Giai thoại bài thơ Theo đuổi của Hoàng Cầm
Một phóng viên trẻ tới thăm Hoàng Cầm kể lại chuyện này…
…Gặp tôi, nhà thơ Hòang Cầm rất vui và mỉm cười: “Cậu có biết tại sao mình làm bài thơ Theo đuổi không? Tôi đang ngơ ngác, ông nói tiếp: “Khi làm bài thơ này, mình có nghĩ đến một bài thơ xem tướng phụ nữ của Trung Quốc. Đó là mấy câu thơ chữ Hán mô tả thế nào là tướng mạo của một người đàn bà đa tình…
Hồng diện đa dâm thủy
Mi trường hộ tố mao
Chiết yêu chân cự huyệt
Trường túc bất chi lao
…Thực ra, lúc mới viết, mình chỉ nghĩ đến việc theo đuổi một cô gái đẹp sau đêm hội làng quê ra về:
Em ơi thử đếm mấy tháng giêng hai
Đêm hội Lim về đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
Ánh trăng đằm thắm đường sương
Ấy bởi thương em mái nhà um cỏ
Chim vào ra vách đứng cột ngồi
Em về đồng chiêm đất rạn chân em
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
Hồ nghe đêm hội ới a
…Nhưng từ sau câu “Em mi trường khép bóng”, những ý tưởng về những câu thơ trên kia hiện trong đầu, khiến mình liên tưởng đến ngay vấn đề tình dục, và đưa đến câu “Lòng tay êm mát rừng tơ xa”. Có biết đến câu thơ trên mới hiểu ẩn ý của những câu này, tôi mi dài mà liên tưởng đến bàn tay được xoa ở chỗ khác:
Lại xót mắt em mi trường khép bóng
Lòng tay êm mát rừng tơ xa
Lại xót tay em đêm trường ru võng
Rừng chân mây chưa động sóng quê nhà
…Đến câu “chân em dài” đưa đến “không biết mỏi”, rồi “má em hồng lại nối” chuyển sang “nước lụt mông mênh”, và “lưng thon thon” để “cắm sào em đợi”, đã liên hệ đến mấy câu thơ xem tướng ở trên:
Chân em dài đi không biết mỏi
Má em hồng lại nổi đồng mùa nước lụt mông mênh
Lưng thon thon cắm sào em đợi
Đào giếng sâu rồi đứng lấp vội đầu xanh
Lý lý ơi khát khô cả giọng
Tình tình ơi chớ động màn thưa
Chìa vôi quẹt gió hững hờ
Bờ ao sáo tắm bao giờ…hở em?
Tiếng Việt rắc rối
Hỏi: Già đọc thành ngữ ca dao của người xưa còn hiểu đặng như “Cuối cùng mèo lại hoàn mèo”. Tuy nhiên Già có một thắc mắc chuyện người nay:
Một người đàn ông có vợ hay có gia đình rồi mà lại đi có người tình khác thì mấy bà thường nói là “Thằng già dê ấy có…mèo“. Tại sao lại dê, mèo, quý bạn hữu nào biết xin giải thích giùm.
Rất cám ơn.
Đáp: Không biết luôn!
(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)
Hoa nở…
Nếu cụ Nguyễn Du có câu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì Tầu cũng có hai câu thơ cổ gần như tương tự:
“Đản sầu hoa hữu ngữ – Bất vị lão nhân khai”.
Hiểu theo nghĩa là “Nếu như biết nói, thì hoa sẽ buồn bã trả lời rằng hoa không muốn nở vì ….ông già”
(Nguyễn Hữu Nhật – Tiếng Việt hay quá)
Giá sách cũ thập niên 30
Nhà văn André Malraux và vợ là nhà văn Clara Goldschmidt ra “Một tờ báo tự do. Một tờ báo đối diện với mọi hình thức kiểm duyệt và đương đầu với mọi định kiến nói lên những lạm dụng quyền lực của chế độ thực dân Pháp với người Việt bị đô hộ”.
