Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 44)

A Di Đà Phật Trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Thỉnh ông Phật tổ A-Di”. “A” có nghĩa là vô. “Di Đà” có nghĩa là lượng. A Di Đà Phật là tiếng Phạn, là lời niệm mong khi tịch được trở về cõi cực lạc (nguyên nghĩa “vô lượng thọ

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 43)

Lúa Chiêm Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè, thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông, xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 42)

  Chữ “tua rua” trong tiếng Việt cổ Một câu ca dao khác có từ thời cổ xưa mà nguồn từ tộc Nam Dương hay Mã Lai cổ mà nhiều nhà nhân chủng học cho là có liên hệ đến chủng tộc Việt: Bao giờ thấy vỏ thị rơi Tua rua quặt xuống thì thôi

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 41)

Văn hóa du mục Văn hóa Việt từ thời nhà Lê sau này lấy Nho giáo làm quốc giáo. Trong đó có tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” với “nam tôn nữ ti”, hay “dương…thiện âm…ác”. Ác hơn nữa là văn hóa du mục Tầu sang nước ta, các cụ ta

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 40)

  Tiếng Việt sao lắt léo thế Về cách biến thể của những câu nói, chỉ cần ngắt câu thì những câu không giống nhau : Đàn bà không có đàn ông, là con số không Đàn bà không có đàn ông là con số không Đàn bà không, có đàn ông, là con số

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 39)

Giá sách cũ Nhóm Bách Khoa chọn tòa soạn ở đường Phan Ðình Phùng do nhà văn Huỳnh Văn Lang sáng lập. Sau giao toàn quyền việc điều hành cho ông Lê Ngộ Châu. Ông Châu không phải là nhà văn, cũng không hề là nhà báo. Nhưng ông Lê Ngộ Châu là người có

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 38)

Chữ “Việt” theo “Tầu” Khi có chữ viết thì người Tầu dùng phép tượng hình. Để chỉ người Việt, vì người Việt dùng cái rìu làm vũ khí. Họ viết “chữ Việt nguyên thủy” gồm có: Một nét ngang dài tượng hình cho cái cán. Dưới có một cái móc xéo tượng hình cho lưỡi

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 37)

  Chữ nghĩa thập niên 20 Trùng dương – Trùng dương là ngày mùng chín, theo tục xưa thi nhân lên núi cao, cắm hoa phù du, uống rượu cúc và làm thơ. Thu hứng – Trong làng văn, các cụ nhà nho rủ nhau lên núi uống rượu, làm thơ, ấy là thu hứng.

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 36)

  Truyện cực ngắn – Chiến tranh Ði lính hơn ba năm, hắn khoe hắn đã bắn chết đúng tám tên địch. Sang Úc, mỗi lần nhậu ngà ngà, hắn lại khoe khoang thành tích ấy. Bạn bè hắn không tin. Hắn cởi áo và xắn quần lên khoe: trên lưng và dưới chân hắn

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 35)

Nữ nhà báo đầu tiên Nữ sĩ Manh Manh Nguyễn Thị Kiêm là nhà báo nữ đầu tiên với tờ Lục Tỉnh Tân Văn vào những năm 1930-1934, ngoài ra bà còn viết truyện và làm thơ. (Nguyễn Công Khanh – Lịch sử báo chí Sài Gòn) Truyện cực ngắn – Con vụ Có một

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 34)

  Tiếng và chiếc Bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế được cụ Tản Đà phóng tác thành thơ: Trăng tà tiếng quạ kêu sương Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San Theo ngâm sĩ Hồ Điệp thì “Trăng

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 33)

Tiếng Việt mới tại Đông Âu Soái, bưởng : Ám chỉ những chủ hàng người Việt ở Nga, Ba Lan. Xù : Từ người Việt ở Tiệp dùng tự chỉ mình. Bàn rơi : Nói đưa đẩy, không thật lòng. Đi Puskin : Chương trình bổ túc tiếng Nga cho cán bộ chuyên ngành trước

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