Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (5)

Phần Năm: “Cũng Cần Một Bàn Tay”

Chắc hẳn quý độc giả cũng còn nhớ ở phần trước, khi nói về loại thuốc trị bá bệnh Ka Pê Xiline (thuốc khắc phục) của bộ đội quản giáo, tôi có  nói về Thùy, một bác sĩ quân y trẻ tuổi. Thường thì anh bạn này cũng “sáng vác cuốc đi, tối vác về” như ai! Anh không được hành nghề, ngứa tay, muốn tình nguyện lên “bệnh xá” của trại làm. Nhìn cái vẻ thư sinh, khuôn mặt bầu bĩnh, trắng như bột, dáng người nhỏ như con gái, lại ăn mặc luộm thuộm, không cán bộ nào tin là trước đây, anh đã từng là bác sĩ của Sư Đoàn Dù! Có thể cũng vì tự ái, họ vẫn tin vào các ông “y sĩ” Bắc Việt hơn.

Có một hôm, một sự “cố” xảy ra: Một anh bộ đội đi đâu, nhìn thấy cái tổ ong. Anh ấy mừng quá, về nhà tìm cái bịch nylon mang theo với ý định là ra vắt lấy một ít mật. Mật này hoàn toàn thiên nhiên, chắc là tốt lắm đây. Có lẽ anh này không biết tý gì về đặc tính của ong mật. Anh trèo lên, lấy cái que, chọc vào tổ ong để hy vọng, mật tươi sẽ từ đó mà chảy ra! Không ngờ, đàn ong túa ra, vây quanh lấy anh, chúng “đánh” anh tận tình. Đang ở trên cây, không biết đường nào mà đỡ. Gậy, bịch nylon lẫn thân thể của anh rớt xuống đất. Không chết nhưng trán của anh bị một rách một đường từ giữa trán sang đến tận màng tang. Mạch máu ở màng tang cứ bơm từng chặp, tuôn ra lênh láng. Cũng may, anh được đồng đội khiêng về trạm xá kịp thời. Ông y sĩ Bắc Việt không làm sao cầm máu cho anh này được. Bất ngờ, họ nhớ đến anh chàng thư sinh “tự nhận” là bác sĩ của quân Ngụy ở trong trại bên kia. Họ không còn cách nào khác, đành phải cho vệ binh chạy sang trại, kêu BS Thùy sang giúp họ. Thùy vớ vội túi đựng “đồ nghề” của mình chạy theo sang bệnh xá của quản giáo.

Với lương tâm của một vị bác sĩ, không phân biệt bệnh nhân là ai (tổ Socrates đã dạy như thế), Thùy dùng mấy cái kìm của mình, kẹp các mạch máu trên vùng màng tang. Máu đã ngừng chảy. Anh làm công việc của anh rất nhuần nhuyễn, rất cẩn thận khâu vết thương cho nạn nhân. Mặc dù không có thuốc tê – nhưng thà chịu đau ít còn hơn đau nhiều, (có khi mất cả mạng) nếu không được những cái kim có hình nửa vòng tròn này xỏ vào thịt khâu vết thương cho mình. Anh bộ đội nghiến răng chịu đựng. Ông y sĩ và vài anh bộ đội khác đứng quan sát, có anh còn thủ sẵn súng, trường hợp thằng Ngụy này giả bộ, cố tình giết đồng đội của họ thì họ sẽ không tha. Thùy không cần phải dùng những ngón tay để điều khiển kìm, kéo và kim khâu. Những sợi chỉ được khâu và khéo léo thắt nút với nhau, chỉ bằng hai cái kẹp. Nút thắt sau cùng, mọi người thở phào. Bây giờ họ mới tin thằng “nhãi” này là bác sĩ thật. Thùy lau mồ hôi trán và chào mọi người ra về và hẹn:

– Nếu trại muốn, ba hôm sau, tôi sẽ trở lại tháo chỉ và rửa vết thương cho anh ấy. Thùy được một vệ binh “ân cần” tiễn về trại.

Chúng tôi “phỏng vấn” thì Thùy cho biết “ối giời” đây là ca phẫu thuật dễ nhất từ trước đến giờ, trong cuộc đời binh nghiệp của anh. Tuy vậy, anh cũng thú nhận là cho dù với lương tâm của một bác sĩ, lúc khâu vết thương cho anh bộ đội kia, một chút lửa hận cũng có dâng lên trong lòng anh. Anh cố tình làm việc thật chậm, làm ra vẻ kỹ lưỡng, nhưng thật ra, anh để cho tên ấy phải chịu đau đớn lâu hơn một chút.

