Phần Chín: “Trùng Trùng Xa Cách” (4)
Cuộc sống không có ngày mai của chúng tôi ở trong trại cải tạo này đã qua đến năm thứ tư. Chúng tôi vẫn không có ý niệm nào về ngày tháng. Những anh em có thân nhân ở gần, có nghĩa là ở chung quanh Sài Gòn, Biên Hòa và nói chung là gần khu Bà Rá, Phước Long này thì còn được gia đình lên thăm nuôi và tiếp tế tiền, quần áo, thuốc men, và thức ăn. Những bạn khác có thân nhân ở xa quá, hoặc ở tận miền Trung, hoặc ở tận dưới miền cực nam của Miền Nam, thì không được tiếp tế, luôn mang khuôn mặt phiền não, bi quan. Chúng tôi cũng chia sẻ một phần nào những ưu tư vật chất của các bạn này nhưng không nhờ thế mà họ có được lẽ sống hồn nhiên như chúng tôi.
Cán bộ trại cũng có vẻ sung túc hơn. Họ hay bắt chúng tôi lên phụ những công việc lặt vặt mà đáng lẽ họ phải tự làm lấy. Chúng tôi vẫn chịu cái kiếp làm nô lệ cho bọn này. Gần đây, họ sắm được một cái cưa loại lớn, cần đến hai người, đứng “kéo cưa lừa xẻ” hai đầu mới điều khiển được cái cưa đó. Họ bắt chúng tôi thành lập toán cưa đưa lên trại để làm những công tác mới. Chúng tôi bắt đầu phải đi săn tìm những thân cây, súc gỗ lớn, đem về cho toán cưa, cưa thành từng lát mỏng, đóng bàn ghế, giường tủ cho họ (không biết có phải họ bắt chước nếp sống tiểu tư sản của miền Nam hay không?)
Toán cưa của các bạn chúng tôi cũng rất tài tình. Tôi đoán trong đời của họ, chắc chưa bao giờ làm công việc nặng nhọc này. Thế mà các anh em ấy cưa thành những thớ gỗ mỏng đều nhau. Khi cưa, đục, đẽo thành những sản phẩm do “đơn đặt hàng” của cán bộ, những cái bàn, cái ghế, đặc biệt là đầu giường ngủ cũng đẹp vô cùng. Các cán bộ rất hài lòng. Có lẽ họ dự định sẽ mang về Bắc “lòe” bà con ở ngoài đó bên cạnh ba cái Đồng – Đạp – Đài?
Các ông cán bộ cũng “thừa cơ xông lên” bằng cách ra lệnh cho chúng tôi đợt này, khi đi phát hoang để làm rẫy, cây nào thẳng thắn phải được xếp ngay ngắn thành một khu riêng. Cây lồ ô hạ xuống nếu không cần dùng đến, cũng phải xếp thành từng đống chung với nhau. Họ cho biết là khi mùa khô đến, sẽ có xe nhà nước lên chở về đồng bằng cho những công trình khác. Chúng tôi đoán, đây không phải là kế hoạch của nhà nước nhưng các anh cán bộ này đi phép về thành phố, được người khác mớm cho cái ý tưởng thu gom đống tài nguyên thiên nhiên về bán cho thương lái ở dưới đó, kiếm lời – mà không mất vốn. Chúng tôi có suy luận kiểu gì thì cũng vẫn phải chấp hành. Theo thời gian, hết đồi nọ sang đồi kia, trống trơn, mênh mông bát ngát, sẵn sàng cho vụ mùa mới. Các ụ cây được chúng tôi xếp ngay ngắn và sẵn sàng để được chở về thành phố.
Một buổi trưa, tôi đưa anh em sang bên kia đồi, tiếp tục công tác chất gỗ, tre vào vị trí. Hôm ấy tôi không được khỏe nên cắt đặt công việc cho anh em xong thì về trại nghỉ trước. Trước khi về, tôi không quên nhấn mạnh là tuyệt đối không được hút thuốc lào. Tàn thuốc hoặc cây đóm còn đang cháy, rớt xuống cỏ khô thì cháy không kịp chữa.
Về nhà nằm khểnh một chút thì anh em ở trại chỉ cho tôi thấy một đám khói đen bốc lên từ bên kia đồi. Tôi tự trấn an bằng cách nói với anh em:
– Chắc bên đồi Thượng, họ đốt rẫy.
Chỉ độ hai phút sau thì thấy mấy anh em bên đó chạy về báo là cỏ trên đồi đã bắt đầu cháy, yêu cầu anh em chạy sang tiếp sức dập tắt ngọn lửa. Thân xác tôi đã mệt, lại còn muốn ngã bệnh luôn vì đây là một tai họa lớn do tổ của tôi gây ra. Tôi cùng anh em gánh nước sang bên đồi. Những thùng nước chúng tôi gánh sang không bõ vào đâu so với đám cháy đang lan rộng. Gió trên đồi tha hồ mà cuộn tung đám tàn lửa từ chỗ nọ thảy sang chỗ kia. Sau cùng, thấy sự có mặt của chúng tôi trên này nguy hiểm quá, lát nữa lửa cháy tứ bề thì không biết đường nào mà chạy. Chúng tôi hô nhau bỏ chạy về.
