Câu đối chiết tự
Chiết: bẻ gãy, phân tách. Tự: chữ. Là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.
Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con nấy?
Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này?
(nguồn Wikipedia)
Lục đề, bát thuyết!
Thử đọc mấy câu thơ mở đầu Truyện Kiều:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”
Người ta không thể tách riêng hai câu lục ra khỏi văn cảnh của nó: nó không có ý nghĩa và không thể tự tại. Nó phải gắn liền với câu bát kế tiếp. Mà đây cũng là đặc điểm chung của các bài thơ lục bát, ở đó, câu lục thường đóng vai trò một gợi mở, một đẩy đưa, một giới thiệu; chính câu bát mới có chức năng chuyên chở nội dung thông báo.
(Nguyễn Hưng Quốc – Nghĩ về thơ)
Chữ nghĩa làng văn
Cánh: từ cánh trong tiếng Việt thường để chỉ những vật có đôi, đối xứng nhau: cánh cửa, cánh tay, cánh đồng (làng ở giữa, có cánh đồng trước cánh đồng sau..v..v..).
Văn học miền Nam (VIII)
Thụy Khuê: Theo anh, nếu đưa được trở lại với đời sống, đâu là những khía cạnh mà nền Văn học miền Nam có thể giúp ích ngay cho sinh hoạt văn học trong nước?
Vương Trí Nhàn: Nhìn chung, tất cả những phần đóng góp của Văn học miền Nam đối với nền văn học dân tộc, đều là những bài học quý báu cho việc xây dựng nền văn nghệ của chúng ta. Tôi chỉ nói ở đây một điểm là việc xây dựng ngôn ngữ văn học. Hiện nay trong đời sống Hà Nội, ngôn ngữ giao tiếp thông thường… rất kinh khủng. Hôm nọ có người viết bài về việc đang có cuộc xâm lăng ngôn ngữ, từ tiếng Anh, đến tiếng Hán xâm nhập vào tiếng Việt một cách lộn ẩu, và ngay cả ngôn ngữ trong tay những người người cầm bút hiện nay nhiều khi cũng hết sức lộn xộn, nhếch nhác, lâu lắm không có người viết văn hay.
Trong lúc đó, tôi đọc lại Văn học miền Nam, với những ngòi bút bậc thầy, thấy ở phần hay nhất của mình, Mai Thảo Võ Phiến, mỗi người có giọng văn riêng, mỗi người một vẻ song đều đậm chất văn học, đều có cái dáng vẻ hiện đại và hé lộ cho thấy một đời sống tinh thần không thể có ở thời tiền chiến được. Rồi nhiều nhà văn khác, như Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng, Y Uyên, Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam, v.v… sau này là Ngụy Ngữ, Trần Thị Ngh. văn xuôi của họ, đều là những thể nghiệm ngôn ngữ thu góp được cả cái mạnh của tiếng nói Hà Nội, cả cái mạnh của miền Trung và Sàigòn lục tỉnh.
Trước 75, nhiều người đã nói tới một số nhà văn di cư, họ cùng đóng góp đưa cho ngôn ngữ văn học của Văn học miền Nam lên trình độ một mực thước một cái chuẩn. Với tư cách một người từ Hà Nội nhìn vào, tôi thấy hai mạch ngôn ngữ đó trong những nhà văn xuất sắc được kết hợp nhuần nhụy, đến bây giờ bọn tôi vẫn có thể trông vào đó để học hỏi. Hoặc trong việc dịch những tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt, cách xử lý tiếng Việt của các dịch giả, tôi thấy đó là điều bọn tôi phải nể và phải tiếp nhận họ và trước tiên phải công nhận những đóng góp của họ.
(Thụy Khuê: Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn)
Có bát sứ tình phụ bát đàn
Bát đàn là bát nặn bằng sành tráng men, coi thô xấu hơn bát sứ.
Bát sứ là bát nặn bằng đất sét trắng, tráng men tàu, coi nhẹ nhàng thanh nhã.
Có bát sứ tình phụ bát đàn là có bát đẹp bỏ quên bát xấu. Người ta thường mượn câu này để chê người ăn ở không thủy chung, có mới nới cũ, tham thanh chuộng lạ quên cả nghĩa cũ tình xưa.
Ca dao lơ mơ lỗ mỗ
Khách qua sông hỏi cô lái đò:
Sông này sâu cạn thế nào
Lại đây anh thả con sào hỡi em
Cô lái đò trả lời:
Sông này chỗ cạn chỗ sâu
Sa chân thì ngập cả đầu đó anh!
