Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (8)

Phần Bảy: “Trùng Trùng Xa Cách” (2)

Trên các đồi ở vùng Phước Long này đất đỏ tốt vô cùng. Không bao lâu, lúa đã mọc lên, thành từng luống thẳng tắp như chúng tôi đã từng xắp hàng ngang đi rải thóc vậy. Đám cây khoai mì chúng tôi trồng trước đây cũng đã lớn lên bội rồi. Nhiều anh nghe ai mà hái đọt non của cây mì về nấu uống, có lẽ họ nghĩ là sẽ ngon ngọt giống như đọt non của cây bắp. Uống xong nước đọt khoai mì thì nôn thốc tháo. Có anh bị say quá, té tại chỗ, khiến anh em phải bôi dầu, lay tỉnh lại.

Bây giờ lúa đã mọc, chúng tôi lại có thêm công tác mới: Phải liên tục đi rẫy cỏ để lúa có chỗ mọc, sợ cỏ mọc tràn lan, lúa sẽ èo uột. Sức lao động của chúng tôi bỏ ra nhiều như vậy nhưng chưa biết sau này có được hưởng ké một chút nào không. Thực tình mà nói, không hy vọng được Đảng và Nhà Nước chiếu cố nên thỉnh thoảng, có cơ hội đi ngang đồi trồng khoai mì, chúng tôi cũng “tranh thủ” vào đào trộm (chính công sức của mình) vài củ về nhà ăn độn với cơm. Bác đã dạy là “ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh” (sic). Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại của chúng tôi, rõ ràng chúng tôi bị ức hiếp quá mức. Sức lao động của chúng tôi bị bóc lột quá mức. Chả ai dám làm gì để phản kháng lại. Kiếp sống con người luôn bị chi phối bởi “nhị phân”. Có trắng thì có đen. Có sáng thì có tối. Có thực thà thì có dối trá.  Nhưng trong kiếp sống (phong ba) của chúng tôi hiện nay, có làm nhưng không có hưởng! Mình phải đi ăn trộm thành quả của chính mình. Thế này thì gạt bỏ Tham. Sân, Si thế nào nổi?

Trời lại hay mưa hơn. Những trận mưa rừng dầm dề, có lúc như vũ bão. Những ngày đầu thì vệ binh còn đưa chúng tôi đi làm rẫy để canh chừng chúng tôi. Càng về sau, những trận mưa tưởng như không dứt, các anh ấy cũng ngại đi rừng, cho chúng tôi được nghỉ lao động luôn. Nói là nghỉ lao động nhưng chúng tôi vẫn phải làm việc. Những mái tranh đánh vội vã lúc mới lập trại, bây giờ bị gió tốc mất, hoặc nước mưa đọng trên mái trở nên quá nặng, nước mưa đổ ào ào vào trong lán. Chúng tôi lại phải rỡ ra, kết thêm tranh vào và lợp lại.

Đối với những ai chưa từng “được” học tập trong các “Đại Học Máu” (do “bác” bắt chước Tàu Cộng để đày đọa người của chế độ cũ) thì không thể hình dung ra được những cảnh sống của chúng tôi. Những thân xác tiều tụy, rách rưới của những người bị đày đọa mà không thể phản kháng. Tư cách, nhân phẩm của chúng tôi thì hay bị miệt thị. Những nguyện vọng chính đáng, cần thiết – và vô cùng căn bản – vẫn không bao giờ được đáp ứng. Họ tiếp xúc, làm việc với chúng tôi mỗi ngày, vẫn trong những nghi ngờ và vẫn trong cái tương quan của những cai tù và tội nhân.