Ba hôm sau, lại một anh vệ binh sang trại chúng tôi, tìm Thùy rồi cùng đi về trại bên kia. Họ không nói chuyện với nhau, nhưng thái độ không có vẻ xa cách và hằn học như mọi khi.

Anh bộ đội bị thương có vẻ cảm kích ra mặt vì đã được các đồng đội kể cho nghe từng chi tiết của lần cấp cứu. Sau khi tháo băng, cắt chỉ, anh ân cần cầm tay Thùy cám ơn. Anh còn hứa là từ nay sẽ không dám chọc tổ ong nữa. Mọi người đứng chung quanh phì cười. Hòa cả làng.

Có lẽ càng có những sự việc như vậy, cộng với vô số những giúp đỡ của những người tù, bộ đội quản giáo cũng bớt hung hăng khi phải tiếp xúc với chúng tôi.

Anh Dương Hùng Cường vẫn còn ở trại đó. Ông thủ trưởng vẫn điểm danh tên tôi bằng cái tên trộn giữa hai người: Tôi vẫn bị gọi là Dương Hùng Kỳ!

Tôi vẫn được anh em tín nhiệm là có tài viết chữ đẹp, có tài điêu khắc, trạm trổ. Những tài này chỉ được “trọng dụng” trong trại tù này thôi chứ ngày nào đó, ra được bên ngoài, chỉ có những tài vặt này thì có mà chết đói!

Một hôm, một anh tù ở tổ khác, chạy sang làm quen và muốn nhờ tôi một việc. Anh ta tên là Lâm. Anh cho biết anh người Đà Lạt. Anh có sáng tác được mấy bài hát và anh muốn nhờ tôi trình bày những bản nhạc của anh vào một cuốn tập. Tôi đồng ý. Từ đó, chúng tôi hay gặp nhau. Anh mượn đàn và hát cho tôi nghe. Tôi phải công nhận, những bài hát của anh hay thật. Anh cũng là một người đánh bóng chuyền rất hay, cũng có một chút tài thổi khẩu cầm Harmonica. (Lúc ấy, trong trại chúng tôi đã có vài loại nhạc khí, người nhà đưa lên cũng có, mà do chúng tôi tự chế, cũng có).

Tôi cũng cố dành thì giờ trình bày cuốn nhạc của Lâm, từ trang đầu cho đến những trang trong. Tôi cũng tự ý chép thêm vào đó cho anh một vài bài thơ tình mà tôi thuộc. Anh cho là ý tưởng này rất hay. Tôi cũng vẽ vài tấm tranh nguệch ngoạc bằng than bếp trộn nhựa rau lang vào cuốn nhạc của anh.

Một thời gian sau, khi cuốn nhạc gần hoàn tất, Lâm mời tôi một “tuần trà” loại ngon, người nhà mới mang lên. Anh thổ lộ cho tôi biết là sau khi tôi hoàn tất cuốn nhạc cho anh, anh sẽ khâu nó vào lưng của cái ba lô, và sau đó, khi có cơ hội, anh sẽ trốn tù!

Trời đất ơi, lại một lần nữa, tôi tiếp tay cho người khác trốn tù hay sao đây? Lần này mà trại biết đến thì chắc chắn họ không thèm hạch hỏi chữ “Z” trong tên của tôi nữa, mà sẽ trừng phạt tận tình. Tôi đành phải nói thật với Lâm suy nghĩ của tôi như vậy. Hai chúng tôi đều quá buồn, ngồi đăm chiêu suy nghĩ. Đây là ý tưởng của người bạn đã ấp ủ từ lâu. Tôi không có lý do gì mà khuyên can bạn ấy. Lâm cũng lo là tôi sẽ phải chịu trách nhiệm lây. Chúng tôi đồng ý là từ đó chúng tôi không gặp nhau nữa để tránh bị nghi ngờ. Lâm xin mang cuốn tập nhạc về. Tôi có linh cảm là chúng tôi sẽ không gặp lại nhau nữa.

Độ hơn tuần sau, trại lại ra lệnh tập họp khẩn cấp để điểm danh. Quả thực, trại phát giác ra là người tù tên Vũ Ngọc Lâm đã trốn trại.

