SỎI ĐÁ…GÓP NHẶT (9)

Tam tự kinh

Lũ ấu học đầu để chỏm Tam tự kinh trong sách Vỡ lòng của học trò xưa được ví von với học trò cầm miếng bánh đúc chạy quanh nhà thầy để học chữ Hán  tiền trước hậu sau, thức biết tri hay, mộc cây căn rễ, dị dễ nan khôn, chỉ ngon cam ngọt

thiên trời địa đất, cử cất tồn còn, tử con tôn cháu, lục sáu tam ba, tiền trước hậu sau

nhân chi sơ: sờ vú mẹ, tính bản thiện: miệng muốn ăn, tam tự kinh: rình cơm nguội

***

***

Ba mớ chữ vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê – thức biết tri hay, mộc cây căn rễ, dị dễ nan khôn, chỉ ngon cam ngọt, v…v.. Trích lục Tam tự kinh trong sách Vỡ lòng của học trò xưa được ví von với học trò, cầm miếng bánh đúc chạy quanh nhà thầy để học chữ Hán.

***

chi, hồ, giả, dã

giã: người (học giả, ký giả)

dã; vậy vậy

***

quốc ngữ không viết hoa

***

Tại sao “hưu”, tức nghỉ, phải cứ là ngồi dựa gốc cây 休? Tại sao “an”, tức an toàn, thì phải cứ là người con gái ở dưới mái hiên hay bị nhốt trong nhà 安? Mang nghĩa cụ thể đến như vậy thì có phải bóp chết sự lung linh rộng mở của từ không?

***

***

– Lối đảo từ, đảo ngữ như vế ra trong cuộc thi do báo Trung Bắc (hai nhà nho ưa chơi chữ là Nguyễn Đỗ Mục và Dương Bá Trạc chủ trương bộ biên tập) khởi xướng:

Vợ cả vợ hai, hai vợ cùng là vợ cả

Vế đối sau đây gọi là trúng cách:

Con nuôi con đẻ, đẻ con há cậy con nuôi.

(chữ nuôi sau cùng được hai nghĩa trạng từ và động từ như vế ra).

***

Cụ Nguyễn Công Trứ ca tụng Tổ Tôm, còn gọi là Tụ Tam

Nhân sinh quý thích chí

Chẳng gì vui hơn cuộc tụ tam

***

Làm trai biết đánh Tổ Tôm

Uống chè Mạn Hảo, đọc nôm Thúy Kiều

***

Chữ là nghĩa

Liên quan đến niên đại, người ta rất hay dùng cụm từ vô nghĩa sau Công nguyên nhất là trong những tài liệu lịch sử, chẳng hạn: cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kéo dài từ năm 40 đến năm 43 sau Công nguyên, nhà Lý rời đô đến Thăng Long năm 1010 sau Công nguyên…

Tôi (người sưu tầm quên ghi chú tên tác giả),nói vô nghĩa là vì đến nay ta vẫn ở trong Công nguyên chứ chưa có bao giờ là sau Công nguyên cả. Công nguyên là kỷ nguyên Thiên Chúa giáo lấy thời điểm Chúa Jêxu ra đời làm mốc khởi đầu. Mốc đó tiếng La-tinh gọi là Anno Domini (AD) tức Năm của Chúa. (Khuyết danh)

Chữ là nghĩa

Trước cái mốc đó thì có thể nói là “trước Công nguyên” (BC) , nhưng từ đó trở đi thì nằm trong Công nguyên và Công nguyên chưa hề chấm dứt nên không thể nói “sau Công nguyên” được. Nếu muốn dùng chữ sau thì phải nói là “sau Thiên Chúa giáng sinh”. (Khuyết danh)

***

Săng : cây, gỗ

(săng, quan tài bằng gỗ)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

***

hồ Tây (hồ không viết hoa) – cộng sản (không viết hoa)

***  

Theo sách Thái Bình vũ ký:: Người nước Thục Phí Văn Vỹ tu thành tiên, thường cưỡi hạc và nghỉ ngơi ở lầu này nên đặt tên là Hòang Hạc Lâu. Theo sách Đồ kinh: xưa Phí Vĩ lên tiên, thường cưỡi hạc và nghỉ ngơi ở lầu này nên đặt tên là Hòang Hạc Lâu.