Đám cháy rừng đó kéo dài liên tục trong ba ngày. Ba ngày đó chúng tôi không được ra khỏi nhà. Cán bộ sẽ cho đi điều tra xem đám cháy phát xuất từ đâu. Chúng tôi cứ đổ bừa cho người Thượng họ đốt rẫy, cháy lan sang bên mình.
Trong ba ngày đó, chúng tôi phải ngồi kiểm điểm và tìm ra ai là thủ phạm vụ cháy này. Ai cũng xanh mặt vì không hiếm người hút thuốc lào hôm đó. Tôi không được ra khỏi nhà để lên tận nơi xem, tính coi có cách nào phi tang nơi phát xuất đám cháy không. Một anh bạn tên Vũ Huy Tưởng, có tài đi rừng, vẫn hay ra sóc Thượng buôn thịt heo về cho chúng tôi, nói riêng với tôi:
– Để cho tình hình lắng xuống, tôi sẽ đi vòng từ sóc Thượng lên, sẽ tìm các xóa sạch vết tích.
Hai đêm sau, anh Tưởng đi thật. Anh về đến nhà, báo cho tôi biết, đúng là chỗ phát xuất ngọn lửa là từ chỗ tổ tôi chịu trách nhiệm. Tuy vậy, anh đã dùng chân xóa sạch vết tích. Mình cứ đổ cho bên sóc Thượng họ đốt là được.
Trại lần lượt cho gọi nghi can lên điều tra. Người hay hút thuốc lào nhất trong tổ tôi là anh Trần Khắc Thành. Anh này đầu óc cũng lơ-tơ-mơ. Ít khi có khả năng nghĩ thấu đáo công việc. Làm cái gì cũng phải có người nhắc. Tôi phải kéo anh ta ra một chỗ và dặn anh ta:
– Nếu trại có gọi mày lên hỏi han gì cũng chỉ nói “không biết”. Dù họ có đánh, mày cũng phải ráng mà chịu, không được khai. Tao đã bị đánh nhiều lần rồi, bây giờ cũng lành lặn, không sao, chuyện gì rồi cũng sẽ qua. Anh chàng gật gật cái đầu. Chính anh ta là thủ phạm hút thuốc rồi để rơi tàn xuống đám cỏ khô. Mới đầu còn cởi áo ra phủi tàn lửa nhưng càng phủi thì lửa càng lan nhanh. Tôi phải “dọa” thêm:
– Tội này là tội tử hình đó vì đã cố tình phá hủy tài nguyên của nhà nước. Nhưng nếu tao thấy mày có vẻ yếu bóng vía, chưa gì đã sợ, thì tụi nó chưa xử tử mày, tao cũng sẽ giết mày để tránh họa cho nhiều anh em khác. Tay này đứng ngây ra nhìn tôi, không ngờ tôi lại “dữ” như vậy.
Sau ba ngày miễn lao động, dĩ nhiên phần bo bo cũng bị cắt giảm. Trại cho chúng tôi lên hội trường. Họ đe dọa đủ mọi hình phạt cho tất cả chúng tôi nếu cuối cùng không tìm ra thủ phạm. Chúng tôi ngồi im, không có ý kiến.
Cuối cùng thì trại cắt chúng tôi đi làm ở một quả đồi khác. Có lẽ họ vẫn tiếp tục lên quả đồi đó để điều tra. Ban đêm, anh Tưởng vẫn có gan đi ra sóc Thượng. Tưởng cho tôi biết có nhiều vết chân đi từ bên này qua bên kia đồi. Mỗi ngày có bao nhiêu cơn gió, sau một ít lâu thì chỗ nào trông cũng giống chỗ nấy. Chúng tôi an tâm.
Cuộc sống của chúng tôi lại trở lại bình thường. Tôi vẫn hay ra sóc Thượng, săn sóc cho trẻ em thì ít, nhưng để uống rượu cần bằng sừng trâu với ông tù trưởng thì nhiều (mà cũng để ngắm bộ ngực trần của cô con gái của ông!). Nói thực lòng, cô gái này có vẻ cũng thích tôi, hay bịt miệng cười theo mỗi khi ông tù trưởng cười nhe cả hàm lợi đỏ của ông. Tôi không hề dám có ý tán tỉnh, lợi dụng người con gái chất phác này. Cũng vì sợ cô ấy biết cách “bỏ bùa” hay “thư” của độc vào bụng tôi như vẫn đọc trong tiểu thuyết. Tôi cũng hay ra xã Đức Hạnh để mua gà, đậu, gạo, và có khi cả rượu đế.
