Ông già Ba Tri Nam Bộ – Ảnh: https://googletienlang2014.blogspot.com/
Khươm mươi niên trước, qua tạp bút Giấc mộng con, ngộ chữ tôi theo chân cụ Nguyễn Trãi xuôi đườg thiên lý cô liêu, cô lý từ Thăng Long xuống tận Cà Mau.
“…Ngỡ cụ Nguyễn bay về trời…hóa ra cụ kẹp nách xị Nước mắt quê hương bước xuống thuyền vượt biên. Còn lại một mình, ngộ chữ tôi cắm cúi ngậm vần nhả chữ…”
Với tháng ngày đắp đổi, cho đến nay ngộ chữ tôi đang hẻo chữ nghĩa thì bắt gặp bài viết có tựa đề: Chuyện đời người đi mở cõi.
“…Chuyện về dòng họ Thái vượt biển bằng thuyền đi về phương nam, tới vùng đất mới lập làng sinh sống. Làng của dòng họ Thái tên Trại Già nay là Ba Tri.
Sở dĩ có tên vậy vì xưa kia ở đây có rất nhiều…cây già…”. (xem tr 6)
***
Cứ theo cụ Ngộ Không trong Chữ nghĩa làng văn: cây dừa tiếng Bắc thời vua Lê chúa Trịnh gọi là “cây da”. Theo chân người đi mở cõi vào miền Nam vẫn là cây dừa. Nhưng phương ngữ Vĩnh Long gọi là cây gừa, Ba Tri gọi là cây già.
Bèn đọc lại Giấc mộng conxem tôi theo chân cụ Nguyễn Trãi xuôi đườg xưa lối cũ ghé Ba Tri có cây già chăng!? Xem đến khúc cuối thì…Thì tôi gặp lại…”tôi” vẫn còn đang ngồi tại quán nhậu ở Cà Mau từ mươi niên trước.
Tôi đang ngẫm nguội mảnh đất này nào có gì ngoài Cà Mau hãy đến mà coi, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh, vừa lấy tay đập con muỗi đậu trên trán…
Bỗng có cụ ông râu trắng, vai vắt khăn rằn, miệng ngậm điếu thuốc rê đi vào.
Cụ ngó lơ như không thấy ai, ngồi ngay bàn tôi và thối khói um lên. Bởi muốn hay biết cụ là ai nên ngộ chữ tôi âm ử câu ca dao “Cà Mau hãy đến mà coi, muỗi kêu như sáo thổi”. In hịt, cụ vo ve ngay Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu. Thế là tôi bắt chuyện với cụ ngoài muỗi, tôi chỉ biết Cà Mau với “đỉa lội lềnh như bánh canh” thôi.
Nghe vậy cụ cho hay Cà Mau, tiếng Khmer “Tưk Kha-mau” nghĩa là nước đen, màu nước do lá tràm của rừng tràm U Minh rụng xuống làm đổi màu nước. Cà Mau là xứ đầm lầy ngập nước, có nhiều bụi lác.
Vì không biết…lác là cây gì, chợt nhớ ra cây già ở Ba Tri.
Bèn hỏi cụ “xứ” Ba Tri ở đâu? Cụ vỗ vai tôi nói: “Dễ ợt”. Rồi đưa tôi ra lề đường leo lên xe ngựa, trộm nghĩ với cái xe thổ tả này bao giờ mới tới Bến Tre đây! Ra khỏi Cà Mau, xe thổ mộ cà rịch cà tang trên Quốc lộ 1 mà trước kia là đường cái quan. Tôi quắn đầu với cụ về cái tên này. Cụ mà rằng ấy là đường triều chính vì làm cho các quan cưỡi ngựa hay cáng võng vi hành nên gọi là đường cái quan.
Lại…ngựa nữa, nó tậm tịt trong đầu tôi ở đâu đó nên hỏi tới nữa. Cụ cùm nụm…
Miền Nam vào năm 1832, Minh Mạng dùng 6 chữ cuối trong một bài cổ thi 8 chữ để đặt tên cho 6 tỉnh miền Nam ngày nay: Sáu chữ trong câu thơ “Khoái mã gia biên vĩnh định an hà “ nghĩa là “phóng ngựa” vung roi giữ yên bờ cõi”. Vì vậy mới có Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.
