SỎI ĐÁ…GÓP NHẶT (1)

Hầu như ngày ấy, nhà cửa trong xóm không có cảnh “kín cổng cao tường”. Bởi lẽ đơn giản, nhà trong xóm, không có cổng, không có tường rào. “Nhà cây” có mành tre hay mành gỗ cũng chỉ để che nắng. Hiên nhà là nơi đặt mấy chiếc ghế cũ hay “bộ ngựa” để người nhà hay hàng xóm ngồi chơi. Đặc biệt, trước hiên nhà thường có một giá thờ đơn giản nhưng trang trọng, gọi là bàn thờ Ông Thiên. Trên đấy, bao giờ cũng có một bát nhang và một cây đèn hột vịt. Người trong xóm tin các vong hồn phiêu lạc và tà ma nào đấy trông thấy khung cảnh thiêng liêng đó sẽ phải tránh xa.

Ở nhiều nhà, còn để một khạp nước có nắp đậy cẩn thận, kèm theo chiếc gáo dừa để khách đi qua cứ tự nhiên múc uống. – (Phúc Tiến)

***

Căn phố hẹp tối tăm, nhiều gia đình cùng ở, ngăn chia nhau bởi những tấm màn vải nhàu bẩn.

***

Cây sầu đông (Thanh Hoá gọi là cây xoan đâu, xoan đu, thù đu hoặc cây xoan) có đặc điểm rụng lá theo mùa. Đông về, cây xoan cành nhánh khẳng khiu như đã chết khô. Mùa xuân, xoan nẩy lộc, tưng bừng hoa tím từng chùm, trông rất đẹp mắt. Thế nhưng, nếu đốn hạ xuống, chẻ ra thấy lõi gỗ bên trong mầu nâu nâu, bìa gỗ trăng trắng, khô khốc như khúc củi.

Vì vậy mới có câu:

Sầu đông trong héo ngoài tươi, vui là vui gượng, cười là cười khuây 

(Hoàng Tuấn Công)

***

Tôi nhớ hình như Susan Sontag có viết, đâu đó: Đơn vị cơ bản của thơ là chữ, từng chữ; đơn vị cơ bản của văn xuôi là câu, từng câu.

(Những ý nghĩ rời – Nguyễn Hưng Quốc)

***

Theo tôi, tầm vóc của một nhà văn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố đầu tiên nằm ở khả năng kiến tạo câu. Người lười chỉ viết được những câu văn tuy đúng ngữ pháp nhưng câu nào cũng giống câu nào, tất cả đều đầy đặn và bằng phẳng, hàng nối hàng suông đuột, cứ trôi tuột qua mắt người đọc, không để lại một ấn tượng gì cả.

Người chịu khó, ngược lại, không ngừng thay đổi cấu trúc câu để mỗi câu có một cái dáng và một cái thế riêng, như dáng và thế trong cây cảnh; hoặc nếu không, cũng có một cái vẻ riêng, tuy nằm cạnh nhưng lại không lẫn với những câu khác, khiến người đọc, dù không cố tâm, vẫn phải chú ý.

(Những ý nghĩ rời – Nguyễn Hưng Quốc)

***

Mẹ Đốp

“Chiềng làng chiềng chạ / Thượng hạ Tây Đông / Con gái Phú Ông / Tên là Mầu Thị / Tư tình ngoại ý/ mãn nguyệt có thai / Già trẻ gái trai/ ra đình mà ăn khoán…”

Đó là lời rao của Mẹ Đốp về vụ Thị Mầu hoang thai bị làng phạt vạ trong vở Chèo cổ Quan Âm Thị Kính. 