Một dịp cao hứng, tôi bàn với anh Tưởng là mình sẽ rủ anh em chung tiền, mua một ít thịt nai về xào lăn nhậu chơi. Tôi sẽ trách nhiệm ra xã Đức Hạnh mua rượu. Anh em chịu ngay. Chúng tôi hăm hở đi liền. Hôm ấy là Chúa Nhật, chúng tôi chỉ phải làm nửa chỉ tiêu của ngày thường. Ngay sau đó là ba chân bốn cẳng chạy ngay đến nơi cần đến. Anh Tưởng sắm được một phần đùi nai và bốn con ếch lớn. Tôi “rinh” được hai chai rượu “cuốc lủi” chính hiệu, do dân xã Đức Hạnh cất tại nhà. Buổi chiều về là anh em đã đợi sẵn, nào là dao, thớt, hành, tỏi, tiêu, gừng, nồi, niêu, xoong chảo,…. cứ như là có tiệc cưới dân dã. Buổi tối, mọi người tự mang ghế đến tham dự tiệc. Chúng tôi anh em cùng tổ, tất cả 15 người, ngồi quanh một cái hai bàn dài, thi nhau gắp và thi nhau rót rượu. Tôi kể cho anh em nghe về bộ ngực trần của cô con gái ông tù trưởng. Ai cũng hưởng ứng câu chuyện dòn dã. Đến khuya thì mọi người cũng đều ngà ngà say. Anh em hay có cái tật gọi nhau bằng “sư phụ”, “ông thầy” và đặc biệt anh Thành “thỏ đế” hay hát bài “Vì Tôi Là Linh Mục”. Chúng tôi gọi anh là “linh mục dại khờ”. Tiếng cười của chúng tôi càng ngày càng vang lớn trong rừng thẳm. Không có ai đả động gì đến chính trị hay than vãn gì về cuộc sống tù đày.
Bất chợt, mặt anh bạn ngồi đối diện tôi đổi sắc. Ban đêm, trong rừng, đèn dầu nhỏ quá, tôi không nhận rõ là trên mặt anh có biểu hiện gì nhưng mà thấy anh có vẻ rất bất thường. Anh chỉ tay về phía sau tôi, nói lắp bắp:
– Anh thủ trưởng đứng sau lưng anh.
Tôi quay lại thì thấy ông thủ trưởng thật. Ông ấy nói nhỏ nhẹ:
– Nãy giờ, tôi đứng nghe các anh nói chuyện. Không ngờ các anh lại có ý phỉ báng tôn giáo. Các anh lấy “sư, thầy, linh mục” ra mà diễu cợt. Tôi sẽ nói việc này với các anh sau. Bây giờ, anh Dz cho anh em đi nghỉ, mai lên trình diện tôi. (Chúng tôi không hiểu sao ông này lại ghép cho chúng tôi cái tội “phỉ báng tôn giáo”. Ông này cũng ra cái điều là người cộng sản không bài bác tôn giáo?)
Tất cả anh em chạy về mùng của mình, chui vào đó nằm im.
Đến sáng, anh chàng trực hôm đó hỏi tôi:
– Hôm nay anh có đi sang trại với tôi không?
Tôi trả lời:
– Hôm nay tôi hãy còn “hậu chấn” của rượu nên, nếu được hỏi, anh cứ nói là hôm nay tôi cáo bệnh.
Anh bạn đi nhận công tác xong, trở về trại, nhắn lại là ông thủ trưởng nhắc anh là hôm nào anh khỏe hẳn, lên gặp ông ấy.
Công việc “đồng áng” vẫn diễn ra bình thường. Tôi vẫn cáo bệnh không đi làm việc. Tự nhiên, tôi “đổ lỳ” ra. Kệ, cứ đấu não với nhau tới đâu thì tới. Dĩ nhiên là trong cuộc đấu này, người thua chắc chắn cũng chỉ là tôi. Nhưng tôi biết rằng cuộc đời ở trên thế gian này không còn bao lâu nên cứ đổ lỳ ra vậy. Câu giờ được tới đâu hay tới đó.
Những người bạn thay phiên trực, lên nhận công tác mỗi ngày đều phải trả lời quanh co hộ tôi. Các bạn này không còn muốn nghe điệp khúc cũ là ông thủ trưởng muốn gặp tôi nên năn nỉ tôi:
– Dz ơi, tao lạy mày, ít ra thì mày cũng viết một vài hàng tự kiểm điểm, tao lên nạp cho trại cho xong việc của tụi tao. Tôi vẫn ngoan cố trả lời:
– Thì mày cứ nói là “tôi có nói rồi nhưng nó không muốn lên trình diện mà cũng không muốn viết tờ tự kiểm”. Mọi việc để tự tao chịu trách nhiệm.