Quý độc giả nghe nói về những căn nhà, hay những cái lán làm chỗ trú ngụ cho chúng tôi, vẫn không hề biết rằng chúng tôi không hề có cái đinh hay cọng dây thép nào trong công việc xây dựng những cái nhà này, kể cả cái “hội trường” có thể chứa cả trăm người ngồi, cũng không hề có cái đinh nào. Tất cả những công việc kết nối xà nhà, cột, kèo, vách, v…v… đều do những sợi dây lạt chẻ từ tre, hoặc mây rừng. Cái việc chẻ lạt từ những thanh tre (lồ ô) hay những sợi mây, cả là một công trình. Nếu không biết chẻ thì sợi lạt cứ mỏng dần về khúc cuối và trở nên rất yếu, không dùng được. Tôi muốn nói về sợi lạt tre ở đây là vì tôi muốn nói về một tai nạn của tôi, mà có lẽ cũng xảy ra cho nhiều người. Trời mưa thì không những đường rừng trở nên trơn trợt mà những cây lồ ô chặt xuống cũng bị ướt và trơn hơn. Từng cặp chúng tôi kết độ mười cây lồ ô với nhau, lấy sợi lạt tre, quấn một vòng quanh chúng, cầm hai đầu sợi lạt xốc xốc cho những cây lồ ô ép sát vào nhau rồi xoắn tròn hai đầu lạt, rịt cho chắc xong là gánh về. Hôm đó trời mưa, khi tôi xóc hai đầu lạt cho chặt thì bị trượt tay, sợi lạt tre sắc như dao cạo, cứa một đường giữa lòng bàn tay tôi, miếng da mỏng giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải của tôi bị cắt đứt vào khoảng một phân, mỡ và thịt lòi ra. Các bạn thấy tôi bất thần thả đám lồ ô xuống, nhăn nhó ôm bàn tay máu chảy ròng ròng, thì chạy lại, hô hào, xin thuốc rê, thuốc lào của anh em, nhét vào lòng bàn tay tôi, xé miếng cạp quần, buộc chặt bàn tay tôi lại. Nước mưa trên mặt của tôi chảy xuống mũi, miệng, có hương vị mặn của nước mắt! Đây không phải là cái tội đa sầu đa cảm của tôi, mà vì vết đứt đau thật. Nước mắt đổ ra cũng vì vết đứt đau quá không cầm nổi, mà cũng vì tự thương xót cho thân phận của mình vẫn bị đày đọa mấy năm nay.

Lại phải nói thêm về những sợi lạt chẻ ra từ những cọng mây rừng. Hôm nào tổ bị cắt đặt công việc đi lấy mây về cho trại thì ngày đó coi như đổ máu không ít. Những sợi mây rừng leo thật cao trên các thân cây mộc. Sợi mây rất dai, thường thì to bằng ngón tay cái. Sợi mây rừng đều có một lớp vỏ bọc mỏng, đầy những gai nhọn. Gai của những sợi mây rừng này không có cái gì có thể so sánh nổi. Chúng nhọn và sắc còn hơn cái kim may nhưng chúng to, dài, rất khó gãy. Cái gai khi cắm vào tay rồi mà còn ló một phần đuôi thì coi như còn có phước. Nó cắm xâu vào trong thịt rồi mà lại bị gãy nửa chừng thì về nhà, chỉ có khóc! Những sợi lạt này, sau khi chẻ xong mà chưa dùng tới ngay thỉ chỉ cần ngâm vào chậu nước, chúng sẽ giữ được độ mềm, dẻo như còn mới. Một sợi mây rừng cần chừng hai hoặc ba anh bám chặt vào, đu đưa mãi, vật lộn với sợi mây đó cả giờ đồng hồ mới kéo chúng xuống tới đất. Kéo được sợi mây xuống rồi thì lấy dao rựa gọt lớp vỏ đầy gai của chúng, cuộn lại rồi gánh về. Chỉ tiêu của trại đưa ra là mỗi người một trăm thước một ngày. Muốn lấy được một trăm thước mây rừng thì tốn khá nhiều công sức, mồ hôi, và nhiều máu.

Mùa này trên rừng có những trận mưa như vũ bão, có khi kéo dài cả ngày. Đi làm rừng cũng khổ mà ở nhà thì cũng lo chống đỡ với những bất trắc trên mái. Mái nhà có thể bị hất tung lên bất cứ lúc nào. Cuộc sống như thể trở lại thời kỳ ăn lông ở lỗ. Đã sắp hết thế kỷ 20 rồi mà cuộc sống chúng tôi không được bảo vệ, che chở bởi một phương tiện tương đối nào. Một đêm, chúng tôi đang co ro ngủ trong cái lạnh cùng sự ẩm ướt thì bỗng anh em chúng tôi nghe một tiếng “ầm” thật lớn. Tiếng ầm này vang vọng trong núi rừng, chúng tôi không đoán được nó là tiếng gì và xuất phát từ đâu. Sau tiềng ầm đó thì không gian trở lại rả rích của tiếng mưa rơi.

Đến sáng thì có tiếng gọi nhau ơi ới. Chúng tôi nghe anh em gọi nhau: “Mang thùng xuống suối vớt cá.” Chúng tôi cũng chạy theo nhau, người thì mang theo giỏ, người thì mang theo thùng. Chạy xuống đến suối thì mới vỡ lẽ ra là tiếng “ầm” đêm qua là do cái đập/cầu chúng tôi dựng lên bên dưới hồ cá của cán bộ – đã không chịu nổi sức nước, bị sập và bị cuốn mất một phần. Cái hồ cá cũng vì thế mà bị tháo hết nước. Những con cá mà cán bộ nuôi đã lớn trọng rồi nhưng một phần lớn bị cuốn đi, một phần thì đang nằm phơi bụng, dãy dụa trên vũng sình lầy của buổi sáng sớm. Mạnh cán bộ thì cán bộ bắt cá. Mạnh tù thì tù bắt cá. Bây giờ, mọi sự là của chung nên không ai cấm cản được ai. Người nào trong anh em chúng tôi cũng hốt được đầy thùng, giỏ mình mang theo. Chiều hôm đó, vừa không phải đi làm rừng, vừa ở nhà biến chế món cá, để dành ăn dần. Tối hôm đó, ai cũng xuýt xoa bên nồi cháo cá hiếm có. (Các ông cán bộ trại chắc cũng tiếc hùi hụi vì chưa “thu hoạch” được mẻ cá nào mang đi bán thì hôm nay mấy thằng tù tha hồ ăn ké mà không nói gì được chúng!)

