Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 67)

Ngôn ngữ Nói năng là ngôn ngữ: tự mình nói là “ngôn”. Đáp lại lời kẻ khác là “ngữ”. Sách có câu “Ngôn nhất thuyết ký xuất, tứ mã nan truy” nghĩa là “một lời nói ra bốn con ngựa chạy theo không kịp”. Nguồn gốc tiếng Việt III Trong quyển Nguồn Gốc Mã Lai

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 66)

Nghi vấn làng văn Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời có hai truyện Thả thơ và Đánh thơ rất gần với lối chơi Nhã Lệnh và Trù Lệnh của Trung Hoa (Cảo Thơm 1962 trang 61-100). Không biết có phải người mình bắt chước họ hay không? (Nguyễn Duy Chính – Ấm Nghi Hưng

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 65)

Nguồn gốc tiếng Việt I Dân tộc ta, với ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 64)

Tiếng Việt tiếng Tầu Người Việt gọi nôm na những “người nhiều chuyện” thì người Tầu kêu là “bát ông, bát bát”. Từ chữ “bát”, người Việt dùng chữ “tám” như “Bà này…tám quá”. Ý là tò mò. Người Tầu thích chữ “bát” vì tiếng Quảng Đông đọc là “pát”, nghĩa là “phát” đi với

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 63)

Văn học miền Nam (II) Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 62)

Chữ nghĩa làng văn Thứ nhất phạm phòng Thứ nhì lòng lợn. Xưa, có hai điều độc địa nhất là phạm phòng và lòng lợn. Phạm phòng là nhập phòng làm tình, thình lình bị đứng tim tắt thở. Tây y gọi là thượng mã phong. Muốn cứu chữa, phải kịp thời lấy kim chích

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 61)

Nghi vấn văn học về thành ngữ và thơ “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” , có tác giả cho là câu này của Minh Mạng ám chỉ đất Nghệ An của bà Hồ Xuân Hương. Đồng thời ngoài bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” với những câu “Yếm

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 60)

Giá sách cũ làng văn 1975-2010 Lớp nhà văn từ 70 tuổi trở lên… Những nhà văn còn sót lại của lớp tuổi trên 70 có thể đếm trên đầu ngón tay. Như Doãn Quốc Sĩ sau 1975, ở hải ngoại, ông cho xuất bản Mình lại soi mình (1981), Người vái tứ phương (1982),

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 59)

Chữ nghĩa làng văn Chính sự giao lưu giữa các nền văn hóa ở miền núi đã sản sinh ra những loại từ như “chó má“, “tre pheo“, “vườn tược“. “Chó”, “tre”, “vườn” là tiếng Việt, – “má” là tiếng chỉ “chó” của người Tày (to ma). – “pheo” và “tược” là tiếng chỉ “tre”

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 58)

Tiếng Việt dễ mà lại khó Em thấy sự khác nhau giữa các miền về phương ngữ, giọng nói, v.v… nói lên sự phong phú và là niềm tự hào về tiếng Việt. Chính vì cái diversity đó mà em rất yêu tiếng Việt. Sự thật mà nói thì mình thấy tiếng Việt giữa các

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 57)

Hạc nội mây ngàn Kiều có câu: “Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu”. Hạc ở ngoài đồng – Mây ở trên núi. Hạc nội mây ngàn chỉ những người không có trú quán nhất định. Chứ không phải theo nghĩa “cưỡi hạc về trời” như hay thường dùng qua văn truyện. Hò, hát

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 56)

Ai lên thú Lạng Ạ ời ơi… Thứ nhất thì bầu Chi Lăng Thứ hai cây khế Đồng Đăng Kỳ Lừa Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu, nắm nem

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