Ảnh (Nguồn: https://science2vn.wordpress.com/)
Ngô Thì Nhậm
Vì họ Ngô tên Thì Nhậm do Tự Đức có tên Hồng Nhậm, khi làm vua lấy thêm tên nữa là Thì nên chữ Thì và Nhậm đều phạm húy. Thời Tự Đức phải gọi chệch đi là Thời Nhiệm.
Vậy dưới thời Gia Long chưa có tên Thời Nhiệm.
*
Trần Thủ Độ họ Bùi
Trần Thủ Độ gốc họ Bùi, vì có chuyện bất hòa trong gia tộc nên đổi qua họ Trần. Vì không muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình. Trần Thủ Độ chiết tự từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là… ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ Bùi (裴). Thế là Trần Thủ Độ có được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi. Vì dựa vào…”chữ y”.
(nguồn: Phạm Lưu Vũ & tổng hợp)
***
Hay & đúng nhất
Họ Trần, họ Bùi
Đời Trần có một số người họ Trần thuộc dòng Trần Thủ Độ vì hiềm khích trong dòng họ nên đổi qua họ Bùi, vì không muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình.
Các cụ họ Trần thời ấy bèn đi từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là… ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo thì là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ Bùi (裴). Thế là được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi.
Thật là một cách cấu tạo họ độc đáo.
***
Họ Trần, họ Bùi
Thời Lê sơ, vì tránh tên bà mẹ đẻ ra Lê Thái Tông là Phạm Thị Trần mà bắt những người họ Trần phải đổi sang họ Trình…
Việc đổi họ cổ kim còn vô vàn lý do. Nhà thờ họ Bùi ở một làng nọ thờ ông Tổ là… Trần Thủ Độ. Vị Thái sư danh tiếng với câu nói bất hủ trước họa giặc Nguyên tám thế kỉ về trước: “đầu thần còn chưa rơi xuống đất – xin bệ hạ đừng lo”.
Không phải vì “thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà họ Bùi làng ấy tôn thờ ông đâu. Ông chính là ông Tổ của dòng họ Bùi. Nhưng Trần Thủ Độ họ Trần. Cớ sao lại là ông Tổ của họ Bùi?
Người viết (Phạm Lưu Vũ) đem thắc mắc ấy hỏi một cụ cao tuổi họ Bùi. Té ra họ Bùi làng ấy vốn gốc từ họ Trần thật. Vào thời xa xưa, trong họ sinh chuyện bất hoà. Một nhánh của họ Trần bèn tách ra lập họ riêng, song vẫn không muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình. Các cụ thời ấy bèn đi từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là… ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo thì là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ Bùi (裴). Thế là được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi. Thật là một cách cấu tạo họ độc đáo.
(nguồn: Phạm Lưu Vũ & tổng hợp)
*
Người viết bèn đem điều thắc mắc ấy hỏi một cụ cao tuổi họ Bùi. Té ra họ Bùi làng ấy vốn gốc từ họ Trần thật. Vào thời xa xưa, trong họ sinh chuyện bất hoà. Một nhánh của họ Trần bèn tách ra lập họ riêng, song vẫn không muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình. Các cụ thời ấy bèn đi từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là… ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo thì là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ Bùi (裴). Thế là được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi. Thật là một cách cấu tạo họ độc đáo. (Phạm Lưu Vũ)
***
Họ Mạc đổi họ
Vai trò của triều Mạc trong giai đoạn trị vì đã được các nhà sử học nhìn nhận lại. Mới đây đã có cuộc hội thảo về nhà Mạc ở Hải Dương (quê gốc họ Mạc) thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia. Điều đáng nói là do biến cố lịch sử kinh hoàng mà con cháu họ Mạc đã phải đổi họ để tồn tại. Biến cố ấy chính là cuộc thảm sát khủng khiếp, khiến họ Mạc tan đàn xẻ nghé suốt mấy trăm năm và chờ đợi một cuộc trùng phùng.
