T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 223)

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chữ nghĩa làng văn

Tôi hình dung, hình tượng mỗi câu văn như một cú đấm. Cú đấm nào cũng là đấm thật. Nhanh, gọn, dứt khoát. Và mạnh. Nếu câu văn tạo ra tiếng kêu thì đó phải là những tiếng kêu chan chát chứ không phải là tiếng ầu ơ ví dầu quen thuộc và xưa cũ. Chúng không phải chỉ làm cho bài văn đẹp hơn mà còn mở rộng tầm liên tưởng của người đọc, qua đó, làm cho bài viết trở thành đa nghĩa và đa tầng hơn. Mỗi bài chỉ cần vài ba hình tượng chính.

Ít. Nhưng cần sắc. Và thật ấn tượng.

(Cần có hình tượng mạnh – Nguyễn Hưng Quốc)

Tiếng lóng hiện thực

Chán như con gián

Câu đối

Nhiều khi, gặp vế đối không đối được, phải tìm lối thoát bằng diễu cợt: Nguyễn Hòe đi với bạn vào chơi một chùa, được sư cụ tiếp đãi ân cần, thì mấy ông bạn quý lại quay ra báng bổ nhà chùa.

Sư cụ bực mình ra câu đối:
Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ

Nguyễn Hòe cực chẳng đã phải đối bằng diễu cợt để cứu vãn thể diện chung:
Trên sư dưới vãi, ngảnh lưng trở lại, trên vãi dưới sư.

(Lãng Nhân Phùng Tất Đắc – Chơi chữ 1960)

Johnnie Walker

Johnnie Walker có cả thảy 5 loại rượu đó là:

Johnnie Walker Red Label – tuổi rượu 5 năm.

Johnnie Walker Black Label – 12 năm.
Johnnie Walker Green Label – 15 năm.
Johnnie Walker Gold Label – 18 tuổi.

Johnnie Walker Blue Label – Loại thượng hạng, ông tổ của họ hàng nhà Johnnie. Trên nhãn chai không đề bao nhiêu tuổi nhưng người ta thường tin rằng chúng được ủ từ 50 đến 60 năm.

Cũng có thể hiểu thêm nó như sau: Những ký hiệu X.O, V.O, V.S.O.P chỉ sử dụng đối với các loại rượu mạnh thuộc dòng Brandy, đặc biệt là Cognac, chứ không sử dụng trong rượu mạnh thuộc dòng Whisky. Rượu Whisky tự xác định độ ủ lâu của mình bằng thương hiệu, thí dụ rượu Johnnie Walker (Ông già chống gậy) nhãn đen luôn ngon và đắt hơn cùng loại rượu nhãn đỏ, nhưng thua xa Johnnie Walker nhãn xanh, v.v…

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Nam nói đi nhờ, Bắc la đi hộ.

Bắc gọi cái tộ, Nam nói cái tô.

Nam nói răng hô, Bắc kêu răng vẩu.

Bắc gọi cái tẫu, Nam là ống vố.

Rượu trong văn học (7)

Sang đến thế kỷ 20, Việt Nam ta có một số thi sĩ nổi danh đã coi rượu như một người tình không thể thiếu, trong đó có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
“Trăm năm thơ túi rượu vò.
“Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?

(Còn chơi)

“Công danh sự nghiệp mặc đời
“Bên thời be rượu, bên thời bài thơ.

(Tản Đà xuân sắc, 1953)

(Khuyết danh – Tết nói chuyện rượu)
Tiếng lóng hiện thực

Chuyện nhỏ như con thỏ

Chữ nghĩa làng văn

Một số lần hình như tôi đạt được điều đó. Tôi hài lòng nhất là hình ảnh cuộc hành lạc đau đớn của những người bị bất lực ở cuối bài viết “Sống và viết như những người lưu vong: “Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực.”