Ngộ chữ tôi chững người vì cụ thông kim bác cổ quá sưc. Bởi với giấc mộng từ chương, ngộ chữ tôi hong hanh một truyện ngắn theo dạng rề rà nói chuyện nghĩ sao nói vậy. Thảng như ông thầy giáo làng xóm Cà Bây Ngọp ở Rạch Giá trong Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam. Hoặc giả như cụ Hồ Biểu Chánh, cụ ấy viết như nói. Bèn thưa với cụ nỗi văn dĩ tải đạo ấy, y xì người Nam rặt, cụ nghĩ sao nói vậy:
– Em Bắc kỳ, em biết…cái chi về miền Nam.
Không đợi Bắc kỳ tôi trả lời, cụ như ông thầy giáo làng xóm Cà Bây Ngọp. Cụ…quốc văn giáo khoa thư tôi về sông nước miền Nam với cái và con:
– Qua nói em nghe, “Cái” miền Bắc gọi là sông lớn miền Nam kêu là sông nhỏ. Vì “cái” tiếng Khmer là sông con. Những địa danh bắt đầu bằng chữ “cái” đều nằm trên sông nhỏ chảy ra sông lớn như: Cái Bè, Cái Nước, Cái Vồn…Cái Răng.
Vì…“cái” bỗng cụ vặc tôi như vặt thịt:
– Cái đáng hỏi lại không hỏi.
Mặt một tôi đang đực ra như ngỗng đực, cụ…“hỏi”:
– Em biết “Cái Răng” là…cái chi không?
Thế là cụ gọ gạy:
– Cái Răng thuộc Cần Thơ với “k’ran” tiếng Khmer không là…cái răng mà là…cá rán.
Nhân chuyện Cái Răng, cụ bắt qua địa danh Cần Thơ, tên gọi rất Việt nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer “kìn” là…cá sặc rằn. Người Bến Tre gọi là cá “lò tho”. Vì vậy địa danh từ “kìn” của Khmer và “tho” của Bến Tre, cá bỏ giỏ cua thành…Cần Thơ.
Bánh xe xe thổ mộ lọc cọc trên con đường đất, cái đầu đất tôi cũng gõ cóc cóc vào trí nhớ một thời văn chương quán nhậu gọi Johnnie Walker là “Ông già chống gậy”, dường như là…“Ông già Ba Tri” thì phải? Cụ ngay tình không hay mà chỉ hay biết…
“…Ông già Ba Tri tên thật là Thái Hữu Kiểm sống vào triều Minh Mạng. Ông là cháu nội ông Thái Hữu Xưa, gốc Quảng Ngãi, sinh cơ lập nghiệp ở Ba Tri từ thế kỷ 18. Năm 1806, ông Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giúp dân cư sinh sống. Khi đó ông xã Hạc ở chợ Ngoài chơi ép, đắp đập chặn không cho ghe thuyền vào chợ Trong. Ông Kiểm kiện lên phủ huyện, phủ huyện xử chợ Trong thua với lập luận: Mỗi làng đều có quyền đắp đập trong địa phận làng mình.
Ông Kiểm cùng hai ông già nữa khăn gói đi bộ từ Ba Tri ra Huế năm 1820, để đưa đơn lên nhờ vua phúc thẩm lại. Cuối cùng với lộ trình cả ngàn dặm đường, gần nửa năm mới tới nơi. Vua Minh Mạng thụ lý xử dẹp bỏ đập, lý do rạch là rạch chung của cả chợ Ngoài lẫn chợ Trong. Từ đó, dân Bến Tre gọi ông Cả Kiểm là ông già Ba Tri…”
Lại nữa, cụ càm ràm tôi…cái đáng biết thì không biết:
– Em biết “Về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa” là chi không?
Khà một cái, cụ khề khà…
– Theo Vương Hồng Sển, Sơn Nam với bưng tiếng Khmer là bâng, là đất trũng giữa đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa ngập khá sâu và có nhiều cá đồng: về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa. Ở Ba Tri có Bưng Trôm, Bưng Cốc.
