ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 335)

Chữ và nghĩa Bạt chữ Hán có hai nghĩa: rút lên, nhẩy qua. Cũng có nghĩa là đoạn viết sau một cuốn sách. Giai thoại làng văn Tô Hoài đặc biệt rất chú ý học chữ. Ông chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 334)

Tiếng Nam… Vào đến trong Nam, tuy không nói ngọng phụ âm đầu từ, song họ lại nói trại phụ âm đầu từ. Cũng như đọc trại những mẫu âm, thay dấu làm thay đổi giọng nói, như: “Nè, ăn Hai, tui qua đây là có chiện”. Hay: “Mèng đéc ơi, thằng chả thiệt dô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 333)

 “m” Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt biểu thị một cái gì đó. Như phụ âm “m”, hàm ý nghe rất…êm dịu, thỏai mái, như: Mịn màng, mềm mại, mượt mà, man mát, mơn mởn..v..v.. (Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn) Xạo luận vui về chữ “Tử”  Chết

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 332)

Về bài Hồ Trường Hồ trường, chữ “hồ” thuộc bộ sĩ nghĩa là cái bầu, bình đựng nước hay rượu. Chữ “trường”, Tầu đọc là “thương”, thuộc bộ giác nghĩa là chén đựng rượu. Trong văn học VN đầu thế kỷ hai mươi có một bài thơ đăng trên Nam Phong tạp chí và ngay

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 331)

Đơn vị đo lường Tiếng Việt tuân thủ cách viết SI (tiêu chuẩn quốc tế). Dấu phẩy (,) dùng để phân chia phần số nguyên với phần số lẻ. (thí dụ, “ông ta cao 1,60 m) Dấu chấm (.) dùng để góp từng ba chữ số trong phần số nguyên cho dễ đọc. (thí dụ, “dân số

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 330)

Chữ nghĩa làng văn III Cầm thử bất cứ một cuốn đặc san nào đó xuất bản ở hải ngoại mà xem. Khỏi cần coi kỹ, chỉ cần đọc tựa của mấy bài viết không thôi là cũng đủ thấy ngậm ngùi, xót dạ và buồn rầu quá cỡ: Quê xưa – chốn cũ, thầy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 329)

Tiếng Việt cổ Một số chữ Việt có âm đầu “ph”, ngày xưa người Việt đọc là “b“. “Phòng” đọc theo âm tiền Hán Việt là “buông”, từ buông là buồng. “Buồng” nay thành “phòng”. “Phiền” (toái) là buồn, “phọc” là buộc..v..v. (Nguyễn Ngọc San – Cơ sở ngữ văn Hán Nôm). Nguồn gốc tiếng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 328)

A Di Đà Phật Trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Thỉnh ông Phật tổ A-Di Đà”. “A” có nghĩa là vô. “Di Đà” có nghĩa là lượng. A Di Đà Phật là tiếng Phạn, là lời niệm mong khi viên tịch được trở về cõi cực lạc (nguyên nghĩa “vô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 326)

Chữ nghĩa làng văn Hôn phu hôn thê: “Hôn” là cưới, “phu” là chồng, “thê” là vợ. Trong chữ “phu” và chữ “thê” đã có nghĩa của chữ “hôn” rồi, cho nên gọi “hôn phu” và “hôn thê” là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi “hôn lễ” (lễ cưới), “hôn phối”

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 325)

Thiền ngôn Ra đời hai tay trắng,  Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy, Túi đời như mây bay…  Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Trăng hôm nay cao quá, Anh muốn hôn vào má. Trăng hôm nay cao tít, Anh muốn hôn vào…Trăng hôm nay mới nhú, Anh muốn hôn vào… 1955 tuần báo Người

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 324)

Nguồn gốc tiếng Việt I  Dân tộc ta, với ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 323)

Văn hóa du mục Văn hóa Việt từ thời nhà Lê sau này lấy Nho giáo làm quốc giáo. Trong đó có tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” với “nam tôn nữ ti”, hay “dương…thiện âm…ác”. Ác hơn nữa là văn hóa du mục Tầu sang nước ta, các cụ ta

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