Có lẽ, đối với họ, việc trốn tù bây giờ không là việc quan trọng nữa hay sao mà ngày hôm sau, chúng tôi vẫn sắp hàng đi lao động như không có gì xảy ra. Hình như trại cũng không có ý mở cuộc điều tra. Cùng lắm thì bớt một thằng tù, bớt được 500 gram gạo mỗi ngày! Mãi về sau, chúng tôi cũng không nghe thêm tin tức gì về Lâm. Cũng cầu xin cho bạn được bình an.

Chúng tôi nghe tiếng la hét từ phía trại quản giáo. Lắng nghe nhưng vẫn không thể đoán được đó là việc gì. Tôi thoáng nghĩ và cầu mong đây không phải là điều tôi đang nghĩ: Điều tệ nhất có thể xảy ra là bạn Lâm đã bị bắt lại và bây giờ đang bị tra hỏi! Chúng tôi đều có những băn khoăn khác nhau, nhưng nỗi lo sợ thì giống nhau: Một thân xác đang bị hành hạ! Một lúc sau, tiếng la hét đó đã tắt. Có lẽ người đó quá mệt hoặc không chịu đau nổi nên đã ngất xỉu?

Hôm sau, đi lao động, chúng tôi dò hỏi một anh vệ binh. Anh vệ binh này tỏ ra rất hứng khởi khi có người muốn nghe sự việc “bí mật” của ngày hôm qua. Anh cho biết là có một người tù ở trại khác đi đào mìn ngoài hàng rào kẽm gai, bị trúng mìn, cụt mất một bàn chân, lên tới mắt cá. (Hóa ra, chung quanh đây, trại tù của chúng tôi là trại duy nhất có “trạm xá” cứu thương! Tù ở chỗ khác bị thương phải mang đến đây để cứu chữa vì họ không muốn cho những người tù này được đưa đến bệnh viện dân sự ngoài phố để cứu chữa như những công dân thường!) Ông y sĩ Bắc Việt phải một phen vất vả!

Chúng tôi tò mò hỏi chuyện đã xảy ra như thế nào. Anh vệ binh tỏ vẻ hãnh diện đã biết một bí mật. Anh cho biết là người tù này được chuyển đến trạm xá mấy ngày hôm nay, từ trại nào anh không rõ, chắc cũng không xa lắm. Khi quyết định cắt phần da và những mảnh xương vụn còn dính vào phần chân của người tù, ông y sĩ chỉ còn cách bắt anh này ngâm chân vào thùng nước đá lạnh để cho cái chân bị tê, ông y sĩ mới cắt được cho anh. Anh vệ binh chép miệng:

– Trạm xá này làm gì có thuốc tê hay thuốc mê gì đâu. Ông y sĩ cũng đã phải dùng cái cưa sắt để cưa miếng xương cho thằng này. Nó đau quá, ngất xỉu luôn. Cũng nhờ vậy mà ông y sĩ mới làm xong được công việc. Bây giờ thì thằng tù ấy “ổn” rồi.

Chúng tôi nghe câu chuyện mà lùng bùng lỗ tai. Đến thời đại này rồi mà nền y khoa của “Đỉnh cao trí tuệ” còn chữa trị người bằng phương pháp của hai trăm năm trước hả trời?

Cuộc đời cứ thế mà trôi qua. Chúng tôi lo kiếm cái ăn cho vững bụng để còn đi lao động và cũng quên mất câu chuyện bắt người ta ngâm chân vào nước đá rồi dùng cưa sắt mà cưa chân cho người ta.

Một buổi chiều, đi lao động về đến “nhà”, mấy anh em chúng tội chuẩn bị đi tắm rồi ăn cơm với nhau. Lại nghe tiếng la hét ở bên trại cán bộ. Cũng tiếng la của lần trước. Chúng tôi bảo nhau: “hay là lại anh chàng xui xẻo ấy”?

Chúng tôi cố đến thật gần khu trại cán bộ nghe ngóng tình hình xem câu chuyện thế nào. Khi đến được gần khu trại, cũng là gần cái trạm xá, chúng tôi hết hồn nghe người bạn tù này vừa la hét, tỏ ra đau đớn cùng cực mà cũng tỏ ra phẫn uất cùng cực, anh ấy lôi hết các tên họ của những “lãnh tụ kính yêu” của chế độ ra mà chửi rủa, gồm cả họ Hồ, họ Phạm, họ Lê, v..v.., kể cả các quản giáo, cán bộ, vệ binh. Anh không “tha” một ai. Anh còn lớn tiếng thách thức:

– Tụi mày cứ bắn tao chết đi, tao không thiết sống với lũ chó má chúng mày!