Cái tôi muốn biết Bến Tre co…tre không? Bàn hỏi? Cụ rỉ rả…
Bến Tre, tiếng Khmer là Srok Treay. Srok là xứ, treay là cá. Sau người Việt biến chữ srok thành bến và chữ…“treay” phát âm theo tiếng Khmer là…tre. Vì vây đất Bến Tre không trồng…tre mà trồng…dừa.
Bởi…“dừa” dễ lộn với…“dứa” nên cụ ậm ào ở Mỹ Tho có Giồng Dứa. Giồng là chỗ đất cao trồng thơm và khóm, vì qua giồngăn…dứa mới có câu ai dzìa Giồng Dứa qua truông, gió rung bông sậy bỏ buồn cho em. Dứa đây chả phải dứa Bắc kỳ của tôi có trái mà Nam kỳ của cụ kêu là thơm, khóm là loại cây có lá gai. Lá này vắt ra thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh…bánh da lợn.
Vồ được…bánh da lợn, ngộ chữ tôi rối chữ:
– Tại sao Nam kỳ không kêu bánh da heo mà lại gọi…“bánh da lợn”.
Cụ móc họng tôi cái một:
– Tại sao Bắc kỳ không gọi…nói toạc móng lợn mà lại kêu “nói toạc móng heo”.
Bởi bí ngô bí khoai nên ngộ chữ tôi thưa với cụ ăn mày chữ nghĩa theo cụ Ngộ không qua Chữ nghĩa làng văn…
Paulus Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quốc âm tự vị, giải nghĩa…lợn là…heo. Vi người miền Nam là những người di dân từ miền Trung xuống, tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ phát âm thành…“quan lợn”. Quan sai lính đánh 10 hèo. Nên họ gọi mỉa con lợn là…“con hèo”. Để khỏi lầm con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là…con heo. Con lợn là con heo là thế.
Thế là được thể cụ kể lể chuyện Trư Bát Giái đi từ Bắc xuống Nam…
– Con lợn tiếng Việt cổ gọi là “con heo” (hay con cúi) qua câu “nói toạc móng heo”. Di dân vào miền Nam, con lợn được người Nam kêu lại với tiếng Việt xưa là…con heo.
Đột dưng cụ gióng giả:
– Qua hỏi em chớ… chớ con lợn khác con heo chỗ nào?
Đợi tôi…chớ phở ra rồi cụ mới phăm phở…
– Con heo ăn bắp, con lợn ăn… ngô.
Ngó thấy mặt ngộ chữ tôi…“ngu như lợn” vì không biết bắp và ngô khác nhau ở khổ nào. Cụ bèn văn minh miệt vườn (chữ của Sơn Nam) với cây cảnh…
Tiếng Việt cổ gọi trái, bông. Thành ngữ cổ có câu: “Tháng Tám nắng rám trái bưởi” hay bông lúa, bông ngô. Sau cuộc di dân, người Nam vẫn giữ tiếng Việt cổ trái, bông.
Từ chữ “vô” chui vào tai lọt ra miệng, ngộ chữ tôi định ngộ chữ với cụ chữ “vô” ngừời miền Nam nói là “dô” vì sống chung với người Miên nên bị biến âm đi thì cụ lại “Qua nói em nghe…”. Và tôi nghe thủng ra là:
Tiếng “vào” của người miền Bắc cổ được kêu là “vô”. Vào đến miền Trung, người di dân mang theo chữ vô, như ca dao Yêu em anh cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Xuống tới miền Nam, người đi mở cõi vẫn giữ lại chữ “vô”.
Bỗng cụ chộn rộn: “Tới bến”. Tôi ngỡ…nhậu tới bến hoá ra là tới…Bến Lức.