Một hôm, trại tập trung chúng tôi lại và báo một tin khá “hồ hởi”: Chúng tôi được viết thư về cho gia đình biết là sắp có đợt thăm nuôi. Cũng ngay sau đó, chúng tôi được phát động chiến dịch đi lấy cây, lồ ô, cắt tranh, để xây dựng nhà thăm nuôi. Chúng tôi đã quen công việc và lại đang vui vì sắp được gặp người thân. Công việc tiến triển nhanh hơn và căn nhà thăm nuôi trông cũng tươm tất hơn. Chúng tôi cũng tự động đan những tấm phên để chia thành phòng và có làm những chõng tre cho thân nhân nghỉ. Nhà thăm nuôi cách trại chúng tôi khoảng nửa cây số đường rừng. Bây giờ chúng tôi mới biết là cách đó không xa thì có con đường đất đỏ, đủ lớn để cho xe đò chạy vào. Tầm nhìn của chúng tôi cũng nhờ thế mà đi xa hơn. Chúng tôi lấy cớ phải đi cắt cỏ tranh cũng như gỗ và tre nên phải đi xa. Bất ngờ, chúng tôi nghe tiếng nước chảy ầm ầm như thác. Đến gần tiếng nước gào thét đó thì không gian như rộng mở. Đó là một khúc sông, mùa này mưa nhiều nên nước chảy siết dưới chân một cái cầu. Lúc đó ai mà vô phước ngã xuống dòng nước đó thì chỉ có chết mất xác. Đang đà muốn khám phá, chúng tôi đến gần cái cầu thì nhận ra là bên kia cầu, có một vài căn nhà dân. Chúng tôi mạnh dạn đến gần. Có một căn nhà trông như một quán nước nhỏ, chúng tôi bước vào. Mấy người đàn bà trong quán thấy chúng tôi, xua đuổi như đuổi tà. Chúng tôi cố lấy vẻ lịch sự ra chào hỏi và tỏ ra vô hại cho họ.

Một vài phút sau, một người nói với chúng tôi là các ông cán bộ ở vùng này không cho chúng tôi tiếp xúc với tù vì những người tù này rất nguy hiểm. Hóa ra, trong vùng Phước Long này cũng có nhiều trại cải tạo khác và nhiều anh bạn cũng đã từng đến đây. Chúng tôi cố trấn an họ, nói cho họ biết là chẳng qua cũng vì hoàn cảnh chứ chúng tôi hoàn toàn vô tội và sẽ không gây ra sự khó khăn nào cho bà con. Trong quán có ba người, có lẽ một bà mẹ và hai cô con gái. Họ có vẻ tin ở chúng tôi. Nhìn quanh thật nhanh thì chúng tôi thấy quán có bán bánh ú, chuối, gạo, khoai lang, và một vài loại thức ăn khô nữa. Chúng tôi không ngờ là ở đây cũng có cái quán nhỏ này và trong người không có tiền nên tần ngần một lúc rồi xin phép ra về. Từ hôm đó, chúng tôi đặt tên cho cái quán đó là “Quán Ba Cô” cho có vẻ thơ mộng. Cũng từ đó, trong túi chúng tôi lúc nào cũng có vài đồng để nếu có dịp đi qua chỗ cây cầu đó thì sẽ vào mua một vài món ăn. Mấy hôm sau, chúng tôi lại lấy cớ đi về phía cây cầu, lại vào quán. Lần này thì họ không xua đuổi chúng tôi nữa. Chúng tôi mới được biết đây chính là một chi nhánh của sông Bé. Họ cho biết là mùa khô thì khúc sông này nước chảy rất êm dịu, nhảy xuống tắm được. Chúng tôi mua vài cái bánh ú và một nải chuối. Chúng tôi cũng thấy có một chuồng gà. Họ cho biết là gà cũng để bán nhưng chúng tôi không dám mua vì không có cách nào đem con gà vô trại được.