***

Quán… quán xá

Sự hình thành tên “đền Tú Uyên”

Đền Quán Thánh do vua chúa tạo dựng, trùng tu nên tên chữ được hình thành trước. Từ đó dân gian có thể sáng tạo tên nôm qua quá trình chuyển ngữ. Cụ thể như sau : Quá trình đảo trật tự ta có tên “Quán Trấn Vũ”. Xu hướng bổ sung thành “Quán thánh Trấn Vũ”, rút gọn thành “Quán Thánh” với “quán” trong tiếng Hoa đã được thay thế bằng “đền” là từ thuần Việt.

Để chứng minh cho việc dân gian đã từ chối hấp thu chữ  “quán” có thể lấy đền Tú Uyên làm ví dụ. Đền Tú Uyên ở số 14 phố Cát Linh – Hà Nội còn có tên là đền Bích Câu là nơi thờ Trần Tú Uyên và tiên Giáng Kiều. Nghi môn của đền có chữ Bích Câu Đạo Quán trong đó chữ quán quán xá.

Phân biệt hai chữ (đạo quán nơi thờ cúng sinh đạo giáo) và (quán xánhà trọ) được sử dụng ở đền Trân Vũ và đền Tú Uyên.

(David Phùng – Sự hình thành tên Nôm một số kiến trúc tôn giáo)

***


Olivier de Puymanel và Le Brun, hai người lính Pháp vô học đã “xây” thành Gia Định

***

chữ M.O.I (Main d’Œuvre Indochinoise), chỉ mới có từ thời thực dân, với ý khinh bỉ, miệt thị người thợ Đông Dương sang làm việc cho Pháp. (Thụy Khuê)

***

hậu hiện đại, tức là lối kể từng mảnh, lắp ghép. Khái niệm hậu hiện đại này cũng là một sự lắp ghép: người ta lấy chữ hậu hiện đại của Jean-François Lyotard, trong cuốn La condition postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại hay Thân phận hậu hiện đại); là một cuốn sách triết học bàn về thân phận của tri thức(savoir) thời nay.

***

ba lối viết: viết từng mảng của James Joyce bị Hậu hiện đại trưng dụng, lối viết trinh thám của Kafka và lối viết tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet (không nhân vật, không cốt truyện, không nơi chốn), đã đi sâu vào văn chương,

***

Bút danh “Ngộ Không” dựa vào “Vạn sự giai không” là mọi thứ trên đời đều là tạm bợ, hư ảo không có thật. “Vạn sự giai không” thể hiện nhân sinh quan, vũ trụ quan căn bản nhất của tư tưởng đạo Phật: anh không có, tôi cũng không có; nhan sắc cũng không, tình yêu cũng không; cả thế giới này là một chữ “Không” to tướng. (Đào Trinh Nhất)

Kinh Bát nhã ba la mật chép: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Sắc chính là không, không chính là sắc)

***

Nhất kiến như cựu thức

Kiến: thấy – Cựu: xưa – Thức: biết

Thành ngữ Hán Việt đây hiểu là cơ may lần đầu gặp người

như “Bá Nha Tử Kỳ”, làm như đã biết nhau từ lâu lắm rồi.

(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)

***  

nõ ; bộ phận sinh dục của phái nữ

(cái nõ nường)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

***

Một cái xây chừng (cà phê đen nhỏ) hay một cái xây bạc xỉu (cà phê sữa nhỏ)

Bạc sỉu: tiếng Hoa 白小, bạch và tiểu, âm Tầu là bạc và sỉu có nghĩa “trắng và nhỏ”, xuất phát từ vìệc uống cà phê của người Việt gốc Quảng Đông, như cà phê sữa, nhưng phần sữa nhiều hơn, cà phê ít hơn.

Cái siêu đất. một lô “phin” pha cà phê làm bằng vải mỏng, người ta quen gọi là bí tất hay vớ (dzớ). pha bằng vợt, rót vào cái siêu đất, rồi lại rót cà phê từ cái siêu đất vào một cái ly. Thế là đã có một ly xây chừng ngon…đáo để.

***

Giáp Cốt văn (Quy lịch) là loại văn tự khắc chạm trên mai rùa hay xương động vật.

Chữ trên mai rùa gọi là Giáp văn.

Còn chữ trên xương những động vật khác gọi là Cốt văn.

Chữ viết khắc chạm trên đồng và kim loại gọi là kim văn.

