà trở thành tiếng Việt. Và ông kết luận rằng: “Dân tộc Việt Nam là kết quả tạp chủng và lai lẫn với các dân tộc đã sinh sống trên bán đảo Ðông Dương, và tiếng Việt là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng của các dân tộc ấy.”
(Tĩnh Túc – thanh.nguyen@student.uni-ulm.de)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Trên trời mây trắng như bông
Ở giữa cánh đồng mông trắng như mây
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ: Bếp núc
Nghe vẻ nghe ve nghe vè thợ nấu
Muốn ăn cho nhẹ, bỏ ít lá chanh
Rắn lục cườm chanh, nấu canh với bún
Cải nồi bẹ dưa, bóp lộn thạch sùng
Bắt ít con trùn, đem về bầm chả
Muốn ăn cho đã, chuột xạ xào măng
Rắn mối xào lăn, kỳ nhông xào ló
Tiếng Bắc tiếng Nam
Một hôm bố tôi, cao hứng bảo khi nào nàng bạn gái tôi nấu cơm Nam kỳ cho gia đình cùng ăn. Cô nàng hí ha hí hửng nói liền :
– Dạ ! (lại dạ!), để bữa nào cháu nấu bún(g) mắm dzới thịt heo ba rọi cho bác ăn(g), bún(g) mắm thịt ba rọi Trà Dinh ngoong nhức miền Nam nghe bác!
– Sao? cô muốn búng hả? Lỗ tai tôi đây này, muốn búng bao nhiêu thì cứ búng đi !
Thế là cả nhà cháu được một trận cười nắc nẻ. Nào đã hết đâu, mẹ cháu chợt bảo:
– Cháu xuống bếp lấy cho bác mấy cái “cùi dìa” với cái ”muôi” để trong ngăn kéo đấy!
Nàng ngớ ra, cứ như được nghe tiếng…Tây, nhìn cháu cầu cứu. Cháu cười hì hì khoái tỉ, ra cái điều thông thái giải thích ngay :
– Cái “cùi dìa” Nam kỳ kêu là cái “muỗng”, tại Bắc kỳ sống lâu với bọn Tây, chúng nó gọi là ”la cuiller” thì Bắc kỳ gọi luôn là cái “cùi dìa” cho tiện. Còn cái “muôi” Nam kỳ kêu là cái “vá”, chữ “vê” thì đọc là “dê” cho nên gọi là cái “dzá”, phải không ?
Nàng đỏ mặt, bĩu môi : Cái đồ dzô dziêng, tui đi dzìa à nghen !
(Nguyễn Hữu Huấn – Cái duyên Nam Bắc)
Tục ngữ Ta và Tầu
Bút sa gà chết.
Hắc bút tả bạch chỉ, nhất tự định sinh tử
(Giấy trắng mực đen, một chữ định sống chết)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Tiếng Huế…
Từ Huế trở ra Hà Tĩnh, Nghệ An, giọng nói nặng dần với:
– Dấu sắc nghe như dấu hỏi.
– Dấu huyền nghe như dấu nặng.
Về âm sắc: âm nọ đọc trại qua kia, trại cả mẫu âm lẫn phụ âm và đầu từ: nêm mói (nên muối), keng bù (canh bầu), hấng nác (hứng nước), cắm (cắn), nóai (nói), cấy (cái), dư (như), ôông (ông), khôông (không), dà (nhà), tổ quấc (tổ quốc) và…
…“yêng êm mềng” là…anh em mình.
(Lê Văn Lân – Thổ âm xứ Huế)
Chữ nghĩa làng văn
Phê bình bài trả lời phỏng vấn của ông Hoàng Ngọc Hiến (giáo sưu đại học, nhà nghiên cứu văn học tại Hà Nội) trên Talawas, ông Trần Mạnh Hảo nhắc một câu nói của ông Hiến: “Theo tôi (Hoàng Ngọc Hiến), dùng tiếng Việt chính xác mới là yêu tiếng Việt, mà cái yếu nhất trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay không chính xác về từ ngữ. Toàn dùng những từ chung chung, từ khuôn sáo, không chọn được từ chính xác.”