Lòng chúng tôi cũng sôi lên vì biết rằng cùng cực lắm, thực sự không thiết sống, nên anh bạn này mới phải dùng kế sách sau cùng này để cuộc đời anh được kết liễu. Nhưng đám vc cũng vẫn đành phải nghe vì không thể chỉ vì những lời chửi bới lúc cùng cực này mà bắn chết người ta! Một lúc sau, tiếng la hét, chửi rủa đã ngưng, chúng tôi lục tục kéo nhau về. Vừa cố nuốt miếng cơm mà vừa thổn thức, nghẹn ngào.

Hôm sau, loa lại cộc cộc báo cho BS Thùy hôm nay được miễn đi lao động, mang dụng cụ y khoa sang giúp trại. Thùy cũng vớ vội gói dụng cụ riêng của mình, chạy sang trạm xá.

Buổi chiều, khi thấy Thùy về đến trại, chúng tôi xúm vào hỏi. Thùy kể lại cho chúng tôi nghe mọi việc:

Anh bạn tù bị mất bàn chân hôm trước, đã được ông y sĩ Bắc Việt cắt những mảnh xương vụn còn sót và đã khâu lại phần da cho anh. Nhưng vì không có thuốc sát trùng, cũng không có thuốc trụ sinh, cái chân của anh bị làm độc. Lần này, họ cũng bắt anh ngâm chân vào nước đá và định làm như lần trước, có nghĩa là họ sẽ cắt lên cao thêm cho anh! Phần xương thịt cũ đã làm độc, không thể chữa được. Các vệ binh trói anh lại, đẩy anh ngồi xuống ghế, ấn cái chân anh vào thùng nước đá. Anh này kháng cự và chửi tục như chúng tôi đã nghe thấy. Ông y sĩ Bắc Việt nói với Thùy:

– Thằng này ngoan cố lắm, tôi muốn chữa cho nó mà nó nhất định không chịu, còn chửi rủa chúng tôi nữa. Anh có thể làm gì cho nó không?

Thùy đến trước mặt anh tù, định giới thiệu mình và sẽ giải thích cho anh ấy hiểu những thủ tục mà Thùy sẽ làm để giúp anh. Anh tù kia mắt long lên sòng sọc, chửi tiếp vì anh ta chưa biết đây là một bác sĩ của “phe ta”.

Thùy kiên nhẫn đợi anh ta một lúc. Mãi rồi cũng chán, anh kia không chửi nữa nhưng vẫn nhăn nhó ra vẻ đau đớn lắm. Thùy ôn tồn nói:

– Tôi cũng là một người tù cải tạo như anh, nhưng tôi còn là một bác sĩ của Sư Đoàn Dù. Tôi sẽ giúp anh.

Anh bạn tù kia ngạc nhiên quá sức. Anh gật đầu chào rồi hỏi:

– Anh sẽ giúp tôi như thế nào?

Thùy giải thích là vết thương của anh đã làm độc, nếu không tẩy, rửa thì vi trùng sẽ ăn lên cao và anh sẽ phải cưa cái chân lên cao hơn một chút.

Anh bạn vừa suy nghĩ vừa quan sát Thùy xem có tin được anh này không? Anh bằng lòng để Thùy xem xét vết thương. Thùy nói với chúng tôi là vết thương đã sưng tấy lên, mang mùi hôi thối của đống thịt rữa.

Thùy trao đổi với cán bộ quản giáo:

– Tôi có đầy đủ dụng cụ để chữa cho anh này nhưng tôi không có thuốc sát trùng. Anh có thể “liên hệ” ở đâu xin cho tôi thuốc sát trùng và một ít thuốc trụ sinh. Hôm nào có thì tôi sẽ trở sang. Sau đó, Thùy mở băng, tạm rửa vết thương cho anh bạn. Với con mắt của một bác sĩ, Thùy biết là anh sẽ phải cắt thêm một đoạn xương  vì lần trước, ông y sĩ Bắc Việt cuống quá, những cái xương bị ông cắt còn nhọn như mũi dao, sau này nó sẽ mọc lòi ra ngoài da. Thùy dự tính sẽ phải cắt cái xương đó lên một chút, gọt cho phẳng lại và sẽ cố giữ lớp da để sau đó, khâu bó lại, đại khái như bó giò vậy. Cái khó cho Thùy lúc này là làm sao có thuốc mê để tạm cho anh này ngủ đi một lúc và sẽ phải nhanh tay. Thùy biết là nếu để nghị xin một lúc ba loại thuốc: thuốc sát trùng, trụ sinh, lại còn đòi thêm thuốc mê nữa thì chắc chắn anh cán bộ sẽ không sẵn lòng giúp nữa.