 ***

Sơn Nam đề cập đến cách viết nhập đề và kết thúc của truyện ngắn: “Nhập đề phải gọn và nhanh và kết thúc đúng nơi, đúng lúc trong phạm vi năm ba hàng mà thôi.” Riêng Trùng Dương có một cái nhìn hơi khác. Theo bà, viết truyện ngắn phải có cái duyên dáng trong lối kể chuyện,

***

phía bên nhà tôi là Trần Xuân Soạn, phía bên kia phố Huế con đường đổi tên thành phố Huyền Trân Công Chúa. Lan man đấu láo, những nơi chốn thân quen xưa cũ như rạp xi nê Đại Nam, tiệm kem Cẩm Bình, nhà sách của bà Hồ Dzếnh được nhắc tới với muôn vàn kỷ niệm xưa. (tác giả Song Thao)

***

Ngày đó vỉa hè không được lát gạch, chỉ toàn đất (Hà Nội)

***

quán bán nước. Gọi là quán cho sang thôi chứ nó tuềnh toàng một chiếc bàn mây cũ kỹ, trên đó bày ấm chén, một lọ kẹo nhồi, mấy bao thuốc lá và dưới chân bàn đặt chiếc điếu cày. – cá gỗ dân Nghệ Tĩnh  –  nhà vách đất, lợp giấy dầu  –  ngăn đôi bằng cót ép nên bức bí  –  rượu làng Vân với lạc rang húng lìu, thuốc lá Điện Biên bao bạc

***

Phan Khôi: Đâu thì tôi chưa thấy. Chỉ thấy trong mấy tỉnh Việt Bắc không chỗ nào là không có. Đầu tiên thấy nó rải rác ở tỉnh Phú Thọ, nhiều nhất là ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Nơi gọi nó là cỏ bù xít vì nó có mùi hôi như con bọ xít, nơi gọi là cây cứt lợn, nơi gọi là cây chó đẻ.

***

Tôi biết viết công phu hơn: nói một ý, tả một cảnh, một người, một tâm trạng. Tôi đã biết tự gây khó khăn cho tôi, biết hoài nghi để mài dũa hơn nữa, sửa chữa lần nữa sửa chữa mãi những câu mình đã viết ra. bổ sung cho truyện một số câu hoặc chữ đắt nghĩa hơn. (Tô Hòai)

***

Nực cười cho những ai nghĩ rằng chỉ mình mới là chân lý rồi cứ thế “bắn đại bác” vào quá khứ”, kể cả “bắn” bằng bút như vài bài báo, cuốn sách mới đây tôi được đọc.

(Nguyễn Huệ Chi)

“Nếu anh bắn vào quá khứ bằng khẩu súng lục,

tương lai sẽ bắn lại anh bằng một khẩu đại bác”

Tôi cho rằng cả trong nước lẫn hải ngoại đều đang nhìn về văn hóa cổ truyền của mình, đi tìm căn cước của mình. Tôi nghĩ đi tìm căn cước không phải người Việt ở ngoài mà người Việt trong nước phải coi là trách nhiệm lớn. Đừng để mình là Từ Thức về làng cũ nhưng không còn thấy làng mình nữa. (Nguyễn Huệ Chi)

***

Sau lễ cúng khai tâm mà tôi được ăn nguyên một cái đầu gà cho sáng óc ra, tôi được cha đặt ngồi trên vai, cõng tới trường. Mẹ không dẫn tôi đi, vì mẹ đang cho em bé bú và sợ rằng để đàn bà dẫn đi thì cái học của tôi không được tấn tới lắm.

cầm bút có ngòi lá tre chấm vào hũ mực tím. Cũng có khi thầy bắt quì trên xơ mít vì không thuộc bài!  (Khuất Đẩu)

***

Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Câu thơ sau đây quả đã nói được một cách khá trọn vẹn tâm trạng của Nguyễn Du:

Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân,

Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu.

(Dạ hành)

Dịch nghĩa:

Trên lối cũ, gió lạnh dồn cả vào một người – Đêm tối mờ mịt không biết bây giờ là bao giờ, mãi chẳng thấy sáng.