Từ hôm biết tin là sẽ được viết thư về nhà và sẽ được thăm nuôi, chúng tôi bàn tán với nhau sôi nổi. Anh nào cũng hăng hái chia sẻ là sẽ dặn vợ mang những thứ gì lên. Người nọ bổ túc cho người kia. Nhưng cũng nhiều lúc chúng tôi phải khựng lại vì biết rằng để có thể mua sắm nhiều thứ như vậy, tội nghiệp cho vợ con, vừa phải lặn lội, phải tự khiêng, lôi, vác, kéo lê lết bao nhiêu cây số để mang những thứ đó cho chồng con, vừa phải nhịn ăn bớt ở nhà để có tiền mua sắm những thứ đó.

Tôi nhớ lại quán Ba Cô bên kia cầu sông Bé có mấy con gà mà không dám mua. Đây là cơ hội để có được con gà hợp pháp! Mọi người reo vui vì cái viễn tưởng sẽ có cả đàn gà, tha hồ bồi dưỡng.

Và thế là “con tim đã vui trở lại”. Những người tù đã được gặp lại vợ con, gia đình. Chúng tôi được trại cho ra sống với gia đình bốn tiếng đồng hồ. Các bà đều tả lại chuyến đi của mình vô cùng thương tâm. Họ đã phải ra bến xe sắp hàng từ hai giờ sáng. Các bà để giỏ đồ của mình để giữ chỗ trước rồi sau đó chia nhau ra đi mua thức ăn sáng. Quái ác một điều là của hàng bán vé xe đò chỉ bán giới hạn 40 chỗ mỗi xe. Sau 40 vé đó thì khách lại phải trở lại sáng hôm sau. Những trạm công an dọc đường gây mọi chuyện khó dễ. Sau này, các bà truyền nghề cho nhau là cứ có thủ tục “đầu tiên”, nghĩa là “tiền đâu” thì trót lọt hết. Khi xe vào đến địa phận tỉnh Phước Long thì đôi khi khách phải xuống đi bộ, có khi phải phụ đẩy xe vì cái xe đò cũ quá, đất đỏ dính vào bánh xe rất nặng, lại trơn trợt. Bánh xe cứ quay mà xe thì không nhích được mét nào. Các bà cũng tả là lúc lên xe đò, trả tiền vé rồi mà có khi còn bị tài xế hoặc anh lơ xe chửi mắng vì mang nhiều đồ lỉnh kỉnh quá.

Chúng tôi nghe những chuyện thương tâm như vậy mà xót xa. Cũng thoáng một cái là đã hết thời gian thăm nuôi.

Tôi bàn với người bạn “Hay là mình liều ở ngoài này với vợ”? Vào điểm danh xong là chuồn ra ngoài này ngay. Nhân thể đề phòng nhỡ đêm xuống, mình không có ở đây, mấy thằng cán bộ nó ra giở trò với vợ con thì sao? Nghe có lý, chúng tôi áp dụng mưu kế. Đúng như chúng tôi dự tính, ban đêm chúng tôi đang ngủ với nhau trong giường thì có ánh đèn pin soi vào mùng. Các anh này có lẽ cũng có ý ra đây dọa nạt, kiếm chút cháo của những kẻ cô thế. Chồng của họ ở trong tay mình. Mình vòi vĩnh cái gì chả được? Nhưng bất ngờ, soi thấy những giày dép đàn ông ở dưới giường, họ mới biết là họ không có cơ hội. Họ hét to giữa đêm khuya:

– Các anh ra khỏi giường ngay. Tôi biết các anh vi phạm lệnh của trại. Đừng có hòng chạy trốn hoặc chối tội.

Tôi phải lồm cồm bò ra. Lại là cái ông thủ trưởng thuộc tên tôi. Anh ấy hắng giọng:

– Anh Dzương lại làm gương xấu cho anh em trong trại hả? Anh vào trại rồi mai lên trình diện tôi.

Tôi mặc vội quần áo, quơ con dao rựa tôi luôn mang theo, xỏ giày xong là biến vào trong bóng đêm. Những tên cán bộ cũng mất hứng vì biết hai bên cùng đổ bể mưu toan của phía mình. Ba đứa chúng tôi chạy được một lúc, nghĩ lại thấy lo cho gia đình mình ngoài đó. Chúng tôi rủ nhau liều trở lại, rình xem bọn này có làm gì với thân nhân mình không. Các bà cũng lo sợ cho thân phận của chồng mình, xúm nhau lại trên cùng một cái giường thức trắng đêm. Một lúc sau, thấy những tên cán bộ cũng đã bỏ về, chúng tôi đành phải trở vô trại. Tôi vừa chạy vào trại vừa nghĩ, cũng may là mình để đôi giày dưới chân giường, chúng nó soi ra mới đổ bể câu chuyện và không đưa đến kết quả khôn lường. Chứ nếu nghĩ trước được, giấu đôi giày thì nó không biết mình ở trong mùng. Nó dở trò đồi bại, thò tay vào mùng, sờ ngay thấy mình thì chắc con dao rựa của tôi đã quơ mất một cái đầu và câu chuyện đã đến hồi kết đêm hôm đó. Đến sáng, tôi chia thức ăn và đồ đạc lỉnh kỉnh vợ tôi mang lên thành nhiều phần nhỏ, gửi bạn bè giữ dùm vì lát nữa lên trình diện trại, không biết có trở về không. Lúc này, tôi vẫn nhớ là vợ tôi có mang lên cho tôi một con gà!