Cụ củng quẳng “Bến Lứt” chớ không phải Bến Lức. “Lứt” là tên ban đầu, vì ở đây có nhiều cây lứt, vì phát âm sai là…Bến Lức. Cụ nói xà ích chạy đi mua bốn lít đế Gò Đen làm ở Bến Lức, Long An. Trong khi chờ đơi. cụ vẫn mửng cũ: “Qua nói em nghe, cái đáng hỏi em không hỏi ở ngã ba sông gọi là “vàm” như Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Ngộ chữ tôi nhũn não với vàm theo tự điển “vàm” là…cửa sông. Mắt tròn dấu hỏi. Cụ quề quà: “Dễ òm! Em hỏi ông Vương Hồng Sển, Sơn Nam xem coi”.
Dòm bốn lít đế, tôi hỏi gì dữ thần vậy? Cụ dóng dứ một là đi xa phải phòng xa khi lỡ đường. Cụ sành điệu củ kiệu là để làm “ít ly”. Bèn ớ ra nữa? Cụ chàng ràng “ít ly” là…“y một lít”. Vì vậy tôi nói sẽ đợi lỡ đường để cụ “lỳ một lam”, tôi “làm một ly…đế.
Nghe vậy, cụ mắng tôi vì tậm tịt với chữ nghĩa nên dốt hay nói chữ vì chả biết…cây lác là giống giuộc gì. Mắng tôi rát mặt xong, cụ quấy quá: Cây đế, một loài cây giống cỏ năn, cỏ lác cao vút đầu. Năm 1858 người Pháp độc quyền nấu rượu để thu thuế gọi là rượu ty. Vì vậy bà con ta…nấu rượu lậu rồi đem giấu trong những lùm…đế ở xa nhà. Tên gọi rượu đế ở Nam kỳ (Bắc gọi là rượu trắng) xuất xứ từ đó.
Bị…đế u đầu, tôi ngó lơ chiếc thổ mộ mà một thời đi vào văn học, cụ giựt giọc…
– Em ngó chi vậy?
– Cái xe u mê!
– Em nói chi?
Đành thưa gửi ông Bình Nguyên Lộc gọi là…“u mê” vì xe chạy trên đương đầy ổ gà nên các bà…ê cả mu. Cụ xuội lơ: “Thiệt tình!”. Vấn điếu thuốc rê, cụ rê ra, rề rà:
– Ổng giỡn chơi vậy thôi chớ trên nhựt trình, ổng viết vì ổng nghe câu người ta chửi thề: “Mả cha mày chạy chứ mả ai chạy!”. Ổng giải thích thổ là đất, mộ là nấm mộ, xe thổ mộ tức cái xe như…nấm mộ lùm lùm chạy trên đường phố. Nhưng thổ mộ là cách đọc của mình theo âm Quảng Đông là “tủ mỏ”, tức độc mã (một ngựa). .
Tôi trộm nghĩ ông Bình Nguyên Lộc dầy chữ thổ mộ với nấm mộ. Còn tôi thấy sao nói vậy, vi chiếc xe…thổ tả nên ro ra là xe…thổ mộ ấy thôi.
Bập bập điếu thuốc rê, cụ kề rề gì đâu với thổ là đất và thổ ngơi…
Tên Sài Gòn, theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết: “Năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên phá vỡ “Luỹ Sài Gòn”. Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong sử liệu.
Vì chữ Hán không có chữ Gòn nên nhà Nho thời ấy viết là Côn. Mắc chứng chi ông Vương Hồng Sển nát bàn vơi Gòn là chữ Nam chỉ bông gòn. Để sau này có Thầy Ngôn, tới Thầy Ngòn rồi…Sài Gòn?
Qua Lái Thiêu, Thủ Đức, cụ cho hay ông tên Lái uống đế say bí tỉ…”thiêu” cái chợ nên mới có tên…Lái Thiêu. Hay “thủ” chỉ vị thủ đồn canh gác dọc theo đường sông, tên là Đức nên cư dân gọi là…Thủ Đức. Cụ rị mọ nem chua Thủ Đức ăn với bún ở chợ bán bún gần đấy nên được gọi là chợ…Búng.
