Tiếng Việt tiếng Tầu
Vì mê tin, người Việt đặt tên con xấu để khỏi bị ông giời “bắt” đi như: thằng Cu, cái Hĩm, thằng Chuột, thằng Tèo.
Người Tầu cũng vậy, họ gọi tên với: thằng Heo (Tưa Kía), thằng Cứt Heo (Tưa Sáng), thằng Cẩu.
Nhưng họ không bao giờ đặt tên là…“Cu”.
(Quách Xuân Sơn – Người Hoa, đồng âm và đầu óc dị đoan)
Tiếng Việt cổ
Xưa tiếng chỉ “cái bẫy chim” mà theo tiếng Việt cổ là từ “krập” chuyển biến theo thời gian thành từ “sập” (chim) hay “rập” (chim) trong tiếng Việt ngày nay.
Giai thoại làng văn
Thập niên 30 báo ra từng kỳ có “Nam Phong”, “Hữu Thanh”, toàn bàn về vấn đề xã hội và văn hóa. Người viết báo, nói thực ra là làm văn chớ không phải làm báo.
Một cái đoản thiên ngắn bao giờ cũng bắt đầu bằng một đoạn tả cảnh biền ngẫu, kiểu “Tuyết Hồng lệ sử”. Còn xã thuyết thì bàn về chữ “tín”, chữ “nghĩa”, và thường là phải bắt đầu bằng câu “Phàm người ta ở trên đời”. Vì thế, người viết báo trước hết phải tập viết văn cho nhịp nhàng, thánh thót.
Vậy là tôi học thuộc lòng văn của người khác rồi bắt chước tứ văn và cả ý văn của họ để viết bài. Bây giờ không còn nhớ những bài văn ấy ra sao, chỉ mang máng là có làm một tập thơ đủ các loại: lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn cổ phong, yết hậu…và bài vở theo kiểu “Bội phu quả báo” với…“Phàm người ta ở trên đời”….
(Vũ Bằng – Bốn mươi năm nói láo)
Ẩn dụ
Ẩn dụ là một hình thái được sử dụng thường xuyên trong văn học, một bài viết. Thay vì mô tả một sự vật, sự kiện một cách thông thường, lối ẩn dụ lấy hình ảnh của sự vật, sự kiện có từ vựng, cảm xúc dùng để liên tưởng đến những ý tứ khác..
Khái niệm ẩn dụ bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp là “sự chuyển”, hoặc có nghĩa là “suy ra” hoặc “tạo ra”.
(nguồn Wikipedia)
Bản Kiều cổ nhất – 1852
Gần 100 pho sách cổ về gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền ở huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) vừa được phát hiện. Điều thú vị nhất trong 100 pho sách này là lần đầu tiên độc giả của Truyện Kiều được nhìn thấy dòng chữ viết tay của học giả Lê Thước về giờ, ngày, năm sinh, nơi sinh của đại thi hào Nguyễn Du và một bản Kiều cổ nhất.
Bộ sưu tập sách cổ
Khởi thảo cuốn bản thảo gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền do cụ Nguyễn Nghiễm viết. Sau đó cụ nghè tiến sĩ Nguyễn Mai tục biên thành bản gốc. Đây là cuốn gia phả gốc, rất chi tiết về dòng họ Nguyễn Tiên Điền lần đầu tiên được phát hiện. Tiếp theo là cuốn gia phả lược trích tên, chức vụ phần đại tôn của dòng họ, từ đời thứ nhất đến đời thứ mười. Cuốn này do con trai và con rể là Nguyễn Hiệu và Lê Văn Diễn viết vào đời Minh Mạng thứ 9 năm 1828. Cũng cuốn gia phả gốc, học giả Lê Thước (1891-1976) viết thêm vào phần cuối về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Du. Có thể đọc thấy những dòng chữ:
“Cụ Nguyễn Du sinh giờ Dần ngày 23-11 năm Ất Dậu (năm 1765 âm lịch – NV), hiệu Cảnh Hưng thứ 26, triều vua Hiến Tôn, nhà Lê (tức ngày 3-1-1766 dương lịch). Nơi sinh, ở biệt thự Trung cần công Nguyễn Nghiễm, tại phường Bích Câu, thành Thăng Long”.
Kế là Truyện Kiều chép tay (do mất bìa và một số trang nên chưa rõ năm ra đời) và cuốn Kim Vân Kiều lục, gồm 64 hồi (biến thể Truyện Kiều dùng cho Hát trò Kiều) được chép tay năm 1852. Đây là bản Kiều được xem là cổ nhất hiện nay sau bản Kim Vân Kiều tân truyện của nhà tàng bản (khắc in) Liễu Văn Đường, in năm Tự Đức thứ 19 (1866) được phát hiện năm 2004 trong một gia đình ở huyện Thanh Chương (Nghệ An).