Ngày 17 tháng 6 năm 1925 số báo Đông Dương đầu tiên ra đời, tòa soạn đặt tại số 12 đường Tabert . Vợ chồng Malraux tự tay đi phát báo trên đường Catinat. Nhưng không đầy 50 số, báo Đông Dương bị thực dân đóng cửa.
André Malraux (*) trở về Paris, viết tiểu thuyết La Tentation de l’Occident, La Voie Royale, Les Conquérants La Condition Humain và đoạt giải Goncourt cao quý nhất nền văn học Pháp.
(Phụ chú: * sau ông là Bộ trưởng Văn hóa chính phủ De Gaulle)
(Thanh Hà – báo Sài Gòn Nhỏ)
Tiếng Việt, dễ mà khó
Để diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ “nguôi ngoai”. Thật ra là “nguôi hoai”.
Trong các từ điển cổ, “hoai” có nghĩa là phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ “phân đã hoai”. “Nguôi hoai” là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau.
(Nguyễn Hưng Quốc – e-cadao.com)
Chỗ đặt
Từ Hoàng Cầm với bài thơ coi tướng đưa đến câu “Lòng tay êm mát rừng tơ xa”. Thì chẳng thể không nhắc đến bài thơChỗ đặt của Mai Thảo trong tậpTa thấy hình ta những miếu đền dưới đây:
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Vậy mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào
Đỉnh chung
Đỉnh là cái vạc đựng đồ ăn và dùng chuông để gọi thực khách. Từ đó có cụm từ “miếng đỉnh chung” chỉ danh vọng, vinh hiển.
Như “Miếng đỉnh chung cho rõ mùi đời” trong bài Nợ tang bồng của Nguyễn Công Trứ.
Thay đổi ngữ nghĩa
Có những từ ghép hoàn toàn mang gốc Hán, song người Việt thay hẳn một yếu tố nào đấy để dùng riêng.
Như Hán ngữ dùng hộ sĩ thì Việt Nam dùng hộ lý (*).
Chúng ta dùng từ họa sĩ, Trung Quốc dùng từ họa sư/họa công.
(Phụ chú: * trước kia ở Tầu cũng có từ “hộ lý” nhưng dùng chỉ vị quan cấp dưới thay thế vị quan cấp trên để giải quyết công việc lúc quan cấp trên vắng mặt).
(Võ Ngân Vương – Tạp chí Tài hoa trẻ)
Nồi kê
Câu “giầu sang chưa chín một nồi kê” hoặc quán mộng hay hoàng lương mộng dựa theo chuyện người Lữ Sinh đời Đường đến quán trọ nằm đợi chủ quán nấu nồi kê thì thiếp đi. Và nằm mơ thấy mình thi đậu, làm quan, về già đông con.
Rồi tỉnh dậy thấy nồi kê vẫn…chưa chín.
Ý chỉ đời người chỉ là giấc mộng kê vàng.
Giai thoại làng văn
Vũ Trọng Phụng lúc 18, 19 tuổi đã phải đi làm thư ký cho nhà in, kiếm mỗi tháng 12 đồng để về nuôi bà và nuôi mẹ. Vì không đủ sống, mà cũng vì thích viết văn, đọc báo, tối về nhà, anh viết truyện ngắn để bán cho tờ “Ngọ Báo” của Bùi Xuân Học và “Nông Công Thương” của ông Phạm Chân Hưng. Những truyện ngắn đầu tay của Vũ Trọng Phụng là những truyện “bực thầy”. Bây giờ nhắc đến anh, ai cũng nhớ đến “Số đỏ”, “Giông tố”, hay những phóng sự như “Cạm bẫy người”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, mà ít có ai nhớ rằng Vũ Trọng Phụng nổi tiếng một thời là vì những truyện ngắn như “Chống nạng lên đường”, “Cái răng vàng”…
Phụng có một cái tài đặc biệt là không hề biết đánh bạc là gì, mà tập phóng sự đầu tiên viết cho báo “Nhựt Tân”, anh dám đề cập đến vấn đề bạc bịp. Thực ra, anh cũng chưa hề quan sát một vụ “đánh bờ” bao giờ, nhưng anh viết như một người đánh bạc thông thạo nhất, đó là nhờ một người anh là ông Trưởng Tạo, cũng ở phố Hàng Bạc, nói chuyện lại để cho anh viết.