Ba hôm sau, Thùy lại được gọi sang trạm xá. Thùy xin trại cho mang theo một người bạn để phụ giúp. Ông cán bộ cho biết là đã đi “liên hệ” và xin được thuốc cho Thùy. Sang đến nơi, ông đưa cho Thùy một lọ thuốc đỏ và một gói giấy đựng thuốc trụ sinh bột. Ngửi mùi, Thùy biết, ít ra cũng có được một gói bột Peniciline! Thùy thấy mà ngao ngán quá nhưng biết làm sao bây giờ. Thùy giải thích cho anh bạn bất hạnh kia. Anh ấy vui vẻ nhận lời để Thùy giúp. Thùy nói là không có thuốc tê hay thuốc mê. Anh bạn bình tĩnh trả lời:

– Tôi đau nhiều rồi, hôm nay đau thêm một tý cũng đâu có sao. Tôi sẽ cố bắt chước ông Quan Công ngày xưa. Bác sĩ cứ bắt đầu đi. Anh có vẻ đã tin tưởng Thùy lắm nên đổi cách xưng hô sang bác sĩ – và tôi.

Thùy bắt đầu mở băng, rửa vết thương bằng thuốc đỏ, lột những phần da dúm dó được ông y sĩ túm lại hôm trước. Anh bạn bắt đầu cảm thấy đau đớn cùng cực, không còn can đảm nhìn Thùy rửa vết thương như lúc đầu. Anh với tay lấy cái khăn nhét vào miệng. Bây giờ là lúc người bạn đi cùng Thùy sang đây phải cố gắng ôm anh bạn kia thật chặt, không để anh ấy vùng vẫy, Thùy phải “tranh thủ” làm việc thật nhanh. Thùy cắt những đầu nhọn của xương xong, nhanh tay khâu phần da còn lại quanh vết thương. Trán Thùy đầm đìa mồ hôi. Anh bạn kia thì hình như không còn sức gồng người dãy dụa nữa. Vậy mà mọi việc cũng xong. Thùy rắc số bột trụ sinh lên vết thương và bó lớp băng mới lên cho người bạn. Thùy chào quản giáo ra về. Anh bạn kia hình như đã thiếp đi, không thấy chào tạm biệt vị cứu tinh của mình.

Khoảng một tuần sau, ông thủ trưởng cho biết là anh bạn bị thương kia đã khỏe. Thủ trưởng còn đề nghị với Thùy là gửi anh bạn ấy vào sống chung với tổ của Thùy. Ông ấy chép miệng:

– Tù thì ở chỗ nào cũng là tù. Ở đây có anh, khi cần giúp gì thì còn có người. (Ông thủ trưởng này vẫn có vẻ là một người tốt.)

Thùy đồng ý để anh ấy dọn vào trại chúng tôi. Anh bạn mới tên là Đắc. Anh ấy tự gọt đẽo cho mình một cái nạng. Với những chia sẻ mỗi người vài viên thuốc từ chúng tôi, và được sống bên cạnh Thùy, anh này phục hồi cũng nhanh chóng. Dĩ nhiên, anh Đắc vẫn còn được miễn đi lao động. Ở trại, anh tình nguyện giúp anh em nấu nước, chẻ củi, và giúp quét dọn gian nhà anh ở với Thùy. Anh Đắc lại đánh đàn ghi-ta “classic” khá hay. Chúng tôi được nghe anh độc tấu Tây Ban Cầm những bài nhạc xưa, trông lão luyện lắm. Anh cũng nói đùa, cũng “may” là mất bàn chân, chứ nếu mất bàn tay thì hết chơi đàn!

Anh Đắc cho biết là trước đây, anh là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị, đóng ở Cần Thơ. Anh chưa có gia đình. Cha mẹ thì lại ở xa, tận dưới miệt Đồng Tháp. Anh không có ai thăm nuôi bao giờ. Anh được ở với chúng tôi cũng là một niềm an ủi.