Giai thoại: Cô Tư Hồng (*)
Câu đối xưa của cụ Nguyễn Khuyến viết về cô Tư Hồng là người cùng quê Phủ Lý, Hà Nam với cụ Tam Nguyên: Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh – Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.
(Tư Hồng tên thật là Trần thị Lan. Hồng là tên của người chồng đầu tiên, người Tầu ở Hải Phòng. Tư là chức vụ của người chồng Tây thứ hai: “Quan tư” Croibier Huguet. Tên Tư Hồng danh tiếng Hà thành từ đó mà ra. (Có nguồn cho là Croibier Huguet là cố đạo phá giới, nên được gọi là cố Hồng).
Cô Tư Hồng đã nhận đứng thầu phá nốt những mảnh tường còn lại ở thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có . Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được người Pháp đề nghị với triều đình ta cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc . Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, có người mừng câu đối:
Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh tiếng của bà to
Chữ nghĩa dân gian!
“Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo”…nghĩa là gì? Cụ nào hanh thông mách dùm, xin cám ơn.
Văn hóa cà phê
Nhưng, “văn hóa cà phê” là gì ?
Để “nắm bắt” được khái niệm mơ hồ ấy, rất đơn giản. Một buổi sáng đầu thu nhàn rỗi nào đó, với chút không khí se lạnh đầu ngày, bạn mở cửa bước vào một nhà sách quen thuộc (Barnes & Noble chẳng hạn). Điều đầu tiên bạn chú ý là mùi cà phê ngào ngạt “quánh” lại giữa không gian của tiệm. Đó là quán cà phê mang cái tên khá quen thuộc với người Mỹ : Starbuck hay có thể là một cái tên nào khác. Điểm chính là một quán cà phê nằm ngay trong tiệm sách. Khách đến mua sách có thể cầm vài quyển sách, ngồi xuống một góc bàn, mua ly cà phê, vừa nhâm nhi vừa say mê trên những trang sách thánh hiền. Cà phê và sách vở. Hai thứ ấy thường đi chung với nhau.
Từ năm 1983, nước Mỹ đã xuất hiện hệ thống tiệm cà phê Starbuck, nó trở thành hiện tượng “văn hóa” đáng chú ý không những chỉ ở nước Mỹ, mà còn ở các quốc gia có “nền văn hóa cà phê” lâu đời ở châu Âu. “Rót cả tâm hồn vào đáy cốc” từ nhan đề quyển sách viết bởi người sáng lập nên hệ thống cà phê Starbuck: Pour Your Heart into It. Đó là triết lý chảy qua từng giọt cà phê Starbuck sóng sánh. Thứ triết lý đi từ đáy cốc đến từng tế bào não bộ của khách mộ điệu đứng xếp hàng mỗi buổi sáng trước quầy cà phê Starbuck có mặt từ thành phố Wichita nhỏ bé ở một tiểu bang nông nghiệp quê mùa của nước Mỹ đến những khu phố tráng lệ của Nữu Ước, sang trọng của Seattle, cổ kính của Boston, đến cả thủ đô Paris, cái nôi của văn hóa châu Âu, thành trì kiêu hãnh một thời của giới trí thức châu Âu.
Nói cách khác, cà phê, ngòai tính cách “văn hóa” còn đóng vai trò tác động vào lối sống. Nó có thể làm trì trệ thêm lối sống vốn đã trì trệ của một số người, như ly cà phê Starbuck và lối sống Mỹ.
(T.Vấn – Văn hóa cà phê)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ (I)
“Có chân mà chẳng có tay. Có hai con mắt ăn mày thế gian”
Đố là con gì?
Trả lời: đó là…con gà
Viếng người làng (*)
Vừa mới họp việc làng, mặc áo địa, cầm quạt lông, đủng đỉnh coi như ra dáng nhỉ;
Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, viếng thăm thì đã đứt đuôi rồi
(*) Nguyễn Khuyến viếng ông kỳ mục trong làng đi tắm chết đuối .
Giá sách cũ làng văn 1975-2010
Những nhà văn lớp tuổi từ 45-60
Ðó là Ðặng Thơ Thơ với Khi phong linh vỡ. Khánh Trường với Chỗ tiếp giáp với cánh đồng, Có yêu em không, Buồn ơi, tôi bỏ tôi chìm đắm. Lê Minh Hà với Trăng góa, Gió biếc, Thương thế, ngày xưa. Lê Thị Huệ với Rồng rắn, Văn hoá trì trệ nhìn từ Hà Nội, đầu thế kỷ 21. Lê Thị Thấm Vân với Xứ nắng, Mùa trăng, Âm vọng. Nguyễn Thị Thảo An với Bức phù điêu chắc cạn. Phan Thị Trọng Tuyến với Mùa hè, Một nơi khác, Một trang đời. Trần Vũ với Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu, Cái chết sau quá khứ..v..v...