Bản Kiều chưa rõ năm ra đời
Cuốn Hát trò Kiều (ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân), cuốn sách này, cụ Nguyễn Quỳnh viết: “Nếu đọc được sách hay và viết được sách hay có ý nghĩa như thế này thì cuộc đời tôi sẽ không làm gì hơn là chỉ đọc sách và viết sách. Vì những việc làm từ câu chữ trong sách sẽ giúp ích lớn cho đời”.
(Vũ Toàn – Tìm thấy bản Kiều cổ nhất)
Cây ngô đồng
Cổ thi có câu: “Ngô đồng nhứt diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” (một lá ngô đồng rụng thiên hạ biết thu tới).
Ở Huế trong các lăng Gia Long, Minh Mạng cũng trồng thành hàng. Thân thuộc loại gỗ cứng, có vỏ láng xanh, lá to mọc thành chùm. Mỗi chùm có 12 lá, lá có chỉa 3 hoặc 5 giống lá phong nhưng hơi tròn đầy lớn hơn lá phong. Hoa nở vào mùa xuân, cánh hoa thon dài như hoa ngọc lan màu trắng ửng nhụy vàng.
(Võ Kỳ Điền – Thảo mộc trong cổ văn Việt Nam)
Tục ngữ Tầu
Lão nhân nhĩ thùy tử can
Tất định yếu nhập quan
(Giái tai người già khô
Ắt sẽ vào hòm gỗ)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Những sai lầm trong làng văn I
Trước đây đã có những nghi vấn về tác giả tác phẩm, vì nhiều trích dẫn lại từ những tài liệu sai lầm đã xẩy ra chỉ vì không có tài liệu để phối kiểm nên dễ lập lại những sai lầm của nhau.
Xin nêu một vài trường hợp:
Nguyễn Công Trứ mất năm 1858 hay 1859?
Nguyễn Khuyến mất năm 1909 hay 1910?
Trần Trọng Kim sinh năm 1882 hay 1883?
(Trần Bích San – Văn Khảo)
Trích…“Tập làm văn”
Đề: Tả chú thương binh.
“…Gần nhà em có một chú thương binh, chú bị cụt đầu.
Sáng nào chú cũng đi qua nhà em ăn sáng…”
Đạo văn
Việt Nam Văn học toàn thư (Saigon-1957) của Hoàng Trọng Miên đạo trăm phần trăm Lược khảo về thần thoại Việtnam của Nguyễn Đổng Chi (Hà Nội -1956).
Sách này được chấm nhất về biên khảo, giải văn chương tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.
(Thế Phong – Bữa ăn cuối cùng với Phán Quan)
Giá sách cũ
Năm 1969, tạp chí Khởi Hành (Sài Gòn, số 24, ngày 9-10-1969) hỏi Bình Nguyên Lộc: Ông đang viết cuốn truyện thứ bao nhiêu của ông?“ Bình Nguyên Lộc đáp: “Tôi đang viết truyện thứ nhứt“.
Cuốn truyện thứ nhứt của Bình-nguyên Lộc, ông khởi thảo từ năm 1935, năm ông hăm mốt tuổi. Tức cuốn Hương gió Đồng Nai. Bản thảo thất lạc trong thời chiến tranh, trong những cuộc tản cư hối hả. Mấy chục năm sau, ông vừa thử viết lại vừa cố gắng tìm bản thảo xưa; ông rao tìm trên mặt báo, kêu gọi sự giúp đỡ của người hảo tâm tứ xứ. Cho tới khi qua đời ở Mỹ năm 1987, tức 52 năm sau, tác phẩm nọ vẫn chưa tìm lại được, vẫn chưa viết lại xong.
Hương gió Đồng Nai là một mối bận tâm suốt đời của Bình Nguyên Lộc. Dòng họ ông vẫn giữ được bản gia phả mười đời. Sinh sống ở đất Tân Uyên, một làng bên con sông Đồng Nai. Mười đời kể đến 1965 (lúc ông trả lời cuộc phỏng vấn của Ngu Í) thì đến đời cháu ông hiện nay đã thành ra mười hai đời, tức độ ba trăm năm; vậy tổ tiên ông thuộc lớp những di dân đầu tiên vào Nam lập nghiệp.
Đồng Nai là bận tâm của một dòng họ. Phù Sa là bận tâm của cả miền Nam. Phù Sa, tác phẩm thứ hai trong đời Bình Nguyên Lộc, khởi thảo năm 1942, nhằm vào công trình mở mang bờ cõi về phương nam, tới tận mũi Cà Mau. Tác phẩm ấy, đến ngày cuối cùng của ông, 45 năm sau, viết đi viết lại mãi vẫn chưa xong.