Trời sáng bạch. Tôi nói mấy người bạn làm bộ đi công tác về hướng nhà thăm nuôi xem vợ con chúng tôi đã về được chưa. Mấy người bạn nhìn tôi ái ngại khi tôi bắt đầu đi lên trại cán bộ để trình diện, theo đúng lệnh của ông thủ trưởng đêm qua.

Trại của cán bộ cách trại chúng tôi một cái dậu thưa bằng tre do chúng tôi dựng lên từ hồi mới đầu. Ngày đó, nhiều lần các ông ấy chỉ vào cái dậu thưa này và nói với chúng tôi:

– Các anh thấy cái dậu này thưa không? Chúng tôi cũng không mất công làm hàng rào quanh trại các anh, nhưng chúng tôi thách các anh chạy trốn đấy. Lực lượng của chúng tôi đóng dày đặc chung quanh. Các anh đừng hòng có ý định trốn khỏi tay chúng tôi.

Hôm nay không thấy anh vệ binh gác ở đây như mọi khi. Tôi lên đến trại thì hình như họ cũng biết chuyện cả rồi. Họ chỉ một góc nhà, bảo tôi ngồi đó chờ. Tôi đã chuẩn bị tư tưởng là sẽ ăn no đòn thù nên cũng không tỏ ra sợ hãi. Có lẽ ông thủ trưởng cũng âm thầm quan sát tôi từ trong nhà của ông. Có lẽ ông cũng ngạc nhiên không thấy tôi tỏ ra lo sợ gì. Một chút sau ông ra gặp tôi. Ông hỏi:

– Anh biết tôi muốn anh lên trại làm gì rồi chứ? Tôi đáp:

– Tôi vi phạm nội quy của trại. Tôi sẽ làm tờ tự kiểm. Tôi chơi đòn cân não với ông. Tôi cố ý lái ông sang một ý tưởng khác. Không dại gì mà nói “Tôi sẵn sàng chịu hình phạt…” Ông thủ trưởng cũng có vẻ ngạc nhiên thấy tôi coi việc vi phạm lệnh của trại như chuyện bình thường. Ông đưa tôi một tờ giấy nói:

– Thế thì anh ngồi đây, làm tờ tự kiểm và tự anh đề nghị hình phạt cho anh. Anh chàng này cũng có chuẩn bị nên cũng chơi đòn cân não. Hắn nhất định phải đánh tôi một trận cho bõ những lần trước gặp tôi. Tôi chưa bao giờ tỏ ra sợ thủ trưởng, lại còn can vào cái tội chuyên mặc quần áo quân đội của chế độ cũ. Anh chàng bỏ đi và không hẹn giờ trở lại. Chết thật, mình đánh trò tâm lý mà gặp tay này cũng cao cơ. Điệu này thì hôm nay nhịn đói là cái chắc.

Tôi ngồi làm bộ suy nghĩ để viết tờ tự kiểm. Trong lòng tôi đang suy nghĩ làm sao tránh được cái việc tự đưa ra hình phạt cho mình. Tôi nghĩ ra cách là bây giờ mình phải làm bộ ngu ngơ, không chơi trò tâm lý với tay này nữa.

Tôi viết đúng tinh thần vi phạm lệnh của trại (không dại gì mà mô tả mình đã phạm tội gì) và hứa là sẽ đem về cho trại bao nhiêu củi, bao nhiêu cây lồ ô, và cả một đàn gà v…v…toàn những lời hứa vô tội vạ của một thằng khờ.

Ông thủ trưởng hình như đã đợi giây phút giáng cho tôi một báng súng từ lâu nên nói tôi đi ra chuồng lợn, ông ấy sẽ giao công tác. Vừa quay đi thì ông ấy đã dùng báng súng AK-47 đánh một cú thật mạnh vào bả vai trái của tôi. Tôi ngã lăn quay trên nền đất lạnh. Tôi còn làm bộ ngoan cố hỏi:

– Sao anh đánh tôi? Những vi phạm nội quy của trại đâu có nói là sẽ đánh tù nhân bằng báng súng?

Ông thủ trưởng thấy tôi cũng cứng lý luận và tỏ vẻ không sợ đòn thù. Ông bây giờ đang đứng ở đây có một mình, xét ra không có lợi nên ông quay đi, cầm theo cây AK-47, bảo tôi theo ổng.