Cái “tủ mỏ” hết lên đèo Ngoạn Mục (Phan Rang). Con độc mã khọm thở như bò thở…bò qua đèo Cả (Khánh Hoà). Dọc theo ven biển, ngộ chữ tôi góp nhóp với cụ rằng người trong nước khi rày thẻo câu chặt chữ với địa danh như Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên là “Long Châu Hà”. Hay Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình là “Hà Nam Ninh”. Ngước mắt lên dẫy Trường Sơn xa xa…Tôi dẫu mồm: Còn Kontum, Pleiku, Daklak thì khi nào họ gọi là…”Kon Ku Lắc” đây?!.
Đang ngồi…nẫu người, xe mù u tới Bình Định, ngộ chữ tôi đùn chữ với cụ…
Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng đưa lưu dân nghèo khai khẩn vùng đất mới từ đèo Cù Mông đến đèo Cả (Tuy Hòa). Nhà chúa dựng lên huyện Tuy Hòa, dưới huyện có “thuộc“, và “phường“ là làng nghề như phường lụa, phường vải. Nậu là tổ một nhóm nhỏ trong phường, người đứng đầu gọi là đầu Nậu. Những nhóm nhỏ này có “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm, “Nậu rổi” chỉ nhóm người đánh cá, bán cá…qua câu ca dao Tiếc công anh đào ao thả cá – Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu.
Đến năm 1726, “thuộc” và “nậu” bị xóa bỏ. Vì vậy Nậu được biến nghĩa dùng để gọi người, đại danh từ nhân xưng ngôi thứ ba. Phương ngữ Bình Định vì phát âm không phân biệt được dấu nặng, dấu ngã. Bởi vậy, Nậu được phát âm là…Nẫu.
Vun chuyện vậy tới Quảng Ngãi hồi nào không hay, cụ ba điều bốn chuyện…
Người Quảng Ngãi ngoài lớp di dân, một phần là “tội đồ”. Thời Lê, tội đồ lưu ngoại châu đày lên Lạng Sơn, Cao Bằng. Thời Nguyễn, học theo nhà Lê, tù binh chúa Trịnh, đào binh chúa Nguyễn bị đày xuống giải đất tận cùng thời ấy là Quảng Ngãi, Quảng Nam. Trong nhóm “tội đồ”, có một số người chống đối triều đình mang trong người dòng máu…cãi cọ. Bởi thế mới có câu Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co….
Với danh xưng “tôi”, phương ngữ Quảng Ngãi gọi là…“qua”. Với đại danh từ ngôi thứ ba, âm ngữ thêm dấu hỏi như…ông ấy, bà ấy được thay bằng…“ổng”, “bả”. Những “qua”, “ổng”, “bả” từ Quảng Ngãi theo chân người di dân…ngụ cư ở miền Nam.
Vì cụ rềnh ràng với Quảng Ngãi, tôi dàng dênh với 5 Quảng thi đếm lòi mắt chỉ có 4 Quảng: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Còn quảng thứ 5 ở đâu? Bèn mò vào Chữ nghĩa làng văn được cụ Ngộ Không câu thừa chữ thiếu: Từ Quảng Trị, Nguyễn Phúc Nguyên dời vào Quảng Điền. Sau Gia Long đổi tên là Quảng Đức và rời dinh (như kinh đô) vào đây. Vì giống Bến Lức với Bến Lứt. Người Huế đọc là “Quảng Đứt”. Như vậy nhà Nguyễn “đứt” gánh không truyền tử lưu tôn được. Vì vậy qua thời Minh Mạng đổi Quảng Đức thành Thừa Thiên là…thừa mệnh trời.
Chúa Nguyễn Hoàng đưa dân vào Quảng Trị, sau khi an cư lạc nghiệp, chúa Nguyễn Phúc Chu cho di dân từ Quảng Trị, Huế vào Quảng Nam, Quảng Ngãi. Trong lớp di dân này có những người phải chạy trốn vì trả thù của các triều đại mới lên, họ phải đổi họ và chạy vào đây. Ngoài ra, phần nhiều gốc gác họ là lính thú, tội đồ, vì sinh tồn phải đối phó nghịch cảnh trở thành thói quen của người Quảng Nam, Quảng Ngãi hay cãi để thắng chứ không chịu thua. Thế nên dân gian mới có câu Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co…Thừa Thiên ăn hết.