Trong đội của chúng tôi có một anh bạn bị chứng sốt rét kinh niên. Người anh lúc nào cũng xanh như tàu lá. Tôi chỉ nhớ anh tên Sơn, nhưng không nhớ họ. Từ hồi chúng tôi được gia đình thăm nuôi tới nay cũng cả hai năm nhưng anh bạn Sơn này chỉ được gia đình lên thăm có một lần duy nhất, cũng khá lâu rồi. Có một lần, anh ấy tâm sự với chúng tôi là em gái của anh ấy lên cho biết là vợ anh ở nhà đã bước thêm bước nữa. Thân gái đơn chiếc, cần một chỗ dựa. Anh Sơn phải công nhận là việc làm này của người vợ đáng trách thật, nhưng cũng phải để cho người ta có chọn lựa riêng. Hoàn cảnh này cả đất nước cũng có bao nhiêu trường hợp như vậy mà mình không biết đó thôi. Anh Sơn càng yếu hơn theo ngày tháng. Anh mất hết ý chí muốn sống. Chúng tôi phải thay phiên nhau giúp đỡ an ủi anh ấy.
Anh Sơn vẫn hay nằm trong mùng lâu hơn chúng tôi vì anh dậy lúc nào thì có việc nhẹ cho anh ấy. Buổi sáng, chúng tôi thức dậy đi làm, thấy mùng của anh vẫn buông, nghĩ là anh ấy còn ngủ nên chúng tôi nhẹ nhàng đi ra đồng. Buổi trưa về, thấy mùng vẫn còn buông. Chúng tôi giở mùng ra để giúp anh dậy. Gương mặt của anh trắng bệch. Hàm răng nghiến chặt. Mấy lớp chăn của anh thấm đẫm máu. Có lẽ anh đã cố tình lót nhiều lớp chăn để máu của anh không rỏ xuống đất, không ai nhìn thấy và không ai ngăn cản ý định tự kết liễu cuộc đời vô vọng của mình. Chúng tôi xốc anh ra khỏi giường. Thân xác của anh lạnh toát, mềm nhũn. Chúng tôi khám thật nhanh thân thể của anh thì thấy có nhiều vết anh tự cắt trên ngực nhưng không ra máu nhiều. Vết cắt đã tiễn anh về bên kia thế giới là vết cắt sâu vào cổ tay. Lọ thuốc trị sốt rét của anh cũng đã bị nuốt hết, có lẽ anh lấy thêm can đảm để tự kết liễu cuộc sống của mình.
Chúng tôi nghẹn ngào bó xác của anh bằng chính những cái chăn đẫm máu của anh. Chúng tôi lên báo cáo trại. Ông thủ trưởng bảo tổ cưa cho anh mấy tấm gỗ làm một cái áo quan đơn sơ cho anh. Chúng tôi lặng lẽ khiêng anh xuống gần suối, đào huyệt chôn anh tại đó. Lại một cái chết oan khiên.
Độ một tháng sau, bất ngờ trại cho lệnh chúng tôi tập trung xuống hội trường. Khi chúng tôi đã tề tựu đầy đủ, hai anh vệ binh nhảy tới chỗ tôi đứng, nhanh chóng trói hai tay tôi ra sau. Họ lấy một cái đòn vông xỏ qua hai khuỷu tay tôi như lần trước. Họ ra lệnh cho tôi quỳ dưới nền đất. Anh em chúng tôi hoang mang chưa biết chuyện gì nhưng biết rằng chuyện sắp xảy ra cho tôi không lành.
Ông thủ trưởng tươi cười bước vào hội trường, tay cầm theo một xấp giấy. Ông cho chúng tôi ngồi xuống và dõng dạc tuyên bố:
– Hôm nay, nhà nước quyết định khoan hồng cho một số anh em cải tạo tốt. Sau khi tôi đọc tên xong thì các anh có tên trở về lán của mình mang đồ tư trang ra cổng trại. Chúng tôi sẽ phát giấy ra trại ở đó. Các anh sẽ tự ra đón xe đò về nhà. Hôm ấy, khoảng hơn một trăm bạn tôi nhận được giấy ra trại thật. Người được xướng tên thì nhảy cẫng, bắt tay anh em ngồi xung quanh. Người nào chưa được xướng tên thì ủ rũ, mong sớm nghe tên mình được đọc.
Khi đọc xong danh sách những anh cải tạo tốt. Ông thủ trưởng tỏ vẻ rất tiếc, nói với chúng tôi:
– Cái anh Sơn ấy vội vã quá, chưa gì đã tự tử! Hôm nay anh ấy có tên trong danh sách được về. Anh Dz này cũng vậy, đáng lẽ ra hôm nay anh ấy cũng có tên về. (Ông thủ trưởng chỉ chỉ vào tờ danh sách ông cầm trên tay). Nhưng vì anh này ngoan cố, có vi phạm nội quy của trại nhưng không thành khẩn nhận lỗi, chúng tôi không cho anh ấy về được. Anh Dz sẽ phải ở trại cải tạo thêm một thời gian nữa. Ngày nào được về thì cũng tùy vào cá nhân anh ấy thôi. (Chỉ có trời mới biết thực sự trong danh sách những người được về có tên Sơn và tôi không!)