***

Ma trơi hay ma chơi

Tiếng Thanh Hóa gọi là “ma trơi”, Bắc bộ gọi là “ma chơi”. Chưa rõ biến âm hay xuất xứ của ngôn từ ám chỉ loại ma đó “chơi vơi”, “chơi đùa với trần thế” hay “chêu chọc cho xấu hổ”.

Nguyễn Du trong ” Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh” câu:

Lập loè ngọn lửa ma chơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Nguyễn Văn Thành trong “Văn tế trận vong tướng sĩ” có câu:

Hồn chiến sĩ biết đâu miền minh mạc,

Mịt mù gió lốc thổi dấu tha hương.

Mặt chinh nhân khôn vẽ nét gian nan,

Lập loè lửa chơi soi chừng cổ độ.

Nhiều người đã nhìn thấy ma trơi và nghe nhiều người kể chuyện ma trơi đuổi. Đó là ngọn lửa lập loè yếu nhạt, bập bùng lan toả theo chiều gió, chốc lại biến mất rồi từ chỗ cũ, chốc chốc lại lập loè ngọn lửa xanh nhạt, loáng thoáng bay lên. Theo các cụ già giải thích thì đó là oan hồn của những người chết trận, của những nắm xương vô thừa nhận không người chôn cất, vất vưởng trên bãi chiến trường, trong bãi tha ma, hoặc trên cánh đồng không mông quạnh.

Khoa học đã giải thích, chứng minh hiện tượng đó là do chất lân tinh (P) từ trong xương cốt người và xúc vật toả ra gặp ôxy trong khí trời bốc cháy thành ngọn lửa xanh nhạt, ban ngày cũng có nhưng không nhìn thấy. Tuy được khoa học giải thích rõ không phải là ma, nhưng canh khuya thanh vắng, đi một mình giữa chốn hoang vu mà bị ma chơi đuổi thì cũng thần hồn nát thần tính, có người đâm hoảng loạn mà ốm, phải cúng bái mãi mới lành, có lẽ khỏi bệnh là do tác động tâm lý.

Sở dĩ có hiện tượng tưởng là ma trơi đuổi là vì khi ta chạy đã tạo nên một luồng không khí cuốn hút ngọn lửa ấy vờn theo.

***

Chữ và nghĩa

Kỷ nguyên, thời đại, thời kỳ, giai đoạn…

Nên dùng chữ kỷ nguyên cho một thời gian dài trong lịch sử nhân loại, đánh dấu bằng các biến cố quan trọng có ảnh hưởng lâu dài; thí dụ kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên tin học.

Thời đại nên dành cho các thời gian lịch sử lâu dài hơn, thí dụ thời đại đồ đá, thời đại đồ sắt.

Khi viết về lịch sử một dân tộc nên dùng những chữ thời kỳ, chẳng hạn thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh.

Những khoảng thời gian ngắn hơn dùng những từ như giai đoạn, hoặc thời. Như thời VNCH, thời chiến tranh Nam Bắc.

(Nguồn: Ngô Nhân Dụng)

***

Cái váy còn gọi là xống nên mới có chuyện

cô nàng diễu chàng trai cắp ô đi ăn cắp váy :

Hôm qua em mất xống (váy) thâm, 

Hôm nay em gặp người cầm ô đen.

váy đụp : váy vá

***

nét chấm là lối chữ triện, móc là lối chữ lệ, phẩy móc là lối chữ chân, nếu gặp phải chữ rậm nét, thì lại đá thảo, để viết cho thông hoạt, gọi là lối viết chữ câu đối.

***

những nét phẩy, móc, sổ, mác

nét bút lẫn cả lối chân, lối khải; chữ cổ đời ấy

***

Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.

***

Sầu riêng – Do chữ Mã lai Dou-rion.

“rion” có thể đọc ra là “riêng”.

***

Chữ Việt gốc Tàu

Chữ Việt gốc Tàu là một đặc thù của văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, là những chữ, mà ta dùng thẳng từ của người Tầu và dùng âm của mẫu tự quốc ngữ viết lại.

Như:

Phở nguồn gốc từ chữ “phảnh” của tiếng Quảng Đông.

Nạm là miếng thịt ở bụng con bò có một lớp mỡ đính sát vào miếng nạm.

Ngầu mà ta đọc là gầu. Hán Việt là “ngầu đục”, đúng nghĩa là…miếng thịt bò.

***

Hủ tíu giống như bánh phở của ta. Triều Châu đọc là “quẻ tíu”. Hán Việt là “qua điêu”.

là bột lúa mì pha trứng, mầu vàng, sợi nhỏ. Đúng ra là “mìn”, ta đọc trại đi là…mì.