Cụ thêm vào câu thành ngữ trên với “Thừa Thiên ăn hết” để cụ cà rà thêm…
Dân nẫu hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng, ngang ngạnh, tình cảm nhưng hơi thô kệch. Dân nẫu học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của mình. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, thanh cảnh như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng rãi, rỗng bụng như người Nam. Người khác nói về mình, tốt xấu cũng mặc: “Kệ nẫu”. Nẫu là nẫu: “Nẫu dzẫy” (nậu vậy). Thế nên dân nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt thòi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, nẫu sống chết với bạn…
Ngồi không, tôi vặn vẹo rộn cả người từ Bến Tre tới Huế đâu đó 1.035 cây số, ngựa đi khoảng 20 cây số một giờ ấy là chưa tính…ngựa còn ăn cỏ dọc đường. Nó cũng phải nghỉ ngơi như người và phải tắm táp, tắm xong nó…phè ra nữa. Cũng như ông già Ba Tri (khi ấy 70 tuổi) và hai ông bạn khọm mang theo đế Gò Đen, vì lỡ đường nay ghé chỗ này mai ở chỗ kia, gặp bằng hữu nhậu mút chỉ cà tha, không say không dzìa. Vì vậy từ Bến Tre đi bộ tới Huế mất năm, sáu tháng cũng dễ hiểu thôi. Từ ngẫu sự ấy, tôi hấm húi các cụ ta một thời vào kinh ứng thi với bút nghiên thế này đây…
“…Năm Kỷ Sửu (1889) tức năm Thành Thái nguyên niên, khoa thi tiến sĩ được mở tại kinh đô Huế. Làng Hành Thiện có 20 cống sĩ đậu cử nhân các khoa trước dự thí. Trong đó có cụ Nguyễn Như Bổng, 62 tuổi, đậu cử nhân năm 1888. Cụ làm quan tới chức tri huyện nhưng vì làm tri huyện không được phép thi hội, thi đình nên cụ xin cáo quan để ứng thi. Việc đi đứng vô cùng cực nhọc ở dọc đường. Đường đi từ Hành Thiện vào Huế dài khoảng 600 cây số, cụ phải đi đường bộ mất hai tháng có hơn.
Cụ khởi hành từ đầu tháng hai âm lịch để kịp trình giấy tờ cho bộ Lễ 10 ngày trước khi thi. Cụ rất giàu, có ba đầy tớ theo cụ vào Huế, hai người khiêng võng, một người gánh mùng màn quần áo, thuốc thang cùng tiền nong và ít đồ lặt vặt như điếu ống, ấm chén và một túi lớn đựng đầy sách vì khi đi đường nằm đọc trên võng cáng. Cụ còn thuê một trai tráng trong làng khỏe mạnh chỉ mang mã tấu, dao rựa để chặt cây, phạt cỏ chắn lối đi. Anh trai tráng đây mang theo dùi đục, búa, để đẽo thân cây lấy chỗ đặt chân trèo lên để mắc võng ngủ khi đi giữa rừng mà trời đã tối vì sợ ông ba mươi.
Con đường thiên lý tuỳ theo từng khúc, từng đoạn băng qua rừng, sau bốn năm ứng thí, sau bốn mùa mưa cỏ dại mọc che mất dấu vì vậy nhiều khi lạc đường cả đêm ở trong rừng. Đường đi phải qua sông nên rất vất vả. Nhằm sông ở vùng đìu hiu hút gió, không có đò, phà phải đợi thuyền câu đi ngang qua vẫy gọi xin qua sông.
Đường thiên lý ngoài nhỏ hẹp, khập khễnh, khi thì trèo qua dốc qua đèo, khi bị ngắt bởi sông nhưng sợ nhất là phá chắn ngang. Phá là lạch biển, nước chảy từ biển vào như một vịnh biển nhỏ. Gặp mùa bão, vượt qua phá cũng mất cả mười ngày. Đến Quảng Trị vào đầu tháng tư âm lịch cát nóng bỏng. Các cụ vừa đi vừa quăng tay nải về phía trước, chạy nhanh để đặt chân lên cho đỡ bỏng. Đường từ Hà Nội vào Huế có hai trở ngại lớn là Truông Nhà Hồ và Phá Tam Giang…”.