Tôi bị trói quỳ dưới đất nghe mà buồn cười. Ông này đâu có cần giở cái trò giả nhân giả nghĩa như vậy!
Sau khi thủ tục phóng thích tù ra rồi, tất cả mọi người giải tán. Tôi bị hai anh vệ binh xóc hai đầu đòn vông lôi về trại của họ. Ông thủ trưởng bây giờ có quyền ra oai của một ông thủ trưởng. Tôi bị biệt giam trong một tháng. Mỗi ngày, bạn tôi luồn qua song cửa cho tôi một đĩa bo bo trộn khoai mì hẩm và một ít cá khô. Trại kiểm soát đĩa cơm trước khi đến tay tôi nên các bạn tôi không dấu thêm gì trong đó được. Sức khỏe của tôi cứ thế mà yếu dần. Gần cuối thế kỷ hai mươi rồi mà con người còn hành hạ nhau đến như vậy. Họ bày đặt cái trò cùm chân tôi vào hai cái nẹp tre. Ngoài Bắc, họ gọi là “huyện” chân, không gọi là “cùm” chân. Ở trong cái nơi biệt giam kiên cố này, tôi còn làm được gì mà phải cùm chân tôi? Ba ngày, họ cho tôi ra giếng tắm giặt. Hai chân của tôi giờ này đã thâm tím, đi lại rất khó khăn. Khổ nhất là lúc ngồi để đi tiêu. Tôi phải đu mình trên cái xà ngang trong nhà xí vì hai chân đã bị kẹp, không ngồi xổm được.
Hôm anh thủ trưởng quyết định cho tôi về trại. Ông cho tháo cùm chân nhưng hai tay tôi vẫn bị trói sau lưng. Ông nói:
– Hôm nay tôi cho anh về trại với anh em. Tôi phạt giam anh một tháng để anh chừa cái tội không lên trình diện, cũng không làm tờ tự kiểm hơn một tháng.
Hai anh vệ binh lại xỏ cái đòn vông vào hai khuỷu tay tôi phía sau lưng, cầm hai đầu gậy dẫn tôi về. Đến ranh giới giữa trại cán bộ và trại tù, họ tháo dây trói cho tôi.
Các bạn tôi đã nhìn thấy từ xa, chỉ chờ mấy anh vệ binh đi khuất, họ chạy lại đỡ tấm thân – vốn vạm vỡ của tôi, nay trở thành thân tàn, ma dại. Tôi được anh Tuyến nấu cho một nồi cháo hành. Tôi húp tô cháo nóng hổi mà thấy nước mắt mằn mặn.
Chỉ độ nửa tháng sau thì chúng tôi lại bị đánh thức dậy lúc hai giờ sáng. Chúng tôi biết là sắp có biến cố nữa. Một số vệ binh đã chạy đến, âm thầm vây chung quanh trại (hồi này thưa thớt lắm vì đợt thả tù tháng trước). Ông thủ trưởng đến và trong tay ông cũng có một danh sách. Lần này, trong bóng tối, chúng tôi vẫn biết khuôn mặt của ông không (làm bộ) tươi cười như lần trước. Ông bắt đầu gọi tên và những người bị gọi tên lại thất thểu xách đồ đạc ra sắp hàng, đợi được chuyển sang trại khác. Anh Mai Quang Tuyến có tên trong danh sách này. Chúng tôi buồn bã nắm tay nhau thầm cầu chúc nhau bình an, may mắn.
Biến chuyển xảy ra dồn dập với trại chúng tôi. Phần thì được thả về, một phần lớn khác đã bị chuyển đi trại khác. Số nhỏ chúng tôi còn lại, ngao ngán nhìn nhau, mất hết tinh thần chống chọi với định mệnh.
Chỉ hai tuần sau, chúng tôi được lệnh dời trại, sát nhập với một trại khác cách đó khoảng một cây số. Chúng tôi rã rời, kéo lê lết đồ đạc, thúng mủng, chổi cùn rế rách dời trại. Khổ nhất là những anh đang bị thương, không tự đi được, lại phải nhờ chúng tôi cáng theo. Chúng tôi áp dụng chiến thuật chuyển quân của Vua Quang Trung. Hai người khỏe gánh một người bệnh. Cứ luân phiên nhau, mệt nhoài mà không nỡ bỏ nhau. Các anh em bị thương cũng cảm thấy không muốn phiền người khác, cứ nhấp nhổm, nhưng chúng tôi cứ phải ấn anh ấy xuống võng để chúng tôi tiếp tục cáng đi.
Các anh em ở trại cũ chạy ra tiếp đón chúng tôi, phụ tay khiêng vác những thứ lỉnh kỉnh chẳng đáng một đồng bạc “bác” Hồ nào nhưng không có nó thì cũng khốn. Được cái là trại này gần con đường đất đỏ mà các bà vợ chúng tôi hay đi xe đò ngang qua. Các bạn ở trại này cho biết ở phía bên trên con đường, họ cũng có cất một nhà thăm nuôi. Nghe cũng tỉnh lại được một chút.