***

Người viết (Phạm Cao Dương) tình cờ tìm lại được thư của một người bạn thân viết cho từ một trại tị nạn Đông Nam Á. Người bạn đó là nhà giáo kiêm nhà báo Nguyễn Quốc Hùng, bút danh là Thầy Khóa Tư của tờ Diều Hâu của QĐVNCH ở Saigon thời trước năm 1975. Bạn tôi xuất thân từ một gia đình Nho giáo. Anh là con một vị huấn đạo, một học quan trong chế độ xưa nên rất giỏi chữ Hán và chuyên dạy Quốc Văn cho các trường trung học ở Miền Nam với nhiệm sở chính là Trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Nhưng khác với các giáo sư Quốc Văn khác, anh không chỉ chuyên dạy Quốc Văn mà còn viết văn, viết báo, dịch truyện cổ từ chữ Hán sang tiếng Việt như Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng, chưa kể tới Từ Điển Hán Việt…

Chưa hết, trong các lối văn anh viết, bạn tôi rất giỏi về các thể văn cổ như thơ Đường, phú, văn tế, câu đối… mà anh viết một cách trôi chảy, dễ dàng không khác gì các nhà Nho ngày xưa với niêm, luật, đối âm, đối ý… rất chỉnh, khó có ai thời thập niên sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước và sau này có thể làm được.

***

Vậy mà không ngờ mình đang nhảy vào “cấm địa” một thời. Miệt mài nghiên cứu, viết báo viết sách nhưng tác phẩm vẫn nằm trong tủ, không báo nào dùng, sách không ai in, lại còn bị chê là dại. Năm 1965, Mỹ đánh phá miền Bắc. Nguyễn Tuân viết ký chống Mỹ rất hay, anh tưởng ca ngợi Nguyễn Tuân viết ký chống Mỹ là rất “trúng”. Vậy mà lại bị “đánh”. Bài viết Con đường Nguyễn Tuân đi đến Bút ký chống Mỹ năm 1968 bị cho là đề cao một cây bút lắm lệch lạc, và khẳng định Nguyễn Tuân yêu nước ngay từ trước Cách mạng tháng Tám là không đúng. Những chuyện ấy ngày nay nghe đến mà thấy lạ!

(Nguyễn Quang Thân)

***

Chữ nghĩa làng văn

Tôi hỏi, vậy thì “Ba người anh từ chiến trường đông bắc. Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng” là những ai? Lê Đỗ Ngọc cho biết đó là các anh Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên, Lê Đỗ Khang. Chị Lê Đỗ Thị Ninh, vợ anh Hữu Loan, là em kế anh Khang.

(Một lần gặp nhà thơ Hữu Loan – Xuân Đài)

Thời nào cũng có những cây bút thường xuyên cho ra mắt bạn đọc những cuốn dày cồm cộp, lại cũng có những ông cứ lùi mãi, lùi mãi, lùi cho đến khi phải thốt lên rằng: “Lạy thánh mớ bái, “người anh em” chịu, không viết được nữa!”.

Câu ấy là của nhà văn Kim Lân – bậc thầy truyện ngắn một thời.

Lại có anh viết được đôi cái kha khá rồi, được giải này giải nọ, lấy làm thoả mãn ngồi vuốt đến mòn cả đùi, xác cả râu, mãi rồi thành ra thói quen, không viết được nữa.

(Kim Lân)

***

Ngửi mùi sách

       “…Kê Khang (223-262) hay khoe mẽ chứa sách trong bụng, hôm nào trời nắng thì khoe bụng, bảo rằng phơi chữ, hong sách cho khô. Kê Khang nghe truyền miệng về tài ngửi mùi sách đoán hơi văn của ông thầy bói mù nọ. Bèn tìm tới. Ông lôi trong cái bị cói “năng nhặt bị” quyển sách đưa cho thầỵ

       Ông thầy bói dương cặp mắt trắng dã, hít hít mũi, dậy:

       – Sách sự nức mùi son phấn, chắc chắn đây là Hồng Lâu Mộng.

       Kê Khang đưa tiếp quyển khác, ông thầy bói lại khịt khịt mũi:

       – Sách toát toàn mùi sắt thép loảng xoảng của binh khí. Ắt là Tam Quốc Chí.