Tiệm xấmtiệm ăn sáng. Hán Việt là điểm tâm.

***

Lẩu, Quảng Đông đọc là “lò lửa”. Ta đọc là…”lẩ-u” là dụng cụ nấu nướng gồm cái lò và  nồi nước. Vì nồi nấu có nước bao quanh một cái ống nên còn được gọi là…cù lao.

Lẩu còn gọi là “tả pín lù”. Hán Việt là “đả biên lư” nghĩa là “đánh bên lò”.

Từ “tả pín lù” của Tầu ta có… “thịt bò nhúng dấm”.

(Lê Ngọc Trụ – Tầm nguyên tự điển Việt Nam)

***

Tào là thuyền buôn mũi vuông như cái máng cho ngựa ăn.

Ta đọc là tàu.

***

Sơn đen: ô Tào

Ta đọc ngược lại là Tàu ô

***

Chữ nghĩa làng văn ba miền

Người Việt ở Bắc thì ưa viết văn, người Trung thì làm thơ, người Nam thì viết báo.

Người Bắc viết văn mang cái bệnh đểu, “sâu sắc”, “ẩn dụ”, bóng gió, nói cay, nói đắng, lấy cái gia vị của gừng, của ớt làm cái ngon miệng. Vì thức ăn chả có gì, như một chén cơm sống trộn tỏi với nghệ. Vậy mà người đọc cứ ào lên khen hay.

Dân Trung mang cái thi ca vớ vẩn biến thành cuộc đời với ý chí đi làm cách mạng hay đi tu. Các nhà tu, chính trị gia chỉ là các nhà thơ thất chí với cuộc đời. Xứ càng khổ càng nhiều thi sĩ hiện sinh.

Bây giờ nhìn đâu cũng thấy “văn học”, kể cả những gì rất là “vô văn học”. Trở lại để trích dẫn Nietzsche: “Con gà mà đẻ nhiều thì trứng sẽ nhỏ đi”. Cái dở của văn chương ta là nhiều chữ quá mà chẳng nói lên được điều gì!.

***

Trong Kiều có câu “Giấc hương quan luống lẫn mơ canh dài”.

Hương quan – Hương: làng. Quan: cổng.

***

Chùa nhỏ nơi hẻo lánh chân núi hay cửa rừng thường gọi là Am. Ngừơi ta hay xây Am ở bên cạnh nghĩa địa để thờ vong hồn, gọi là chùa Âm hồn hay Am chúng sinh. 

***  

Viết hoa (2)

Ngay trong khái niệm danh từ riêng như tên của một người, cũng có hai trường phái đối nghịch:


Cách thứ nhất: Phải viết hoa tất cả chữ trong tên người: Nguyễn Văn Tốt hay Lê Thị Mùi


Cách thứ hai: Chỉ viết hoa họ và tên, vì hai chữ đệm trong tên “văn“ và “thị“ dùng để xác định giới tính nam hay nữ của người mang tên ấy, không thuộc về “họ“ mà cũng không thuộc về “tên“, cho nên không cần phải viết hoa: Trần thị Toét hay Lê văn Bướng.


Lý luận thứ hai này, riêng tôi thấy đúng hơn, vì tôi hay phải cãi lại với các cơ quan hành chánh nước ngoài rằng chữ “thị“ không phải tên tôi (prénom, Vorname) mà cũng không phải là họ của tôi (nom de famille, Familienname). Cách đặt tên có “văn“ và “thị“ là cách đặt tên theo lối dân giã, thông thường. Gia đình có văn hóa cao hơn thì đặt tên con hoành tráng hơn.

Thí dụ “Hoàng Mạnh Hùng Dũng, v…v…“.

***  

Chữ nghĩa thời xưa

Chiếu = lời vua ban cho thần dân.

 Biểu = bài văn của thần dân dâng lên vua để bầy tỏ điều gì. 

Sớ = tờ điều trần dâng lên vua.

***

Dật sự: hoang đường (không phải là “dật sử”.

***

Tiếng Việt, dễ mà khó

Chữ “yếu ớt” chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ “yếu nớt“. “Ớt” thì không có nghĩa gì cả. Trong khi “nớt” có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ “non nớt”.

“Yếu nớt”, do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt.

(Nguyễn Hưng Quốc – e-cadao.com

NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)

Bài Mới Nhất
Search