Ở trại mới này, tôi quen được một anh bạn mới. Tên của anh là Nguyễn Vĩnh Linh. Anh bạn này rất đẹp trai, có râu quai nón, lông mày rậm, rất thích hút thuốc rê. Ước mơ của anh là một ngày nào đó, sang được đất Mỹ, anh ấy sẽ học nghề đạo diễn làm phim xi nê. Đẹp trai, không mơ đóng phim mà lại mơ làm đạo diễn. Anh nói, ngày xưa “moi” đâu có phải hút cái loại thuốc rởm này. Bây giờ, không những phải hút thuốc rê loại rẻ tiền mà còn phải quấn bằng bất cứ thứ giấy nào có được: từ giấy báo, giấy tập vở, có khi là lá chuối khô. Mùi giấy và thuốc khét lẹt. Anh chàng này trước đây học trường Tây nên dĩ nhiên là tiếng Pháp thì phải giỏi rồi. Anh khuyến khích tôi tập hút thuốc lá (trong trường hợp này là thuốc rê) vì đàn ông, con trai mà không hút thuốc lá thì không ra “dáng” đàn ông. Tôi nghe theo và muốn thử. Anh ấy cuốn cho tôi một điếu, chỉ tôi cách cầm điếu thuốc. Tôi cũng tập tành nhưng có lẽ trời không muốn tôi nghiện thuốc nên hút lần nào là sặc lần đó! Sau cùng, chúng tôi đành phải đầu hàng.
Bây giờ tôi có người bạn tri kỷ mới nên khi đi lao động, chúng tôi đi cặp với nhau và về buổi chiều ăn cơm chung với nhau. Trong suốt ngày lao động bên nhau, tôi tập lại khả năng sinh ngữ của tôi và nói hoàn toàn bằng tiếng Pháp với anh.
Thỉnh thoảng buổi tối, tôi cũng chỉ dẫn thêm Anh Văn cho những bạn muốn học. Ăng ten báo cáo lên trại những “hành vi” này của tôi. Trại cho gọi tôi lên, vặn hỏi tôi “có ý gì mà dạy tiếng nước ngoài cho bạn tù?” Tôi cũng thật thà nói hoàn cảnh đưa đẩy chứ không có ý gì hết. Ở trong này, ai có khiếu về môn gì thì chỉ dẫn cho anh em thôi. Ông thủ trưởng trại này hình như có họ với ông trại trưởng ở Long Khánh của chúng tôi. Ông nghe xong, chỉ nói tôi phải cẩn thận, đừng để anh em nghi ngờ điều gì.
Số phận tôi lại sang một khúc quanh mới. Trại cần một người biết sơn chữ và biết vẽ. Tôi lại tình nguyện. Từ hôm đó, tôi và Linh đi sang trại cán bộ, vẽ cho họ bảng hiệu Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân như tôi đã làm trước đây ở Trảng Lớn. Mỗi ngày lại có quyền tà tà, đủng đỉnh đi sang trại cán bộ, vẽ vời để câu giờ, khỏi phải vác rựa đi làm rừng. Lúc đó đã là năm 1979, hình như “nhà nước” có đợt bắt “nghĩa vụ quân sự” cho quân đội của họ. Nghe đâu, hình như mặt trận phía Nam với Campuchia cùng lúc với mặt trận phía Bắc với Trung Cộng đang đi vào giai đoạn quyết liệt. Bên trại của cán bộ xuất hiện mấy cô bộ đội mới. Rõ ràng mấy cô này là gái thành phố, trông ngượng nghịu trong bộ quần áo phát cho bộ đội rộng thùng thình. Trong những lúc (lấy cớ) nghỉ giải lao, chúng tôi mon men đến gần chỗ mấy cô tập dợt những động tác căn bản quân sự. Mấy ngày sau thì anh bạn Linh của tôi cũng đã bắt chuyện được với một cô. Cô bé này đang học trường Trưng Vương ở Sài Gòn. Bị bắt đi nghĩa vụ quân sự, ấm ức lắm nhưng không dám cãi lệnh, không dám trốn. Cô tâm sự thêm là cô hay bị các cán bộ ve vãn, tán tỉnh, có khi còn dọa nạt cô nữa. Các cô bạn khác trong nhóm cũng thường xuyên bị như vậy. Đáng thương thay cho cô gái tỉnh thành. Trong hoàn cảnh đất nước (và thành phố) đổi chủ, thân phận người dân bị hành hạ đê tiện.