(Cần có hình tượng mạnh – Nguyễn Hưng Quốc)

Tiếng lóng hiện thực

Bực như con mực

Chữ nghĩa làng văn

Văn học là nghệ thuật ngôn ngữ, là nơi ngôn ngữ biến thành một nghệ thuật chứ không phải chỉ là một phương tiện truyền thông. Nếu viết là một sự tỏ tình, như một số người đã nói, thì sự tỏ tình ấy, trước hết, phải là sự tỏ tình đối với ngôn ngữ.

Tôi tin là không có một cây bút tài hoa và nghiêm túc nào đến với văn học mà không khởi đầu viết lách với ngôn ngữ. Tôi cũng tin là tất cả những sự thành bại của một người cầm bút đều tuỳ thuộc, trước hết, vào sự thành bại của hắn với tư cách là người sử dụng ngôn ngữ. Cảm xúc dồi dào đến đâu thì cũng mặc, tư tưởng thâm trầm đến đâu thì cũng mặc, kinh nghiệm sống có phong phú đến đâu thì cũng mặc, điều người cầm bút cần trước hết vẫn là sự tài hoa trong cách diễn đạt ngôn ngữ. Có nó, những cảm xúc, tư tưởng và kinh nghiệm kia hiện hữu; không có nó, tất cả đều có nguy cơ bị tan vào hư không.

(Ngôn ngữ và văn hóa – Nguyễn Hưng Quốc)

Chữ và nghĩa

Có chồng phải “ấy” ai ơi

Cớ sao anh lại khơi khơi nằm kề?

Phở Việt (15)

Tóm lại, từ năm 1933, Tự điển khai Trí Tiến Đức đã ghi “Phở” vào hộ tịch , và 10 năm sau, năm 1943 Thạch Lam đưa phở vào văn học. Như thế, phở đã chiếm địa vị rất cao trong xã hội, và uy tín phổ biến từ bình dân cho đến giới trưởng giả!

Thật vậy, vương quốc Phở đã bành trướng mãnh liệt ở Bắc Kỳ trước 1945. Vũ Bằng viết:

Trước kia, còn thái bình, ta đã từng thấy có buổi sáng, hàng trăm người chen chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá một thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha hay xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai bát phở mới yên tâm.

Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món phở giò (lấy thịt bò quận lại như cái dăm bông rồi thái mỏng từng khoanh nhỏ điểm vào với thịt). Phở Nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; phở Đông Mỹ ở phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước dùng hơi hôi; phở Mũ Đỏ ở đằng sau miếu chợ Hôm vô thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.(10)

(10) Vũ Bằng. Miếng Ngon Hà Nội. Nam Chi Tùng Thư, Saigon,1960. Phở

Ngộ

Ngộ: dốt nát mê muội

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Cải táng 2

Có lý luận cho rằng, âm dương cách biệt nên phải kiêng không để mặt trời trực tiếp dọi vào. Nhưng theo thực tế, có nhiều trường hợp, gặp đất dưỡng thi, hoặc ba điều tường thuỵ (tức mộ kết phát) không nên cải táng, phải lấp lại ngay. Trong trường hợp thi thể sau nhiều năm vẫn còn nguyên vẹn, nếu để ánh nắng mặt trời trực tiếp dọi vào thì rữa ra ngay và teo lại. Vì vậy, để phòng xa nên kiêng ánh mặt trời, lâu ngày trở thành phong tục chung.

Nguyên nhân nào đã làm cho xác và đồ tùng táng không bị tiêu huỷ? Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khảo cổ, nhân chủng học và y học hiện đại đã đi đến kết luận là, có hai nguyên nhân cơ bản:

Một là, mộ được chôn cất trong môi trường kín tuyệt đối. Không có hiên tượng trao đổi bên trong và bên ngoài. Quan, quách (hai lớp) đã đóng vai trò chủ đạo trong yêu cầu kỹ thuật này. Ngoài ra, còn cần phải hạn chế tới mức tối đa không gian trống trong lòng mộ.