(Khuyết danh – Bình Nguyên Lộc: Một nhân sĩ trong làng văn)
Thơ Bút Tre và Hồ Xuân Hương
Không vô không biết bút tre
Vô rồi mới biết muốn tè ra ngay
Chưa ăn chưa biết cu đơ
Ăn rùi mới biết nó đờ cu ra
Lại cái lại đực
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc phóng bút: “Cho đến nay, có nhiều người không phân biệt được sự khác nhau giữa “đồng tính luyến ái” với “lại cái, lại đực”.
Thì đành “sưu tra, sưu tầm” thì “lại cái” để chỉ đàn ông, con trai có nhiều nữ tính, thích làm đỏm làm dáng, thích điệu bộ như…con gái. Và “lại đực” thì ngược lại, chỉ đàn bà, con gái. Còn “đồng tình luyến ái” chỉ cho cả hai giới cùng phái qua luyến ái tình dục.
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Truyện ngụ ngôn: Một con kiến kết hôn với một con voi mặc dù bạn bè phản đối. Đêm tân hôn, con voi qua đời.
Con kiến khổ sở than: “Chỉ một phút nông nỗi mà mình mất cả một đời…đào huyệt chôn voi”.
Tứ đổ tường
Tứ đổ tường gồm: Tửu, sắc, yên, đổ.
Tửu là rượu. Sắc biểu tượng cho đàn bà, con gái. Yên từ “yên sĩ phi lý thuần” tức đi mây về gió. Đổ là cờ bạc. (Đổ nợ chứ không phải đổ tường. Vì tường đây là giết, hại).
(Hoàng Hải Thủy – Đàn bà thời xưa…)
Bà Banh
Thêm một giai-thoại về trạng Quỳnh là nguyên ở Hà-Tây (Bắc Việt) có một cái miếu thờ “Bà Banh” mà dân chúng thường hay tin dị-đoan đến đó cúng vái . Bà Banh nguyên là một phụ-nử tên là Anh-Tần , rất dâm-loạn thu-nhận nhiều đệ-tử dâm-ác , phá-hoại gia-cang nhiều gia-đình . Sau đó mụ ta bị một nử-hiệp bắt xử tùng xẻo . Khi mụ chết đi , với sự đồng ý của quan-lại địa-phương , người ta tạc tượng bà theo tư-thế trần-truồng , dang 2 chân ra , đầu nghẹo sang một bên , 2 tay banh” cái nớ” , cổ có đeo một hạt chuổi . dưới chân tượng có để một cái chầy đạ Từ đó ai đi ngang qua cũng cầm cái chày mà thoi vào “cái nớ” rồi nhổ nước bọt vào mặt tượng . Lời nguyền sỉ-nhục trở nên linh-thiêng , nêu ai đi ngang qua mà không lấy chày thọt vào mụ thì sẽ bị mụ vật mà làm cho đau-ốm khó ở . Trạng Quỳnh thấy ngứa mắt nên đề một bài thơ lên tượng . Tượng toát mồ-hôi ra và từ đó hết thiêng .
Bài thơ như sau :
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây
Khen ai đẽo đá tạo nên mày
Trên cổ đếm đeo dăm chuổi hạt
Dưới chân đứng chéo một đôi giày
Cởi váy phất cờ treo ghẹo tiểu
Ðể đồ bốc gạo thử thanh thầy
Có ngứa gần đây nhiều gốc dứa
Phô-phang chi ở đám quân này
(Nguyễn Đức Hiển – Giai thoại Trạng Quỳnh)
Chữ nghĩa làng văn
“Cây chó đẻ” là một loài cỏ dùng làm thuốc chữa bệnh hậu sản.
(Tự điển Huỳnh Tịnh Của)
Rét nàng Bân
Theo truyền thuyết : Nàng Bân nhà nghèo, mùa đông muốn đan áo cho chồng khi đi chinh chiến. Nhưng vì làm lụng vất vả nên mỗi ngày đan được chút ít, mùa rét đã qua mà áo vẫn chưa đan xong. Trời thương nàng nên kéo dài mùa rét đến tháng ba.
“Rét nàng Bân” nghĩa là rét muộn, rét bất thường.
(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)
Chơi chữ
Chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt sao cho hai lựơng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam .
Tạo nhiều trùng âm: Cái khó là trong câu ca dao làm sao lập đi lập lại cho trùng âm mà nghe vẫn hay :
“Hôm qua qua nói qua qua mà qua không qua. Hôm nay qua không nói qua qua nhưng qua qua .”
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2024