Cô kể cho chúng tôi nghe những biến chuyển đau thương của thành phố: từ mấy đợt đánh “tư sản, mại bản” đến những đợt đổi tiền (tiền thật đổi thành tiền rác!), đến những đợt lùa thanh niên thiếu nữ đi làm công tác “thủy lợi” cho đến lúc họ cố tình chiếm nhà đất của dân, đuổi dân đi đến những nơi gọi là “vùng kinh tế mới”. Từ từ, người dân thành phố cũng tìm cách trốn về vì không thể sống nổi ở các vùng kinh tế mới này. Nhà nước chở dân đến những nơi “khỉ ho – cò gáy” thẩy xuống đó, ai sống được thì sống. Họ không cấp cho bất cứ một phương tiện nào để bắt đầu cuộc đời cơ cực mới. Thực chất chỉ là một hình thức cướp nhà dân cho hợp pháp mà thôi. Những chuyện này chúng tôi cũng được nghe lõm bõm từ các bà vợ nhưng không để ý lắm nên bây giờ nghe và biết được mới thấy chúng tôi có lý do chính đáng để căm hận bọn cộng sản này.
Chúng tôi vẫn tiếp tục với công việc vẽ vời cho họ. Chưa hoàn tất công việc này, họ lại cho biết là sẽ phân công làm việc mới. Dù vậy, cũng đỡ hơn là vác cuốc/rựa ra làm việc ngoài rừng. Tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Các cô tân binh cũng còn ở đây nhưng không tập “ắc ê” như lúc đầu. Cô Trang, cô học sinh Trưng Vương hôm nào – cũng ít có cơ hội ra nói chuyện với chúng tôi.
Một hôm, trong khi chúng tôi đang leo lên leo xuống, cố hoàn tất cái bảng hiệu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trên cổng chính vào trại cán bộ thì thấy một chiếc xe La Dalat đậu trước cổng trại. Chúng tôi ở trên cao nhìn xuống thì thấy một cặp vợ chồng tay xách nách mang, khệ nệ với những bịch nylon, có lẽ là quà cáp gì ở trong đó. Chỉ một chút xíu sau thì đã thấy cô Trang chạy ra, ôm lấy người đàn bà, có lẽ là người mẹ, khóc tức tưởi. Bà mẹ thương con quá cũng không cầm lòng nổi. Cô Trang đưa bố mẹ vào trong nhà tiếp tân của trại gần cổng chính. Cha mẹ tiếp cho con gái ăn uống và cứ ấn vào tay con những túi quà. Một vài cô bạn của Trang cũng xin được phép ra gặp bố mẹ của cô. Họ đã bớt cơn buồn. Tất cả ăn uống, cười nói tíu tít. Cô Trang chợt nhìn ra cổng, thấy chúng tôi, cô mới chợt nảy ra ý định mời chúng tôi vào ăn uống chung. Chúng tôi ngại ngần, chưa quyết định ngay thì cô Trang cứ kéo tay bạn Linh của tôi. Bố mẹ của Trang cũng là người Sài Gòn nên rất thông cảm với thân phận hiện tại của chúng tôi. Họ nhắc là chút xíu nữa, Trang chia cho chúng tôi một ít thức ăn.
Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn. Bố mẹ Trang ra về. Chúng tôi cũng trở về với công việc bỏ dở. Cô Trang để sẵn mấy bịch nylon đựng thức ăn cho chúng tôi ở dưới chân cổng ra vào.
Ba tuần sau, bạn Linh buồn buồn nói với tôi: Mai kia, có thể “moi” sẽ trốn theo Trang về thành phố. Sau đó muốn tới đâu thì tới. Hai người này cũng hay thật. Họ “phải lòng” nhau từ hồi nào mà bạn tôi cứ dấu biệt cho tới hôm nay. Tôi mừng cho bạn nhưng cũng lo vì cuộc phiêu lưu này có thể có những sự “cố” bất ngờ thì sao? Linh cho tôi biết là gia đình Trang có quan sát và thấy đường đi và về cũng dễ dàng. Họ bàn với nhau là Trang vẫn sẽ mặc bộ quân phục, làm như là đi công tác vậy thôi. Gia đình sẽ lên đón bằng xe nhà.
Ngày hẹn đã đến. Buổi tối hôm trước, Linh chuyển hết thức ăn và thuốc men còn lại cho tôi. Linh nhờ tôi chia cho mấy người bạn thân số chăn màn, quần áo của Linh khi Linh đã đi được trót lọt.
Ngày hôm đó, chúng tôi sang trại, đi làm như thường. Linh hôm đó mặc một cái quần ka ki và một cái áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt, trông đúng là người Sè Goòng! Chiều hôm đó, chúng tôi ngóng mãi mà vẫn chưa thấy xe nhà Trang lên tới nơi. Khoảng chiều gần tối, có lẽ lúc đó là hơn 5 giờ. Chúng tôi chuẩn bị gom góp đồ đạc ra về thì từ trong trại, cô Trang tất tả chạy ra, nói chúng tôi cứ về và cứ yên trí. Kế hoạch phải dời lại để bố mẹ Trang có thì giờ nghiên cứu kỹ hơn. Linh thì buồn lắm trong khi tôi thì lại vui vì vẫn còn người bạn thân bên cạnh. Tôi an ủi Linh:
– Biết đâu kế hoạch dời lại là chuyện tốt vì cái gì làm hấp tấp quá, không nghiên cứu kỹ, có thể có những sơ hở không lường trước được.