       Kê Khang đưa tập giấy hoa tiên của mình vừa cảo mực đề văn còn nực màu giấy mực, ông thầy bói mù đưa qua mũi, không cần ngửi, nói không do dự:

       – Đây đúng là kim cổ kỳ thư vì ta nghe thoang thoảng mùi…cóc chết….”

***

Chữ là nghĩa

Vào một cái nhà, nếu chỉ biết lác đác vài tiếng cột, kèo, rui mè thì chưa hiểu biết mấy về cái nhà. Một chữ “chết” có bao nhiều chữ cùng nghĩa: tạ thế, chầu giời, về quê, xuống suối vàng, ngoẻo, tử, héo, tỏi, thẳng cẳng, ngẳng, toi, mất, khuất núi, hy sinh và còn biết bao chữ nữa.

Ông rất chú ý học chữ và chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không hiểu. Làm văn thì phải học chữ. Có cách học và chịu khó thì học được. Một chữ “ăn’, bao nhiêu chữ cùng nghĩa: xơi, đưa cay, đớp, hốc, xực, đả, nhậu…. Chúng ta nên tỉ mỉ để ý cả. Này các thứ khoá: khoá ngang, khoá dọc, khoá tây, khoá sáu tua, khoá đuôi chuột, bạn đã biết thứ khoá nào chưa? Ví dụ: khoá cửa đình ngày trước thì khoá gì? Nếu chưa biết thì nghề viết văn đòi bạn phải biết.

Người viết văn cũng như cái cửa hàng bách hoá. Càng có nhiều mặt hàng càng hay. Rồi thì đọc Kinh Thánh, kinh Phật. Trong sách Phật tả cái tai ông Thích Ca: ông Thích Ca có 32 tướng quý, tai to dày mà nhiều thành quách…còn phép đánh chuông thì: đánh mạnh, tiếng rẳng, đánh khẽ tiếng nghe trầm trệ. Ta đem tiếng tả hình thù cái tai nhiều thành quách dùng dùng ra ngoài cái tai ông Thích Ca cũng rất được. Mà tiếng rẳng, tiếng nghe trầm trệ rõ ràng là tiếng để chỉ tiếng chuông rồi.

(Chữ và tiếng nói – Tô Hòai)

Bởi vậy, không có chữ hay hay chữ dở, chữ thanh hay chữ tục, chữ cũ hay chữ mới: Chỉ có những chữ dùng đắc thế hay không mà thôi và sẽ không còn là những cái xác nằm bẹp dí trên trang sách, như chúng vốn nằm vậy, trong các cuốn từ điển, mà chúng trở thành những sinh vật biết ngọ nguậy hay biết nhảy múa, và nhờ sự hô ứng của những chữ trước và sau đó, khiến người đọc nếu không ngạc nhiên một cách thích thú thì ít nhất cũng chú ý, từ đó, ghi nhớ.

(Kinh nghiệm viết văn – Nguyễn Hưng Quốc)

“Ông thấy chữ Việt ta có chữ “ăn nằm” rất hay, tránh nói thô, không suồng sã. Với “ăn ngủ”, ông hóm hỉnh và thông minh khi tả cảnh mà ông gọi là “ngủ bụi”. Họ là những người từ quê ra Hà Nội làm nghề rửa bát, khiêng bàn, khiêng ghế, bưng bê cho các quán cơm, quán phở. Xong việc cứ xoa “hai đập” nghĩa là ngồi đập chân mấy cái rồi lăn ra ngủ và sáng dậy đưa tay lên xoa mặt, như con mèo giơ chân rửa mặt khan. Hoăc ông dí dỏm, tinh quái: Đêm về, họ ngủ ở mấy quán trọ rẻ tiền ở ngoại ô, “nằm úp thìa”, đầu đàn ông, đàn bà chổng ngược nhau, chân hai bên thò ra mép chiếu (Ngủ bụi);

NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)

Bài Mới Nhất
Search