Hai là, dầu thơm cũng là một yếu tố quyết định. Dầu thơm đã làm sạch vi khuẩn, dầu trộn với hợp chất, đổ vào lòng quan, quan tài thơm… đã ngăn không cho vi khuẩn, kể cả các vi khuẩn yếm khí tiếp tục hoạt động huỷ hoại xác.

Ngoài ra các phương pháp chống ẩm bằng chè, quần áo, tẩm liệm, gối bông cũng đã góp thêm mặt yếu tố gìn giữ xác. Những kết quả khoa học đào tìm được và các giám định khoa học vừa được trình bày cho thấy: Mộ xác ướp Việt Nam không có gì là bí ẩn cả. Mộ xác ướp, một di sản văn hoá cần được gìn giữ.

Giai thoại làng văn xóm chữ

Chữ nghĩa làng văn xóm chữ (6)

Hoàng Cầm cho biết:

“…Những bài thơ như vậy thường là không theo một ý nghĩ nào định trước. Tác giả như một cậu học trò viết chính tả, lúc đầu là có tiếng đọc rành rọt bên tai, sau là viết theo tiếng đọc âm thầm từ trong tâm can mình. Ở những trường hợp ấy, tôi không hề cấu tứ, nghĩ ngợi gì về câu, chữ, không theo một luật nào của thi pháp về thanh điệu, ngữ điệu gì gì hết. Tôi chỉ tuân theo nhịp rung động của toàn thân, cả tâm hồn và thể chất, khí chất.

Đặc biệt, riêng có bài thơ Lá diêu bông, duy nhất một bài này là những lời văng vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét 1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 oát, bên cạnh người vợ đang ngủ ngon và các con những giường bên đang ngủ say (…).

Giọng nữ vẫn đọc, không vội vàng mà cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im hẳn, lòng tôi nhẹ bẫng, một lát sau tôi ngủ thiếp đi. Sớm hôm sau nhìn lại thì có chỗ rõ, đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ nọ xoá mất chữ khác. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ, tôi mới tách được ra theo thứ tự đúng như những lời người nữ kỳ diệu nào đó đã đọc cho tôi viết nửa đêm qua.

Bài Lá diêu bông ra đời như vậy, nói có người không tin, nhưng tôi nghĩ bây giờ khoa tâm thần học, vô thức luận, tâm linh học có thể lý giải được hiện tượng đó một cách rất khoa học. Vậy nên, cái lá diêu bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc diêu bông, tôi chép diêu bông, thế thôi…”.

(Lại Nguyên Ân -TríchHoàng Cầm tác phẩm – Thơ)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Trai tơ mà lấy nạ dòng

Còn thua mắm thối chấm lòng lợn thiu

(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao, thành ngữ)

Hát cô đầu (4)

Trong một tỉnh nhỏ nào đó ở miền Bắc Việt Nam  một đêm cách đêm nay một trăm ba mươi, một trăm bốn mươi năm, người lãng du Dương Vân Trì đi hát cô đầu. Cô đào hát có chồng là kép đàn, theo đúng quy luật đã thành văn:
Cô đầu, cô đách
Lấy quan, quan cách,
Lấy khách, khách về Tầu,
Lấy nhà giầu, nhà giầu phải tội tiêu xưng,
Trở về lấy chú tửng tưng
Tốt bền cố hỉ.

Những người đàn bà chơi bời thường không lấy được chồng tử tế, dù có nhiều thiện chí muốn trở về cuộc sống lương thiện, có nhiều cố gắng đến mấy đi nữa, thường họ cũng không gập được hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng. Có lẽ vì họ đã quen với nếp sống ăn chơi sa đọa, chỉ quen hưởng thụ, phần vì thành kiến của xã hội không tin tưởng họ, vì chẳng có mấy người đàn ông dại dột làm cuộc thử nghiệm vợ chồng với họ. Nhưng trong đời ta cũng thấy có nhiều em chơi bời thực sự trở thành vợ hiền khi có người yêu thương họ. Và một khi đã hiền, các em hiền hơn nhiều những em con nhà lành đổ đốn khi có chồng.