Ra đến chuồng lợn, trong ấy có mỗi một con. Ông ấy chỉ con lợn và bảo:

– Anh múc nước giếng lên tắm sạch cho con lợn này, lát nữa sẽ có người đến giúp anh làm thịt.

Trước mặt kẻ thù, tôi không muốn tỏ ra đau đớn vì làm như thế sẽ trúng ý muốn của chúng nó. Tôi xách cái gầu tôn xuống giếng múc nước lên dội cho con heo. Cái chuồng heo này chắc chưa bao giờ được tẩy rửa nên hôi thối đủ mọi thứ mùi. Tôi cứ tà tà, đi lấy nước giếng lên tắm cho con heo. Mấy bận như vậy thì con vật cũng sạch sẽ hơn. Nó có vẻ mát mẻ, khỏe mạnh lại và bắt đầu đòi ăn. Vừa lúc đó, có mấy bạn tù cải tạo khác đến, giúp tôi vật con heo xuống, cắt tiết, mổ bụng, lấy bộ đồ lòng ra xong thì chào tôi đi về trại trước. Họ không muốn lừng khừng đứng xớ rớ ở đây, lát nữa, sức lao động của họ sẽ bị bóc lột hơn và sẽ bị giao thêm những công tác khác.

Những người bộ đội muốn tự mình nấu nồi cháo nên họ xuống vo gạo, rửa rau, bắc cái bếp xong đặt cái nồi to lên đó. Họ làm bộ lòng rất nhanh nhẹn, có vẻ đã quen thuộc. Mọi thứ xong xuôi thì họ giao lại cho tôi, bảo tôi canh chừng nồi cháo. Họ lại biến mất, mang theo phần thịt con heo, không hề hỏi tôi đã ăn cơm tối chưa. Trời đã tối, từ lúc tắm rửa và vật lộn với con heo đến giờ tôi mới nhớ là mình chưa được ăn gì. Nhân thể mấy miềng lòng lợn họ làm xong, còn đang để đấy, tôi thả vào nồi nước sôi, đợi một chút rồi vớt ra, tự thưởng cho mình mấy miếng trước.

Đến lúc này mới chợt nhớ ra là mình cũng chưa đi tiểu lần nào từ sáng đến giờ. Tôi lấy cái ca, tiểu ra ngoài một chút của đợt đầu. Đợt sau, cầm cái ca tôn hứng lấy một ít, không do dự, đổ luôn vào nồi cháo. Coi như huề, gỡ lại cái đánh bằng báng súng vào lưng tôi buổi sáng. Nghĩ đến cái lúc mà chúng nó hít hà cái nồi cháo thơm phức, đầy đủ lòng, dồi, huyết v…v…mà tôi như nhẹ hẳn lòng! (Lại phải xin lỗi thầy Minh Tuệ nữa rồi. Tôi vẫn chưa thể thành chánh quả.) Nồi cháo chín, họ ra khiêng nồi cháo vào trong nhà và cho tôi về trại. (Không thấy ông thủ trưởng đâu.)

Trong trại, có thể có “ăng ten” rải rác đâu đó nên tôi không dám khoe thành tích này với ai trong tổ.

Từ đó, việc thăm nuôi cũng trở nên dễ dãi hơn. Trại cho chúng tôi được ngủ qua đêm với vợ con. Cũng nhờ các bà bàn với nhau, tạo thành một cái tiền lệ, đưa cái phong bì mỏng mỏng cho các anh cán bộ trại, gọi là một chút thành ý (trong phim Tàu!). Các anh ấy cũng không nề hà gì cái chuyện cỏn con này. Hai bên đều “thắng lợi”.

Cũng từ đó, mỗi khi có đợt thăm nuôi mới, anh em chúng tôi chuẩn bị chu đáo hơn: gánh nước ra cho các bà dùng, đem mùng mền và tấm bạt ra che giữa các cái giường với nhau cho lịch sự. Anh bạn tên là Nguyễn Trọng Hậu, nhỏ con, vui vẻ, luôn tình nguyện đóng vai trình diễn ca nhạc bỏ túi để mọi người giải khuây. Anh chàng Hậu này thuộc rất nhiều bài hát của Miền Nam trước ’75. Hậu vừa đàn, vừa say sưa hát, có khi đến nửa đêm mới thôi. Chúng tôi ngồi quanh đống lửa trại, chia nhau thức ăn mới được các bà đem lên. Nhiều người trong số khán, thính giả đêm đó cũng tham gia thành một buổi nhạc “thính phòng” có một không hai trên cõi đời vô thường này.

