Phố Cổ Hà Nội – Ảnh: https://www.traveloka.com/
Hà Nội trong mắt người trí thức
ĐT: Còn văn hiến Thăng Long, thưa giáo sư, chúng ta phải hình dung thế nào về nó?
NHC: Muốn hình dung cái gọi là văn hiến Thăng Long thì trước hết phải hiểu “văn hiến” là gì. Hiểu thật vắn tắt thì “văn hiến” bao gồm hai thành tố là điển tịch và hiền tài. Đó là hai thành tố không tách rời nhau, làm nên bộ mặt văn hóa của một nước.
Thăng Long để lại một truyền thống văn chương sách vở không kém phong phú, mặc dầu trải qua các biến cố lịch sử cũng bị mất mát nhiều. Còn hiền tài thì đương nhiên Thăng Long đời nào cũng có. Không thế đã không có mấy chữ “sĩ phu Bắc Hà”.
(phỏng vấn Gs Nguyễn Huệ Chi – Đào Tuấn)
***
Hàng Cỏ ở đường Hàng Lọng (nhà gã đây) – tác giả Đỗ Văn Minh
Khu buôn bán chính của Hà Nội tập trung ở phiá đông bắc thành phố nơi có hồ Hoàn Kiếm là một di tích lịch sử. Hồ nằm dài theo hướng bắc nam, song song với sông Hồng và cách sông Hồng chừng gần 1 cây số, phía bắc rộng hơn một chút và tiếp giáp với khu phố cổ hay khu phố “Ta”, phía nam hẹp hơn và tiếp giáp với khu phố “Tây”.
***
Sự tích phủ Tây Hồ
Bên bờ phía đông của hồ Tây có một doi đất ăn lạn ra hồ như một bán đảo. Bán đảo đó là làng Tây Hồ, một làng cổ của kinh thành Thăng Long.
Ở đầu làng sát ngay mép nước có một ngôi đền thờ bà Liễu Hạnh, một nhân vật có thật sống vào thế kỷ XVII nhưng được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu. Những nơi thờ mẫu gọi là đền, nhưng đặc biệt những nơi có liên quan mật thiết đến mẫu Liễu Hạnh (nơi sinh, nơi hiển thánh) thì gọi là phủ.
Phủ Tây Hồ được dựng theo một truyền thuyết.
Vào khoảng đầu thế kỷ XVII, ông Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) trong một buổi cùng hai người bạn là cử nhân họ Lý và tú tài họ Ngô chơi hồ Tây bỗng gặp một cô gái xinh đẹp. Họ trò chuyện với nhau và cùng nhau làm thơ. Đến khi Trạng Bùng hỏi tên tuổi nữ thi sĩ thì cô kia mỉm cười đọc một bài thơ rồi biến mất. Phân tích bài thơ, Phùng nhận ra đó là thánh Liễu Hạnh. Dân làng Tây Hồ mới nhân câu chuyện đó lập một ngôi phủ để thờ bà.
***
Hà Nội: 1948-1954, những năm tháng cũ
Còn phải kể thêm mấy nhân vật Hồ Gươm mà các học sinh chúng tôi của những năm đầu thập niên 1950 chắc không sao quên được.
Nhân vật đầu tiên là Mụ Béo với quán giải khát cũng mang tên “Mụ Béo” ở đầu đường Lê Thái Tổ gần xế với nhà Thủy Tạ phía bên kia đường. Đặc biệt nữa là Mụ Béo có cô con gái cũng có tướng tá dáng bộ giống gần như mẹ, thường thấy đứng bán hàng. Quán Mụ Béo vào đầu thiên niên kỷ mới đã được du khách ngoại quốc biết đến tên tuổi. Có một bài viết về Hà Nội của một ký giả ngoại quốc nào đó đã nhắc đến cái tên gọi là “The Fat Lady”. Có lẽ đây phải là bà Jr Fat Lady nối nghề của mẹ chứ cụ Sr Fat Lady tới năm tháng này hẳn đã quy ẩn trong tuổi xế chiều, hoặc không còn trên cõi đời này nữa.
Kế đó là anh Tàu bán thịt bò khô mà địa điểm hành nghề gần quán Mụ Béo ở phía nam bên dưới và xa xa về hướng đông nam là khu đền Ngọc Sơn cây cối um tùm. Anh Tàu này có thân hình cao và gầy guộc, lúc nào cũng bận bộ áo cánh quần dài màu đen. Anh ta bán mỗi đĩa một đồng, thịt bò khô trộn với đu đủ bào mỏng pha với một thứ nước mắm chua ngọt cay cay. Hầu như lúc nào cũng có hai ba người, phần lớn là học sinh, đứng chung quanh, ăn xong xuống quán Mụ Béo ngồi ngắm phố phường, uống cốc nước chanh đá thì tưởng không gì thú vị cho bằng.
Cuối cùng là ông Tàu già bán lạc rang, còn gọi là phá-xa, mùa hè cũng như mùa đông, lúc nào cũng quanh quẩn ở bên tháp Hòa Phong. Ông Tàu này già hơn và mập mạp hơn anh Tàu bán thịt bò khô, đeo trước bụng một cái thùng thiếc có bao quanh bằng một lớp vải bông để ủ giữ cho lạc lúc nào cũng ấm. Cũng với giá một đồng một múc bằng cỡ một vốc nắm tay, cái thứ lạc trộn húng lìu được rang lên, hột lạc tròn và đều nhai dòn tan. Vào những chiều đông lạnh, ông Tàu già này đứng tránh gió trong lòng tháp, nhưng khách hàng quen thuộc vẫn biết để dễ dàng tìm ra.