Tài liệu vương triều nhà Mạc cho biết khi nhà Mạc suy vong, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long, phát động chiến dịch tàn sát thảm khốc con cháu dòng họ vừa sa cơ thất thế.
Vua Mạc Mục Tông (tức Mạc Hậu Hợp) bị truy đuổi gắt gao phải xuống tóc giả làm nhà sư trốn trong chùa, nhưng rồi cũng phải ra hàng. Trịnh Tùng đã cho treo sống ba ngày rồi mới xử trảm, lấy đinh đóng vào hai mắt, sau đó đem thủ cấp về dâng nộp vua Lê, khiến ai nấy đều kinh hãi.
Trong một ngày, hơn 60 người họ Mạc bị thảm sát, thây phơi đầy đồng. Nhiều thân vương chịu không nổi không khí khủng bố quá nặng nề đã tự sát hoặc dấy binh tạo phản.
Tình cảnh họ Mạc lúc ấy thật vô cùng bi đát, tưởng không tìm được lối thoát. Họ Mạc không chỉ bị “tru di tam tộc” mà bị truy sát đến cửu tộc. Họ Mạc buộc lòng ly tán khắp nơi, lên Cao Bằng, Thái Nguyên, vào tận Quảng Nam, Quảng Ngãi và phải thay tên đổi họ mới mong sống được. Nhưng chúa Trịnh vẫn không buông tha, cuộc truy sát trả thù vẫn không hề chấm dứt. Làng Cổ Trai, Hải Phòng của họ Mạc gần như bị san phẳng. Đây là nơi phát tích vương triều nhà Mạc, kéo dài 65 năm của thế kỷ 16.
“Bỏ chân không bỏ đầu”
Nhưng đổi như thế nào khi con cháu họ Mạc đã phiêu tán khắp nơi? Đổi họ nhưng phải làm sao giữ gìn gốc tích để đời sau còn biết cội nguồn tìm về. Họ Mạc đã tìm thấy cách đổi họ dẫu có qua hàng trăm năm vẫn nhận lại được họ gốc của mình.
Cách đổi họ này là : “khử túc bất khử thủ”, nghĩa là: “bỏ chân không bỏ đầu” của Nhị bộ thượng thư Mạc Mậu Giang (xem Phụ bản ở dưới).
Theo đó, họ Mạc đã đổi qua họ khác như Lê, Hoàng, Phạm, Nguyễn, Đoàn… ghi thêm bộ “thảo đầu” trên đầu các chữ Lê, Hoàng (Nam Định), v…v…để làm dấu đó là họ Mạc. Tương tự là họ Hà, Vũ (Thái Bình), Hoa (Hải Phòng), Đào (Bình Định), Thái (Quảng Ngãi với ông Thái Hữu Kiếm, sau cháu nội ông là Thái Hữu Xưa vào Bến Tre là ông Già Ba Tri), Lều, Thạch (Bắc Giang), Bế, Ma (Cao Bằng), v…v…
Họ Mạc còn đổi họ bằng cách giữ chữ Đăng của Mạc Đăng Dung vua Thái tổ của triều Mạc, (theo truyền thuyết Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi), làm chữ lót, hình thành nên các họ như: Lê Đăng, Hoàng Đăng, Bùi Đăng, Phan Đăng, Nguyễn Đăng (Thổ Khối, Bắc Ninh)… đều là họ Mạc.
Ông Mạc Như Thiết, tộc trưởng họ Mạc ở làng Cổ Trai, cho biết truy cứu gia phả các dòng họ đã tìm thấy ít nhất 40 họ gốc là họ Mạc. Hay nó khác đi: một họ thành 40 họ.
***
Xưa kia qua giai thoại cụ An Nam lý học hữu Trình truyền giữa họ Mạc đối đầu với họ Trịnh. Mạc Phúc Nguyên đến hỏi cụ ở khoảnh sân có hòn non bộ, cụ dậy: Cao Bằng tuy thiểu, khả năng sổ thế, ý là Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dung thân được mấy đời.