Sau này, có thêm anh bạn thi sĩ Nguyễn Văn Tiến và anh Tạ Kỳ Linh cũng tham gia. Cả Hậu và Tiến đều vừa đánh đàn vừa ca hát được nhiều bài. Riêng Tạ Kỳ Linh thì mang cây đàn của anh ra, khoe là gia đình mang lên theo lời yêu cầu của anh. Tạ Kỳ Linh chỉ đánh đàn – hoặc như một guitarist, đánh đàn chính cho ban nhạc – hoặc chỉ đệm cho người hát. Tất cả chúng tôi, kể cả Hậu và Tiến, chỉ biết há hốc miệng ra quan sát ngón tay của Tạ Kỳ Linh “múa” trên phím đàn. Thực tình, chúng tôi chưa thấy người nghệ sĩ nào có tài chơi ghi-ta thần sầu như vậy. Các bà cho biết là cũng lạnh toát người, mặc dù không có một chút khái niệm nào về nghề chơi ghi-ta. Anh Tạ Kỳ Linh như đang hưởng những giây phút được tự do hiếm có, thả hồn theo nhạc như tối hôm nay. Anh độc tấu một số nhạc trẻ của thời 64-65 ở Sài Gòn. Chúng tôi đều nghĩ, giá cái đàn này là đàn ghi-ta điện thì tiếng của nó còn thần sầu hơn.

Chúng tôi say sưa thưởng thức tiếng đàn tuyệt vời này một lúc. Riêng tôi, hồi còn ở trại Long Khánh, đã cố tập mấy bài nhạc cổ điển, nhìn thấy ngón tay anh bạn này “chạy” trên cần đàn thì tôi biết rằng mình phải gọi anh này bằng “bác”! Lúc ngừng để nói chuyện, chúng tôi mới biết bạn này tên Tạ Kỳ Linh, con trai của Trung tá/Họa sĩ/Thi sĩ Tạ Tỵ.*

Tạ Kỳ Linh vốn là một người kín tiếng, Chưa bao giờ chúng tôi thấy anh tham gia vào các sinh hoạt buổi tối của anh em. Chúng tôi không hề biết là anh có ngón đàn độc đáo đến như vậy. Anh cho biết là nhớ nhà quá và cũng nhớ cái đàn của anh quá. Anh đã nhắn gia đình mang lên trại cho anh. Anh mới nhận được cái đàn mấy hôm nay.

Dĩ nhiên là anh cũng là sĩ quan nhưng chúng tôi lại quên không hỏi đơn vị/quân chủng của anh. Từ đó, khi có cơ hội là chúng tôi lại yêu cầu Tạ Kỳ Linh chơi vài bản nhạc.

Niềm vui các buổi thăm nuôi – dù thăm mình, hay thăm bạn mình – không được bao lâu thì có sự “cố”. Trại bất ngờ tập trung, điểm danh và cho biết có người trốn trại. Người tù trốn trại đó là Tạ Kỳ Linh.

Chúng tôi nhớ lại những đêm chúng tôi được thăm nuôi (hoặc tham gia các buổi thăm nuôi của những “bạn hiền”) thì trong những lúc tạm ngừng văn nghệ để ăn bánh, uống nước trà hay cà phê, Tạ Kỳ Linh hỏi các bà rất kỹ đường vào, đường ra từ trại đến nút chặn công an đầu tiên trên đường về Sài Gòn. Hóa ra anh này có ý trốn trại từ lâu, đã bỏ công ra nghiên cứu kỹ lưỡng. Điều kỳ lạ là Tạ Kỳ Linh đã mang theo cả cái đàn yêu quý của anh! Chúng tôi không thấy trại tuyên bố là người tù này đã bị bắt lại. Các ông cũng phạm vào cái tội “nổ” với chúng tôi khi nói với chúng tôi trước đây là lực lượng của các ông vây kín khu rừng này. Các ông đã từng thách chúng tôi là đố chúng tôi trốn thoát được!