Cũng thế, đọc “Số đỏ”, ai cũng tưởng Phụng là một tay ăn chơi sành sỏi mà lại “đểu” là khác nữa, nhưng sự thật trái ngược hẳn: trong tất cả anh em quen biết, Phụng có lẽ là người “chân chỉ hạt bột” nhất, hiền lành nhất mà tương đối cũng là đạo đức nhất. Tiêu pha hay chơi bời gì, anh tính toán từng đồng xu, không phải là vì kẹo, nhưng chính vì anh phải đứng mũi chịu sào lo cho cả nhà, trong đó có một bà nội góa và một bà mẹ góa, đồng thời lo sao để dành dụm được ít tiền lấy vợ, hầu có con nối dõi.
(Vũ Bằng – Bốn mươi năm nói láo)
Viết và nói tiếng Việt
Giáo sư Cao Xuân Hạo là nhà ngữ học ở Hà Nội đã viết nhiều bài về tình trạng “Viết và nói tiếng Việt”. Tiếng Việt và tiếng “Hán-Việt” bị sử dụng sai nghĩa, sai ngữ pháp như:
Ðảo ngũ: Từ này vốn không có, mà do đọc sai từ đào ngũ, nghĩa là bỏ trốn khỏi quân đội trong khi đang tại ngũ. Cho đến nay, vẫn còn nhiều người mắc lỗi thô thiển này.
Thực sự – thực thụ : Thực sự có nghĩa là đích thị như vậy, không phải là giả. Thực thụ nghĩa là đã chính thức nhận cương vị, nhiệm vụ hay chức trách của mình, không còn là tạm thời nữa. Một giám đốc thực thụ là một giám đốc đã chính thức nhậm chức.
Không ít người thường dùng từ thực thụ theo nghĩa thực sự.
Tục ngữ Tầu
Thượng sàng phu thê, hạ sàng quân tử
(Lên giường là vợ chồng, xuống giường là quân tử)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Cội nguồn tiếng Việt
Trong ngôn ngữ thì mỗi tiếng phải có một ngồn gốc nào đó mà sinh ra…Vì vậy ta cần phải phân biệt rõ nguồn gốc của từng tiếng một nếu có thể được mà ta gọi là etymon (ý nghĩa lúc đầu).
Thí dụ tại sao ta lại nói:
“Đau đớn” với đớn là gì?
“Đẹp đẽ” thì đẽ là gì?
“Bẽn lẽn” với lẽn là chi?
Thật ra khi ta nói tiếng của ông bà ta để lại, ta không hiểu gì cả! Mà ông bà ta khi xưa, họ nói họ có hiểu không? Xin thưa ngay là các cụ hiểu tất. Bằng chứng là là hiện nay có rất nhiều tiếng nói cùng một gia đình ngôn ngữ với ta, ở xung quanh tiếng Việt, như tiếng Khmer, Lào, Thái, Chàm, Miến Điện, Indonesia…v..v..Họ nói tiếng nào là họ hiểu ngay ý nghĩa của tiếng đó, còn ta thì không!
(Nguyễn Hy Vọng – Tiếng Việt là linh hồn của người Việt)
Chén quan hà
“Quan hà”: quan là cửa ải, hà là sông.
“Chén quan hà” nghĩa chén rượu tiễn qua quan ải và sông.
Chữ nghĩa làng văn
– Gà qué: qué là tiếng cổ.
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2025