(Nguyễn Xuân Hoàng – Văn học Việt Nam trong và ngoài nước)
Văn hóa ẩm thực: Lốn, bần, vố, lù
Theo Vũ Bằng qua Miếng ngon Hà Nội: “Có phải ở trong Nam người ta gọi hẩu lốn là “sà bần” không? Thực là kỳ lạ: Cũng thuộc vào loại hẩu lốn, Tàu có “tả pín lù”, Tây có “lâm vố”, mà ở đây thì có “sà bần”; ba thứ này, cũng như hẩu lốn, đều do các thứ ăn đổ lộn lại với nhau nấu chín lên, nhưng tại sao ăn vào tôi vẫn thấy một cái gì “khác”, không làm cho mình mãn nguyện hoàn toàn?”.
Hẩu lốn âm Hán Việt là cái hoả lò. Theo tên gọi thì có thể suy ra rằng trong bữa ăn ngày xưa, nồi hẩu lốn được để trên hoả lò, đặt trước mặt mọi người.
(Nguyễn Dư – “Cao lầu, hẩu lốn, loạn… sà bần”)
Chữ nghĩa thập niên 20
Lương Ý Nương với bài thơ Tiêu tương có những câu:
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp ở Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy
Nghĩa là: Chàng ở đầu sông Tiêu tương, thiếp ở cuối sông Tiêu tương, nhớ nhau không thấy nhau, cùng uống nước sông Tiêu tương. Cho nên chữ “đầu cuối Tiêu tương” ý nói là tương tư nhau.
(Phan Mạnh Danh – Thập tứ hàn)
Tiếng Việt cổ
Cúi: heo, lợn
Xẻ: chẻ
Văn học miền Nam (VI)
Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu Vương Trí Nhàn, một trong những nhà phê bình miền Bắc đã không ngừng tiếp cận với văn học miền Nam từ thời kỳ phân chia Nam Bắc đến ngày nay.
***
Thụy Khuê: Nếu so sánh sinh hoạt văn học hiện nay ở trong nước với sinh hoạt văn học miền Nam trước 75, anh có thấy điểm tương đồng nào giữa hai nền văn học này?
Vương Trí Nhàn: Nghe thấy lạ song có cảm tưởng là văn học ở trong nước hiện nay đang có nhiều điểm giống như Văn học miền Nam trước 75, kể cả sự phát triển văn hóa đại chúng, kể cả sự học đòi nhiều lúc hơi xô bồ, tuỳ tiện đối với phương Tây, cái mệt mỏi của con người, nỗi băn khoăn của người trí thức để có một nền văn học khác đi, trí tuệ hơn mà cũng là hiện đại hơn. Nhiều lúc ở Hà Nội này, tôi đọc và cảm thấy có những hiện tượng quanh mình tôi đã gặp một lần đâu đó, sau nhớ lại hóa ra tôi đã đọc ở Sàigòn trước năm 75, thời ấy bên cạnh Bách Khoa, bên cạnh Văn, đã có đủ thứ nhốn nháo, nhố nhăng, tùy tiện rất buồn cười khiến nhiều người phải kêu trời. Về hội nhập mà nói, so với văn học trong cả nước hôm nay, văn học miền Nam cũng đã đi trước.
Ngoài sự trì trệ, ấn tượng chính của tôi về đời sống văn học trước mắt là các nhà văn trẻ đang muốn thay đổi, họ cũng không muốn viết, không muốn sáng tác như những người đi trước như bọn tôi nữa. Thế nhưng sự chuẩn bị không có. Thiếu sự chuẩn bị như thế, dĩ nhiên lỗi không chỉ ở lớp trẻ mà là ở lớp người đi trước, chúng tôi đã không góp phần chuẩn bị cho họ. Thành ra, ngay ở phương diện này, các nhà văn trẻ cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, những ví dụ, những bài học. Để học theo có, mà để rút kinh nghiệm cũng có, theo hay tránh thì đều là những bài học hữu ích cho công việc của họ.