Theo lời giúp ý kiến của chúng tôi, anh viết tờ đơn xin trại cho về vì với thân thể tàn tật như vậy, anh không đóng góp được gì cho “cách mạng”. Trại không trả lời và dĩ nhiên, cũng không cho anh về. Anh Đắc ủ rũ ra mặt vì cứ theo suy nghĩ thông thường thì một người tàn phế như vậy, cho về là phải! (?)

Mấy hôm nay, có tin đồn xôn xao là sắp có đợt chuyển trại. Cứ xem những thành phần nào đi với nhau là có thể đoán được nhóm đó “lành” hay “dữ”. Trại cải chính là sẽ không có biến chuyển gì. Họ khuyên chúng tôi là cứ “yên tâm học tập”. Bổn cũ soạn lại!

Chỉ ba ngày sau, cũng trong đêm khuya, các cái loa gắn trong trại chúng tôi lại ra lệnh.

– Tất cả thức dậy, sắp xếp đồ đạc cá nhân, ra sân tập họp để chuyển trại. Lần này các con vẹt không nói là: “các anh sẽ được chuyển về trại mới, có điều kiện học tập tốt hơn”!

Lúc đọc tên để phân chia nhóm, tôi để ý thấy Bác Toàn, An Ninh Quân Đội, anh Đắc, Chiến Tranh Chính Trị (CTCT), Dương Hùng Cường, CTCT, Xung Kích Cầm Bút, Nguyễn Duy Linh (CTCT), bạn thân, người cùng đi trình diện với tôi hôm đầu – và nhiều anh em nữa, tôi không nhớ đơn vị/binh chủng của họ nhưng có lẽ, họ đều bị ghép vào nhóm “ác ôn”, và đã đứng chung danh sách với nhau, có nghĩa sẽ bị chuyển sang chỗ mới cùng với nhau.

Lần này, sau hai năm ở đây, chúng tôi đều có nhiều đồ đạc lỉnh kỉnh hơn, nặng nề quá sức, nhưng “bỏ thì thương, vương thì tội”. Cuối cùng, chúng tôi đành chép miệng, thôi phải mang theo hết!

Cuộc điểm danh để chuyển trại diễn ra khoảng bốn tiếng đồng hồ. Gần sáng, chúng tôi, những người không bị đọc tên, được cho tan hàng, trở về nhà cũ. Không gian não nề. Mặc dù chỗ nằm trở thành rộng rãi hơn nhưng chúng tôi không vui được vì thương các bạn kia quá. Nhìn thành phần bị gọi tên đi chung với nhau, chúng tôi đều hiểu rằng “lành” ít, “dữ” nhiều cho họ.

Giờ đây, tôi nới nảy ra ý định là phải lợi dụng thời gian này, tìm cách học hết những kỹ thuật mưu sinh thoát hiểm từ những bạn còn lại. Ai biết gì thì mình học cái nấy.

Tôi đã học cách định hướng đi trên biển theo chòm sao Thất Tinh Bắc Đẩu từ một người bạn trước đây là Hải Quân trung úy. Anh dạy tôi “đọc” hướng của chòm sao này theo từng giờ khác nhau trong đêm. Quan sát và nhìn mỗi đêm, chòm sao 7 ngôi này hiện ra rất sáng và rõ trên bầu trời hướng Bắc. Từ đó, nhìn thoáng là đã biết hướng nào là hướng Bắc và từ đó suy ra ba hướng kia dễ dàng.

Tôi đã học được một số kỹ thuật đi rừng từ mấy anh em trước đây đã từng là hướng đạo sinh. (Không còn ai là Biệt Kích còn sót lại). Cách lấy nước từ dây leo rừng. Nấm màu gì, mọc như thế nào thì ăn được. Bị rắn cắn thì phải làm những gì. Cách tránh bị thú dữ tấn công, v…v…

Tôi thấy tiếc vì giá trước đây, lúc còn ở chung với nhiều anh em thuộc nhiều đơn vị khác nhau, nếu tôi nghĩ ra việc này sớm thì có lẽ còn học được nhiều “ngón nghề” của nhiều bạn khác hơn. Nhưng thôi, muộn còn hơn không

(Còn tiếp)

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4

Bài Mới Nhất
Search