Năm 1957, ở Sài Gòn, một lần tôi trông thấy ông Tàu già bán lạc rang này đang lang thang trên đường Lê Văn Duyệt trông sang cửa vườn hoa Tao Đàn phía bên kia đường. Không thấy ông đeo cái thùng thiếc trước bụng nữa, và trong Nam trời nóng quanh năm, hẳn ông không còn bán thứ quà chỉ thích hợp với khí hậu Hà Nội thôi. Tôi không bao giờ gặp lại ông Tàu gìa này nữa, cũng như không còn thấy lại anh Tàu bán thịt bò khô mà tôi đã ăn không biết bao nhiêu lần! Tôi không khỏi ngậm ngùi mỗi khi nghĩ đến
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên)
(Đỗ Văn Minh)
***
Phố Hàng Lọng được xây dựng trên nền đất thuộc các thôn: Vĩnh Xương, Nam Môn, Hoa Ngư, Tứ Mỹ. Thời Pháp gọi là đường Quan Lộ. Đến thế kỉ XIX, thôn Nam Môn Thụy Hoa Ngừ đổi thành thôn Nam Ngư.
Lúc này Ga Hàng Cỏ đã tương đối hoàn chỉnh và bề thế, một điểm nhấn kiến trúc quan trọng của thành phố, tuyến đường đã được rải đường.
***
Tên phố nhà Nguyễn
Các tên phố và tên vườn hoa khác đều được bác sĩ Trần Văn Lai đặt lại. Sau đó, hơn một năm đầu Hà Nội Tổng khởi nghĩa (19/8/1954 – 19/12/1946), chính quyền cách mạng đặt lại tên phố, chủ yếu là xóa các tên vua quan và các tay sai thời nhà Nguyễn.
Rồi Hà Nội bước vào thời kỳ kháng chiến toàn quốc chiếm lại Hà Nội (1947-1954), cũng chỉ đổi một số tên phố. Lập lại phố có tên vua nhà Nguyễn, như phố Gia Long…
Từ 1954, khoảng 10 năm đầu (1954-1964) Sở văn hóa đã thành lập “Ban tên phố” đặt lại một số tên phố. Bỏ tên phố mang tên vua quan thời Nguyễn, đặt mới một số tên tượng trưng truyền thống, sự kiện lịch sử và cách mạng (các phố và đường Hùng Vương, Trần Phú, Hoàng Hoa Thám, Bắc Sơn, Điện Biên Phủ…). Ngoài ra, hầu hết những phố khác vẫn do tên phố từ tháng ba 1945 của bác sĩ Trần Văn Lai.
(trích “Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè” – Tô Hòai)
***
Chùa Phật Tích
Vùng đồi núi Lạn Kha, ngoài chùa Phật Tích ra, còn có nhiều di tích của những huyền thoại khác trong các địa danh Lạn Kha, Tiên Du. Lạn Kha ghi lại truyền tích của một nhân vật tên là Vương Chất lên núi đốn củi đã gặp hai vị tiên, rồi cùng nhau đánh cờ. Say mê đánh cờ mãi, đến nổi cán búa đã bị rỉ sét mà không hay
(Lạn Kha có nghĩa là cây búa rỉ sét).
Còn Tiên Du là nơi viên tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn đã gặp một nàng tiên tên là Giáng Tiên. Nàng bị bắt trói vì tội hái trộm hoa và Từ Thức đã xin tha cho nàng tiên nữ. Về sau, Từ Thức đã rủ áo từ quan, đi du ngoạn khắp các danh lam thắng cảnh, đến vùng bể Thần Phù thì gặp lại nàng Giáng Tiên: Lênh đênh qua bể Thần Phù, Sớm tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
***
Cổng tam quan của chùa Láng theo kiểu cung điện của mô thức kiến trúc của cổng vương phủ triều Nguyễn: phía trước có một dãy hàng cột trụ biểu, xây bằng gạch có gắn những mãnh sành sứ. Cổng có ba mái cong lên, theo kiểu cấu trúc Maya của nghệ thuật Chiêm Thành trước đây.
chùa Láng tọa lạc cách Hà Nội chừng bảy cây số về hướng tây.
***
Hội An
Một phần vì chúa Nguyễn Phúc Chu di dân từ Huế mà đa số người Kẻ Chợ (Đông Đô) và đất Thanh (Tây Đô) vào Quảng Nam.
Vì vậy Hội An có những ngôi nhà cổ kính hao hao giống phố Chả Cá, Hàng Vải Thâm, Hàng Bạc ở Hà Nội.
(Quảng Nam hay cãi – Trần Gia Phụng)
***
Quảng Nam
Một phần vì chúa Nguyễn Phúc Chu di dân từ Huế mà đa số người Kẻ Chợ (Đông Đô) và đất Thanh (Tây Đô) vào Quảng Nam
Một phần vì ảnh hưởng của sông núi, Quảng Nam xưa vốn là linh địa của người Chàm (Amavati – Trà Kiệu là kinh đô của họ trước thế kỷ VIII). Thế nên đất này là đất địa linh nhân kiệt có nhiều nhân tài, khoa bảng, văn nhân thi sĩ.
(Quảng Nam hay cãi – Trần Gia Phụng)
—
Chữ là nghĩa với địa danh
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được gọi là chúa Sãi vì nhà chúa ăn chay và mặc quần áo như một thiền sư.
Chúa lập ra ngôi chợ ở phía đông Ái Tử, dân tình gọi là chợ Sãi.
NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)