Vào đến Huế, cụ dẫn tôi đi đây đi đó làm như quen thuộc lắm, bởi thế ngộ chữ tôi khảo chữ với cụ tên Huế. Cụ héo queo cái tên có một chữ “Huế” không thôi mà làm rối trí và tốn nhiều giấy mực cho các nhà biên khảo không phải là ít…
Chữ Huế từ chữ Hóa của Thuận Hóa, vì kỵ húy ông Nguyễn Nạp Hóa, con ông tổ Nguyễn Bặc nên đọc tránh đi là Huế. Năm 1805, Gia Long khởi sự xây dựng kinh đô ở Phú Xuân và hoàn tất năm1818. Kinh đô với tam cung lục điện theo kiểu Tàu. Tường thành theo kiểu thành lũy Vauban của Tây với lỗ súng thần công, pháo đài.
Ngồi ở bậc tam cấpcủa cửa Tử cấm thành, cụ kỳ cổ Gia Long dựng cửa quay đầu về phía nam theo kinh dịch: “Thánh nhân nam diện nhi thánh thiên hạ” là vua quay đầu về phía nam để cai trị thiên hạ. Cầm xị đế, mồi lửa điếu thuốc rê, cụ Nam kỳ rặt với hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, hôm nay qua hổng nói qua qua mà lại qua…
– Qua nói em nghe…qua chịu đèn em…qua chuyện ông thầy đồ…qua phá.
Quay đầu về phía nam, thở ra khói, cụ thở ra…
Năm 1600, Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, bắt Mạc Hậu Hợp treo sống 3 ngày mới đem xử trảm. Dòng họ Mạc sợ hãi phải chạy trốn để khỏi bị trừ khử, phải đổi họ bằng cách “khử túc bất khử thủ” là lấy họ khác ghi thêm “bộ thảo” trên đầu để dánh dấu nhận ra nhau như họ Bùi, Hoàng, Phan, Vũ…Phụ thêm đổi theo họ mẹ, đến nay họ Mạc có hơn 200 hệ, chi, phái như họ Cao, Đào, Hồ, Lều, Phúc, Thái…
Với chữ “Thái”. Ngộ chữ tôi lỳ lịt những chữ là chữ qua bài viết ở trên khi vào chuyện với tựa đề Chuyện đời người đi mở cõi. “…Chuyện về dòng họ Thái vượt biển bằng thuyền đi về phương nam (…) tới Bến Tre lập làng sinh sống. Làng của dòng họ Thái lập ra tên Trại Già nay là Ba Tri…”
Nhấp một ngụm đế Gò Đen, cụ nước chẩy qua cầu…Bến Lức:
– Chi Thái của Mạc Phúc Nguyên lưu lạc tới Nghệ An rồi Quảng Ngãi.
Nghe vậy, tôi nhắc lại chuyện cụ kể: “…ông Thái Hữu Kiểm (Ông già Ba Tri) là cháu nội ông Thái Hữu Xưa, gốc ở Quảng Ngãi, sinh cơ lập nghiệp ở Ba Tri …”.
Làm như không nghe, cụ lại mửng cũ “qua nói em nghe” và tôi nghe ra:
– Qua là…ông già Ba Tri đây.
Thạch trúc gia trang
Bính Thân 2016
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(đúc kết 2020, 2025)
Nguồn: Hồ Đình Vũ, Nguyễn Chu Hậu, Phạm Huy Lê, Đoàn Xuân Thu,
Võ Hương An, Bùi Duy Tâm, Cao Tự Thanh, Huỳnh Văn Nghệ,
Lê Duy Đoàn, Trần Trọng Kim, Trần Lý Lê, Phan Khoang, Lê Văn Đức,
Trần Gia Phụng, Lê Ngọc Trụ, Ngọc Phụng, Thái Văn Kiểm, Bùi Đức Tịnh