Nhắc lại con gà mà bà xã tôi mang lên cho tôi. Nó đã lớn, rất khôn và rất trung thành. Mỗi ngày đi làm ngoài rẫy, chúng tôi luôn nhớ là phải bắt được vài con châu chấu, cào cào, hay dế, đem về cho “thú cưng” của mình ăn thêm. Đặc biệt là con gà nó biết chủ của nó là ai. Khi thấy chủ nó về là nó chạy lại, đứng chờ. Chủ mở bao nylon ra, thẩy cho chúng ăn. Chúng mổ ăn vui vẻ, không dành nhau. Buổi sáng, trước khi đi làm, chúng tôi mở cửa chuồng cho chúng xuống tự đi bắt sâu bọ ăn nhưng đến tối thì con nào về chuồng con nấy. Có nhiều anh bạn biết cái ổ mối trông nó như thế nào. Đang đi đường mà thoáng thấy thì anh này hô anh em dừng lại một chút. Chỉ qua mấy nhát cuốc là anh này đào lên được một khối đất màu đen. Lấy lạt buộc vào đầu đòn gánh, đem về. Anh bạn về đến trại thì gà nó chạy lại. Anh bạn hạ cái ổ mối xuống đất, lấy con rựa chặt từng lát mỏng thì cả ngàn con mối chạy ra, gà cứ thế mà nhặt ăn say sưa! Món này là món khoái khẩu nhất của gà trong trại. Con gà của tôi là con gà mái. Mỗi sáng, khi tôi mở cửa chuồng cho nó ra, quơ tay vào, thế nào cũng “thu hoạch” được một cái trứng nóng hổi. Tôi không cần phải luộc cho mất thì giờ, đập ngay hai đầu quả trứng và hút sống như vậy. Tôi cưng nó quá mức. Càng ngày nó càng lớn và béo ra. Đến đây, tôi cũng muốn nói về bản năng sinh tồn kỳ diệu của những con gà mà ở thành phố, mình không có cơ hội quan sát nên không biết. Hễ con gà mẹ thoáng thấy có con diều hâu bay trên cao là nó biết gọi bầy gà con chui vào dưới đôi cánh xòe ra. Trong khi các con gà con lúp xúp dưới cánh thì gà mẹ xù lông ra, trông rất hung dữ, có vẻ như sẵn sàng tử chiến với con diều hâu trên kia. Chúng tôi chạy ra, lấy áo phất phất vào trong gió, con diều hâu thấy coi bộ khó ăn, lẳng lặng bay mất. Có khi chúng tôi thử trí khôn của con gà, thẩy trước mặt nó một con vắt hay con đỉa. Con gà nhìn xong bỏ đi chỗ khác, không thèm ăn!

________________

* Sau đây là phần trích từ Wikipedia về tiểu sử của Tạ Tỵ, thân phụ của bạn Tạ Kỳ Linh:

Ông sinh ngày 3 tháng 5 năm 1921 (tức ngày 26 tháng 3 năm Tân Dậu) tại thủ đô Hà Nội. Nhưng trong giấy khai sinh của ông lại ghi là ngày 24 tháng 9 năm 1922, vì khai muộn mất một năm.

Từ khi còn là một sinh viên, Tạ Tỵ đã thành danh khá sớm. Năm 1941, nhờ nhận một giải thưởng tranh, ông được đến thăm kinh đô Huế.

Năm 1943, ông tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Và cũng năm này, bức tranh “Mùa Hè” của Tạ Tỵ đoạt một giải thưởng của Salon Unique.

Năm 1946, chiến tranh nổ ra giữa Việt Nam và Pháp, Tạ Tỵ cùng với nhiều họa sĩ Việt Nam khác, đã tham gia mặt trận Việt Minh chống Pháp và ông là người thầy dạy mỹ thuật đầu tiên trong Liên khu 3. Tác phẩm “Nhớ Hà Nội” năm 1947 (20 × 25 cm) được Tạ Tỵ vẽ trong giai đoạn này.

Tháng 5 năm 1950, Tạ Tỵ rời khỏi vùng kháng chiến để trở về Hà Nội. Ông viết cho một người bạn rằng “Cách suy nghĩ của tôi không hợp với kháng chiến sau mấy năm chung sống với họ”.

Bắt đầu từ đầu thập niên 1950, ngoài tài vẽ chân dung hí họa, ông còn sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác, như: truyện, thơ, kịch bản, bút ký…

Năm 1951, ông triển lãm 60 bức tranh tại Hà Nội.

Sau 1954, ông vào Nam và sống ở Sài Gòn. Ở đây ông đã phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là trung tá trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

Năm 1956, ông triển lãm hơn 60 bức tranh đầu tiên tại Sài Gòn. Năm 1961, ông triển lãm lần thứ hai 60 bức tranh lập thể và trừu tượng cũng ở nơi đó.

Năm 1975, sau thời gian học tập cải tạo, ông cùng vợ con vượt biển đến Malaysia và định cư tại Hoa Kỳ.

Trong thời gian sống tại nước ngoài, ông lại tiếp tục sáng tác. Năm 2003 sau khi vợ ông qua đời tại Hoa Kỳ, ông quyết định trở về Việt Nam với ước vọng sống những ngày cuối cùng ở quê hương mình.

Vào 10 giờ sáng 24 tháng 8 năm 2004 (mùng 9 tháng 7 năm Giáp Thân), Tạ Tỵ đã từ trần tại nhà riêng số 18/8 đường Phan Văn Trị, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, sau một cơn bệnh kéo dài do tuổi già, hưởng thọ 83 tuổi.

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7

Bài Mới Nhất
Search