(Mạc Phúc Nguyên là vua thứ ba trong 5 vương triều nhà Mạc – Vương triều Mạc ở Thăng Long khởi từ 1527 cho đến1592 kết thúc với Mạc Hậu Hợp sau 65 năm. Thời kỳ hậu Thăng Long với Mạc Toàn và Mạc Kính Chỉ, Mạc Kinh Cung, Mạc Kinh Khoan, Mạc Kinh Vũ lập vương triều ở Cao Bằng đến1677 mới dứt, tồn tại them 85 năm. Vậy vương triều Mạc vừa tròn 150 năm)
Nay có câu sấm Trạng Trình về chuyện trùng phùng hội ngộ của họ Mạc, đó là hai câu tiên tri được khắc ở nhà thờ họ Lều tại Thường Tín (Hà Nội): “Tứ bách niên tiền chung phục thủy / Thập tam thế hậu dị nhi đồng”. Nghĩa là: bốn trăm năm trước cùng đồng lòng thờ một tổ, mười ba đời sau tuy khác họ nhưng vẫn chung một cội một nguồn.
Bây giờ thấy đúng vậy, con cháu nhà Mạc về nhận gốc ngày càng đông, có đến 40 họ.
Một kết thúc có hậu sau mấy trăm năm con cháu họ Mạc phải lao đao thay họ đổi tên.
(nguồn tổng hợp)
Phụ bản
Gốc tích câu “khử túc bất khử thủ”
Nhị bộ thượng thư Mạc Mậu Giang phải lánh nạn qua Thanh Hóa, xuống Quỳnh Lưu, tới tận
Nghệ An. Mạc Mậu Giang di trú qua nhiều nơi, mang án truy sát trên vai, đã bị đuổi dài nghìn dặm, từ đất Kinh đến vùng Trại biên viễn Hoan Diễn, mà vẫn chưa yên. Trong tâm trạng để cho hậu duệ trăm năm sau biết được dấu vết, để hậu bối tìm đến nhau. Mạc Mậu Giang tìm ra phương thức “khử túc bất khử thủ”. Ngoài ra về văn tự có một số chữ, dưới bề mặt là các tính từ bình thường mà ẩn dấu các địa danh nơi đó con cháu đang sinh sống tạm ổn định, như Đại Đồng, Yên Lạc (Phúc Thành), Chân Cảm (Kẻ Gám-Yên Thành). Điều quan trọng là con cháu biết quê tổ ở Chí Linh (Hải Dương).
Họ Lý (1009-1225) cũng vậy, khi nhà Trần lên ngôi, người họ Lý phiêu bạt khắp nơi, thay tên đổi họ để tránh bị diệt vong (Trần Thủ Độ đã đào hâm đánh lừa giết cả ngàn người họ Lý ở , vì vậy Lý Long Tường phải phiêu dạt qua Cao Ly). Họ Lý phải thay tên đổi họ trong đó có một số đổi qua họ Phí. Vì họ Phí hiếm và ít ai biết. Lý giải việc đổi sang họ Phí, các cụ họ Lý chiết tự: Chữ “Phí” có bộ “phất” và bộ “bối”. Bộ “phất” còn là một bộ trong chữ “Phật”, ý nói triều Lý lấy Phật giáo làm quốc giáo. Âm “i” trong chữ Phí ngầm hiểu cùng vần với âm “y” trong chữ Lý để nhắc con cháu nhớ đến họ của mình.
Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử
Trần Gia Phụng
1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn
Tháng tư năm nhâm thìn (1232), nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.
Gần cuối năm nhâm thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay. Sau cuộc thanh trừng khủng khiếp này, con cháu nhà Lý không còn dám về Bắc Ninh làm lễ tế hàng năm, và họ thay tên đổi họ sống lẫn khuất trong dân gian để tránh bị tiêu diệt. (2)
Đặc biệt hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Cao Ly.
2. Họ Trần qua họ Trình
Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà nầy tên huý là Phạm Ngọc Trần, vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ “Trần” đều phải đổi chép thành chữ “Trình”.
3. Họ Mạc đổi thành nhiều họ
Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, Trung Hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhau. Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa.
***