(Hình ảnh đàn bà trong thơ xưa – Hoàng Hải Thủy)

Ăn cơm trước kẻng (2)

Ăn cơm trước kẻng, chẳng là vì từ lâu người ta đã dùng cái dùi, cái dùi thường là chiếc đũa cả đảo cơm, hoặc một thanh sắt, hoặc bất cứ vật gì tương tự gần gụi cho tiện, gõ vào cái chảo, cái chung, cái vạc hay cái đỉnh bằng gang để nấu nướng cho phát ra âm thanh gọi là tiếng kẻng ngõ hầu báo hiệu giờ ăn cơm.

 
Ngày xưa một số nhà đông con cháu mà sống với nhau dưới một mái nhà đến ba bốn đời (tam tứ đại đồng đường) có thể tới bốn hoặc năm chục nhân khẩu, hàng ngày đàn ông thì đánh cờ, đọc sách, ngâm thơ. Đàn bà thì nấu nướng may vá thêu thùa, tầm tang dệt cửi; Trẻ con thì đánh bi đánh đáo bắt dế bắn chim. Nên tới giờ ăn phải dùng kẻng làm hiệu lệnh để báo hiệu.   

(Nguồn: Nguyễn Phú Long)

Trèo lên cây bưởi… (5)

Năm 75 quê hương như trong ca dao coi như thôi rồi. May mắn, khá nhiều “lời quê” đã được kịp thời chép xuống. Sau đây là ít lời ngẫu nhiên nhặt ra từ một số “cảo thơm”, với nhan đề tạm đặt. Khi nào có điều kiện, lại xin nhặt nữa.

Theo Nguyễn Xuân Kính, “ở đồng bằng Bắc bộ (…) chưa tìm thấy hoa tầm xuân màu xanh (…) nếu (…) có (…) cũng không (…) phổ biến (…) hoa tầm xuân (thường) màu đào hay trắng nhạt”.

Ở Thanh Hóa có tầm xuân xanh. Nhưng đó là một thứ hoa khác hẳn hoa tầm xuân ngoài Bắc. Tầm xuân Thanh ở Bắc cũng có, nhưng lại mang tên là hoa đậu biếc.

Có hai thứ hoa tầm xuân. Làm sao biết được cái “nụ tầm xuân” trong bài ca dao nổi tiếng nó là tầm xuân Thanh hay tầm xuân Bắc?

Không rõ căn cứ vào đâu mà Nguyễn Xuân Kính bảo bài ca dao ấy “có nhiều khả năng ra đời (…) ở đồng bằng Bắc bộ”. Dựa vào giả thiết đó, ông bàn về nội dung thơ: “… ở đây màu hoa “xanh biếc” hàm nghĩa là nó không có trong thực tế, là ngang trái, là trớ trêu giống như cảnh ngộ chàng trai”.

Sực nhớ: “Trên trời có đám mây xanh, ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng…”. Mây, mây và mây thì có dính líu gì đến việc “anh lấy được nàng” với “mua gạch Bát Tràng” đâu. Ca dao vẫn có lối mở đầu bằng vài câu bâng quơ. Những câu thơ “dạo” ấy, tưởng không cần phải cố buộc chúng thật chặt vào với nội dung bài thơ.

Trèo lên cây bưởi hái hoa, 
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. 
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, 
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay! 
– Ba đồng một mớ trầu cay, 
Sao anh không hỏi những ngày còn không? 
Bây giờ em đã có chồng, 
Như chim vào lồng, như cá cắn câu. 
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ; 
Chim vào lồng, biết thuở nào ra!

(Thu Tứ – Ca dao tuyển 1)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2022