Nhận xét chung về những nhà văn lớp tuổi này là họ gần như mỗi nhà văn, mỗi cách thể hiện, độc đáo và khác người. Chẳng hạn như trong Tôi, Anna và Thu của Nguyễn Danh Bằng, người đọc nhận thấy có điều gì đặc biệt trong câu chuyện, trong nhân vật, nội dung truyện mà chưa bao giờ tôi có cảm nghiệm được. Cũng như thế trong truyện Hai công dụng mới của máy sấy tóc của Phan Nhiên Hạo, câu chuyện xây dựng trên những tình tiết làm người đọc ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Nhà văn Nam Dao đã giới thiệu Thời hậu chiến, nhiều lúc đọc mà cảm thấy hụt hẫng, sút chân không theo kịp, không nắm bắt được tác giả. Ðọc Ðêm nghi ngại của Cổ Ngư, chẳng khác gì người đi trong đêm, không tìm được lối ra. Các tình tiết câu truyện xoắn sít vào nhau như những mảnh rời nối kết lại một cách rời rạc không thuận lý?
Tình trạng xa cách giữa lớp người đọc cũ và những nhà văn mới, có giống cảnh quan những con người đứng nhìn vào một hang động và chỉ thấy chiếc bóng mình không rút chân ra được của lớp người di tản trước? Bấy nhiêu câu hỏi để tự tra vấn chính mình vẫn chưa có lời giải đáp.
(Hiện trạng lão hóa nơi các nhà văn Hải ngoại)
Truyện cực ngắn
Một hay hai năm sau khi sang Mỹ, tôi có đọc tựa đề của hai cuốn phim trong báo của miền Bắc mà khi vừa đọc xong, tôi chưng hửng không biết nghĩa là gì: “Thép đã tôi thế đấy” (Phim Nga) và “Đến hẹn lại lên”. Phải mất nhiều phút suy nghĩ tôi mới đoán ra chữ “tôi” ở đây như nghĩa của chữ “tôi luyện”: “Thép đã tôi thế đấy” có nghĩa là “thép đã nung đúc đến độ bền cứng như thế”, ám chỉ một người đã trải qua bao gian nan thử thách khó khăn, nay trở thành vững chắc.
Còn “Đến hẹn lại lên”, thoạt nghe như tựa đề một chuyện phim X-rated, có nghĩa là phấn khởi khi gặp nhau!
Tiếng Việt cổ
Chuốc: rót rượu
Gồng: gánh (sau mới có chữ khiêng)
Tiếng Việt dễ và…dễ thương
Câu đối miệt vườn
Đọc cái này giải sầu các bạn, lượm trên mạng đấy :
Con bò cạp cạp con bò cạp, cạp rồi lại bò, bò rồi lại cạp.
Con tắc kè kè con tắc kè, kè xong rồi tắc, tắc xong rồi kè
***
Anh tiểu thương thương chị tiểu thương, thương rồi lại tiểu, tiểu rồi lại thương.
Anh bán thịt “thịt” chị bán thịt, “thịt” rồi lại bán, bán rồi lại “thịt”
***
Con gà đá đá con gà đá, đá xong rồi gà, gà xong rồi đá.
Chàng Chim Chích Chích chị Chim Chích, chích chán chơi chim, chim chán chơi chích
(Nguồn ĐatViet.com)
Tiếng Bắc, tiếng Nam
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam kêu: muốn ói! Bắc bảo: buồn nôn!
Độc âm
Tiếng Việt đa số là độc âm, nên để diễn tả một đôi khi phải dùng đến từ ghép. Như “bóng+em = bóng em”:
“Bóng cam, bóng quýt sau nhà – Bóng trăng rọi lại, anh tưởng là bóng em”.
Và nhiều tiếng, mang tính phản nghĩa, được ghép với nhau thành âm kép. Như “khen chê”, “khó dễ”, “đêm ngày”:
“Em mong thấy mặt em chào – Vắng anh em những khát khao đêm ngày”
(Nguyễn Hữu Nhật – Tiếng Việt hay quá)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
“Nàng” rằng “Nàng” chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu “ấy” dai đau “Nàng”
Con cá đánh ngã bát cơm
Đánh ngã là đánh đổ, đây nghĩa là ăn hết bát cơm.
Con cá đánh ngã bát cơm – Có con cá làm thức ăn, nên ăn hết được bát cơm.
Câu này đại ý nói có thức ăn ngon thì ăn được cơm, không có thức ăn ngon thì cơm bỏ ế.
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2024
