ngộ không;cnlv

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 294)

Những câu thơ sau cùng của Bút Tre Chưa đi chưa biết Sài gònĐi rồi mới biết chẳng còn một xuVề nhà mới biết là nguMồm tiêu thì ít thằng cu tiêu nhiều. Phương ngữ Hà Tĩnh “Ló ngô” không phải là loại ngũ cốc bản địa từ xưa mà sau này được di thực

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 293)

Ðiệu nghệ hay diệu nghệ? Hiển nhiên, điệu nghệ là do đọc chệch từ diệu nghệ mà ra. Diệu nghệ là từ Hán-Việt, trong đó diệu (cũng là thành tố của các từ tuyệt diệu, huyền diệu, diệu kỳ…) nghĩa là hay, giỏi, khéo  và nghệ nghĩa là nghề. Diệu nghệ là giỏi nghề. Còn

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 292)

Chữ nghĩa làng văn Bài thơ ngắn nhất có cái đầu đề bài thơ còn dài gấp đôi bài thơ của Trần Dần: Vợ chồng Xong. (Trích theo Nguyễn Quang Lập, tức đầu đề bài thơ là : Vợ chồng. Toàn thể bài thơ là: Xong). Văn bản Nôm xưa nhất Từ năm 1975 đến

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 291)

Tiếng Bắc… Cũng là một tiếng phủ định nhưng “chưa” khác với “chửa”. Tuy rằng “chửa” là thổ ngữ ở một vài vùng quê, song nó mang một ý nghĩa khác biệt hơn. Thêm dấu hỏi (?), từ “chưa” hàm “chứa” một sự khác quyết hoàn toàn. “Chửa” là một khẳng định của phủ định.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 290)

Những nhà văn miền Nam Theo sự tìm tòi của Nguyễn Văn Trung gần đây, bộ môn tiểu thuyết xuất hiện ở trong Nam sớm hơn ngoài Bắc chừng ba, bốn chục năm. Vũ Ngọc Phan không hề biết những nhà văn miền Nam, ông nói về Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn…như những người

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 289)

Gà, bò Về gà, bò, vốn từ vựng tiếng Việt rất dồi dào. Không những dồi dào mà còn chi li: gà, bò có nhiều loại khác nhau. Ví dụ: Gà ác (còn gọi là gà ri), gà ấp, gà cỏ, gà cồ, gà chọi, gà chuối, gà dao, gà độ, gà gô (còn gọi là đa

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 288)

Tên gọi: khách trú Tên gọi “khách trú”  từ Trịnh Hoài Đức (1765-1825) mà ra. Ông là người Việt gốc Hoa làm quan nhà Nguyễn, đi sứ nhà Thanh hai lần trong Gia Định thành thông chí, ông viết: Sĩ tắc Bắc trào thần, cang thường trịnh trọng Ninh vi Nam khách trú, trước bạch

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 287)

Tiếng Việt tiếng Tầu Vì mê tin, người Việt đặt tên con xấu để khỏi bị ông giời “bắt” đi như: thằng Cu, cái Hĩm, thằng Chuột, thằng Tèo. Người Tầu cũng vậy, họ gọi tên với: thằng Heo (Tưa Kía), thằng Cứt Heo (Tưa Sáng), thằng Cẩu. Nhưng họ không bao giờ đặt tên

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 285)

Từ điển với tiếng Việt Từ điển tiếng Việt của Văn Tân, Hà Nội định nghĩa: Thôi – Từ biểu thị nhấn mạnh sự miễn cưỡng đồ ý hoặc chấp nhận điều được nói đến vì người nói thấy cũng khó có ý kiến gì thêm được nữa. Thí dụ: Cũng tốt thôi. (Cũng tốt

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 284)

Tiếng Tầu tiếng Việt Ta gọi là “tre”, Tầu kêu là “chúc” (“chúc” với “ch”). Sau, cây lớn ta gọi là tre, cây nhỏ ta gọi là…trúc) (Hiếu Thiện Nguyễn Chu Hậu – Tiếng Việt, tiếng nước tôi) Con dao và nhà Phật Trên sách báo vẫn thường có câu: “Quăng dao thành Phật”. Tích

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 283)

Từ điển với tiếng Việt Từ điển tiếng Việt của Văn Tân, Hà Nội định nghĩa: Thôi – Từ biểu thị nhấn mạnh sự miễn cưỡng đồ ý hoặc chấp nhận điều được nói đến vì người nói thấy cũng khó có ý kiến gì thêm được nữa. Thí dụ: “Cũng tốt thôi”. (Cũng tốt

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 282)

Phố…”một nhà” Cụm từ “phố Hàng Trống”, nguyên nghĩa chỉ là…một ngôi nhà, một cửa hàng bán mặt hàng “trống”. Như Hàng Chiếu vốn cũng chỉ là một nhà bán mặt hàng “chiếu”. Tương tự như ví dụ của bạn về Hàng Muối, Hàng Mắm. Theo thời gian các “phố” thành 1 dãy cửa hàng,

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