Hai chúng tôi về trại tù lại. Buổi chiều hôm đó chúng tôi cũng không thiết ăn uống. Cũng may là số quần áo, mùng mền chưa chuyển sang cho các bạn khác nên hôm nay, Linh vẫn còn có cái để dùng.
Chúng tôi sắp hoàn thành công tác vẽ cổng trại. Cả hai chúng tôi đều làm bộ tìm cách câu giờ để xem tình hình và chờ cơ hội. Trang vẫn tìm cách ra gặp chúng tôi thật nhanh, trao đổi mấy câu với Linh và lại biến mất. Giờ này, tôi để ý mới thấy khuôn mặt hai người rạng rỡ khi nhìn thấy nhau. Cô Trang có vẻ cũng trưởng thành, chín chắn hơn nhiều, không lúng túng trong bộ quần áo bộ đội rộng thùng thình của lần đầu chúng tôi gặp nhau. Các anh bộ đội khi đi ra vào cổng trại cũng có bắt gặp Trang và Linh nói chuyện với nhau nhưng không ai có thái độ gì (hay là họ dấu cảm tưởng hậm hực của họ – vì họ cũng có tán tỉnh nhưng bị Trang cự tuyệt?)
Chúng tôi (và Trang) cũng giữ thái độ tỉnh bơ. Trong hoàn cảnh này, người nào có vị trí của người ấy. Ai làm gì được ai? Buổi tối hôm đó, Linh lại nói nhỏ với tôi bằng tiếng Pháp: “Ngày mai có thể “moi” sẽ lên đường”. “Toi” ở lại cẩn thận và giữ gìn sức khỏe”.
Buổi tối, hình như cả hai chúng tôi đều không ngủ được. Sáng dậy, mắt cay sè mà cũng cứ phải làm thủ tục buổi sáng để xong rồi lê bước sang bên trại cán bộ. (Có thể trong tâm tư, Linh không nhìn căn trại cán bộ đáng căm ghét như tôi – vì trong ấy, dù thế nào cũng có người yêu của anh?)
Ngày làm việc cứ thế mà từ từ trôi qua. Hình như hôm nay thì giờ chạy chậm hơn những ngày khác!
Đến khoảng ba giờ chiều thì chiếc xe La Dalat hôm trước xuất hiện từ xa. Người lái xe hôm nay không phải là bố của Trang mà là một ông cán bộ, mặt mũi nghiêm trang (hay là trong bụng cũng đang đánh “lô tô” như chúng tôi?) từ từ cho xe ngừng lại. Cô Trang từ trong trại đi ra. Cô ra hiệu cho Linh tuột xuống đất, đi bộ về phía dưới trước. Cô lên xe và chiếc xe quay đầu chạy. Một chút xíu sau, tôi thấy dáng của Linh đã khuất tầm nhìn của tôi. Một ông cán bộ chạy về trại, vừa chạy vừa la: “Con Trang nó chạy mất rồi!” Một số cán bộ và vệ binh chạy ra hỏi dồn dập:
– Sao? Đồng chí nói gì? Con Trang nó chạy rồi là làm sao?
Người kia chỉ tay về phía cuối đường nói:
– Nó được người nhà đem xe lên đón, nó trốn mất rồi. Người đó nhìn thấy tôi mới nhớ ra là thằng tù vẫn làm việc với tôi tại cổng trại cũng leo lên chiếc xe đó. Mấy người kia xúm lại, vây chung quanh tôi. Tôi cũng làm bộ ngạc nhiên. Tôi nói với họ:
– Thằng bạn tôi nó nói nó cần xuống đi tiểu, tôi đâu có để ý. Bây giờ anh nói tôi mới biết là nó đi với con bé đó. Ngay sau đó, tôi đánh trống lảng: “hình như hai đứa nó là anh em ruột”.
Ông thủ trưởng nghe báo cáo cũng chạy ra trong khi tôi làm bộ thu xếp đồ nghề đi về. Ông đứng hỏi chuyện tôi một lúc. Tôi cũng lập lại câu nói lúc nãy với mấy ông cán bộ kia:
– Tôi có nghe thằng bạn tôi nó nói cô Trang là em ruột nó. Tôi đâu có ngờ là hai đứa nó rủ nhau đi. Hay là hai đứa đi đâu đó một chút rồi về? Nếu chiều nay nó về trại, tôi sẽ nói nó ngày mai sang xin lỗi anh sau.
Cả tháng sau, tôi không nghe trại nói là đã bắt được thằng tù đó lại. Một lần nữa tôi bắt gặp các ông thích “nổ”.
Ông thủ trưởng trại cũng không hề tỏ ra là phiền hà gì với tôi. Như vậy là tạm yên trí: Thằng bạn thân của tôi đã “không cánh mà vẫn bay được”. Tôi lại tuyển người mới đi công tác với tôi.
(Còn Tiếp)
