ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 322)

Những câu đối hay Nguyễn Tử Mẫn, thường được gọi là Huyện Hiệp Hoà, sinh năm 1820 và mất năm 1901, có một câu đối: Sáng sáng ăn sáng rồi, cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài trương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay, giắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 321)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ…Nay con cháu mai sau đời sau chế tác “lung tung, trống kèn” những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ : • Trăm năm bia đá cũng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 318)

Giá sách cũ Nhóm Bách Khoa chọn tòa soạn ở đường Phan Ðình Phùng do nhà văn Huỳnh Văn Lang sáng lập. Sau giao toàn quyền việc điều hành cho ông Lê Ngộ Châu. Ông Châu không phải là nhà văn, cũng không hề là nhà báo. Nhưng ông Lê Ngô Châu là người có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 317)

Giai thoại làng văn Theo sách Dã sử của Hoài Sơn chép thì năm Gia Long 1819, Minh Mệnh lúc đó là đông cung thái tử, một buổi trưa hè nằm ngủ ở hồ Tĩnh Tâm, mơ thấy một người học trò tên là Giả. Người ấy đội mũ cỏ, cầm một cây gậy đâm

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 316)

Giai thoại làng văn Theo sách Dã sử của Hoài Sơn chép thì năm Gia Long 1819, Minh Mệnh lúc đó là đông cung thái tử, một buổi trưa hè nằm ngủ ở hồ Tĩnh Tâm, mơ thấy một người học trò tên là Giả. Người ấy đội mũ cỏ, cầm một cây gậy đâm

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 315)

Chữ nghĩa làng văn Truyện dài đã xuất hiện trước thời gian có hình thức truyện dài hiện đại khá lâu, dưới dạng truyện thơ Nôm như Trê Cóc, Phan Trần, Hoa Tiên, Nhị Ðộ Mai, Ðoạn Trường Tân Thanh… Có thể nói dân tộc Việt Nam đã thấm nhuần không khí truyện dài từ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 313)

Nghi vấn văn học về thành ngữ và thơ “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” , có tác giả cho là câu này của Minh Mạng ám chỉ đất Nghệ An của bà Hồ Xuân Hương.Đồng thời ngoài bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” với những câu “Yếm đào

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 312)

Chữ nghĩa thập niên 20 Trùng dương – Trùng dương là ngày mùng chín, theo tục xưa thi nhân lên núi cao, cắm hoa phù du, uống rượu cúc và làm thơ. Thu hứng – Trong làng văn, các cụ nhà nho rủ nhau lên núi uống rượu, làm thơ. Vả lại mùa thu, phong

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 310)

Chữ nghĩa máy vi tính Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, chuyện dân gian được nhặt nhặn trên internet… Theo trung tâm dự báo thời tiết, các tỉnh miền Đông Nam Bộ: Đêm không nắng, ngày vắng sao, nhiệt độ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 309)

Hạc nội mây ngàn Kiều có câu: “Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu”. Hạc ở ngoài đồng – Mây ở trên núi. Hạc nội mây ngàn chỉ những người không có trú quán nhất định. Chứ không phải theo nghĩa “cưỡi hạc về trời” như hay thường dùng qua văn truyện. Hò, hát

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 308)

Tiếng Việt mới tại Đông Âu Soái, bưởng : Ám chỉ những chủ hàng người Việt ở Nga, Ba Lan.Xù : Từ người Việt ở Tiệp dùng tự chỉ mình.Bàn rơi : Nói đưa đẩy, không thật lòng. Đi Puskin : Chương trình bổ túc tiếng Nga cho cán bộ chuyên ngành trước kia. Mifa,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 307)

Thơ ta, thơ Tầu Bài Trăng nước Hồ Tây của Dương Khuê có những câu: Phất phơ ngọn trúc trăng tà Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói sóng ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gươm Tây Hồ Bài thơ trên đã chịu ảnh hưởng bài Phong Kiều Dạ Bạc

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