(Thụy Khuê: Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn)
Chữ nghĩa làng văn
– Bếp núc: nhân dân ta gọi ông núc hoặc ông đầu rau, thường đắp bằng đất sét để tạo thành kiềng. Ba ông núc đứng riêng nhưng rất vững như kiềng ba chân dùng để đun nấu ở nông thôn.
Văn khảo I
Khảo cứu văn học, tức văn khảo, là khoa nghiên cứu về văn học, truy tầm tận gốc rễ (nghiên: nghiền nhỏ ra) về lịch sử, nghệ thuật, văn bản để giải thích, đánh giá những sự kiện, tác phẩm, tác giả, trào lưu, thời kỳ văn học. Văn khảo được chia ra làm 3 ngành chính là: văn học sử, phê bình văn học và lý luận văn học.
Ngoài ra còn có những ngành phụ như phương pháp luận văn khảo như quy nạp, diễn dịch, tổng hợp, khái quát, phân tích, so sánh…, tâm lý học văn học, xã hội học văn học, nghiên cứu cấu trúc, phương thức thực hiện nội dung tác phẩm.
Để hổ trợ cho 3 ngành chính của văn khảo có các môn phụ như văn bản học, thư mục học..v..v..
(Trần Bích San – Văn khảo khái luận)
Ca dao lơ mơ lỗ mỗ
Cái gì chỉ có một đầu
Có mồm không mắt, đeo râu xồm xoàm
Khỏe đứng thẳng, nhọc nằm ngang
Thất thường tính khí họ hàng không ưa
Của lạ xài mấy cũng vừa
Của nhà thì cứ dây dưa khất lần
Giai thoại làng văn: Lý Toét Xã Xệ
Nhiều người cho rằng hai nhân vật này có mặt đầu tiên trên tờ Phong Hóa trước khi có tờ Ngày Nay của TLVĐ. Không phải vậy. Tưởng thế là lầm. Hai ông có mặt trong một vở gọi là Chèo cải luơng vào khoảng năm 1930. Lúc đó Lý Toét lại đóng vai ông Lý Đình Dù. Lý Đình Dù tức là ông lý trưởng làng Đình Dù.
Họa sĩ Đông Sơn vẽ Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Nhất Linh giải thích trong bài viết “Lịch sử Lý Toét…”, Báo Xuân Ngày Nay 1940, tóm tắt như sau: Tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau.
Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người đẻ ra “tên-Lý Toét” lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (chuyên viên thơ trào phúng của Tự Lực Văn Đoàn), từ “đẻ ra” sáng tác bởi Nhất Linh.
Họa sĩ Đông Sơn và bà Phụ Nữ Thời Đàm đẻ ra “hình-Lý Toét” sau. Sự tích là: Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, vẽ nghịch một ngườì nhà quê, thấy hay hay nên xé ra vứt vào ô kéo, chưa biết để làm gì. “Quý vị ơi! Nhìn hình dưới đây đi! Nó đấy, chính nó đấy, mảnh giấy nhật trình có chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này đấy!”:
Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, ta thấy cụ có vẻ hơi cô độc, thiếu bạn. Và: Xã Xệ xuất hiện là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét. Xã Xệ béo ịt, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc, có độc một sơi tóc xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý…
Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn. Nhưng Nhất Linh đến khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo “Đời làm báo” Nhất Linh có hàng chữ sau: Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật.
Cốc mò cò xơi
Hay “công như công cốc” với cốc là con chim cốc, là loài chim lông đen, cổ dài, chân có màng (như chân vịt) nên bơi lội bắt cá rất giỏi. Khi bắt được cá bay lên, mỏ ngậm cá, chưa nuốt được ngay vì còn phải thở để lấy hơi thì bị cò chực sẵn cướp mất.
Ý nói với công sức khó khăn mà không được hưởng.
(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2024
