Văn học giải phóng Miền Nam
“Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, ông Phạm Văn Sĩ ở Sài Gòn viết một cuốn sách về nền văn học ấy, và kể ra những tên như:
Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh Siêng, Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Trung Thành, Phan Tứ, Nguyễn Vũ v.v…
Ông không chịu nói ra cái điều lý thú này:
Là tất cả những kẻ vừa kể trên đều được phái từ ngoài Bắc vào.
Hạng cao niên hơn thì lại đổi tên đổi họ, hóa thân làm người mới: Lưu Hữu Phước hóa làm Huỳnh Minh Siêng, Nguyễn Văn Bổng hóa thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc hóa ra Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái thành ra Anh Đức, Trần Bạch Đằng làm Hưởng Triều, Lê Khâm hóa thành Phan Tứ, v…v…
Họ làm ra mặt trận giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ tạo ra một nền văn học giải phóng Miền Nam bằng người của họ mang vào, sau khi đã dạy dỗ kỹ càng và kiểm soát chặt chẽ. Họ lần lượt đội hết tên này đến tên kia, ký hết “bút hiệu” này đến “bút hiệu” nọ, viết sách cho in đi in lại phổ biến khắp nước.
Sau này khi cần biên khảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1954-75, với tài liệu sách báo do nhà nước Việt Nam phổ biến rộng rãi, cung ứng đầy đủ, các học giả Tây phương tha hồ hăng hái nghiên cứu về cái văn học giải phóng như là nền văn học chân chính, nền văn học duy nhất của Miền Nam Việt Nam, với những tác phẩm sáng chói kể chuyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chuyện “tục ăn thịt người” ở Miền Nam…v.v… với những văn nghệ sĩ cách mạng Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Huỳnh Minh Siêng v.v… thường thường nhất trí quan điểm với những nghệ sĩ cách mạng Miền Bắc Nguyễn Văn Bổng, Lưu Hữu Phước…
Đối với Tây phương sẽ chỉ còn có nền văn học ấy ở Miền Nam.
Chúng ta thấy hài hước? Thật hài hước chết người.
(Võ Phiến – Văn học miền Nam)
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Vùng Lái-Thiêu (ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu)
Thủ Đức với những hồ bơi nước suối, và những gói nem ngon lành. Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ, thủ hộ lo về việc thuế má và nhơn thế bộ. Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm, Thủ Thừa, Thủ Ngữ v.v..
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Nói lái
Nói lái là để “chơi chữ”, là dùng cách hoán chuyển chữ, nguyên âm và dấu những từ ngươi đó muốn nói lái. Sau năm 75, ở Sài Gòn có một số từ hay câu được nói lái như vào gặp quan chức, cán bộ…bá tánh đi ra nói “đơn giản” thì nên hiểu là họ…đang giỡn. Nên phải “đứng trông hoài” hiểu ra là…đái trong quần. Hoặc thở ra lại gặp “Vũ Văn Cẩn” thì cố hiểu dùm là…vẫn như cũ. Hay bá tánh than thở gặp cô “Bùi Lan” tức cũng chỉ…bàn lui.
Ngoài ra những chuyện chùm sò như: tranh đấu thì…tránh đâu cho thoát như…trâu đánh vậy. Lỡ là giáo chức thì…dứt cháo và đợi mã quy…Mỹ qua. Rồi về hưu:
Sáng lặc cỏ, chiều lặc cau
Độn lầy, khai giếng tưới hành rau
Chữ quân
Chữ “quân” là vua của người Tầu biểu tuợng hình là “thanh gươm” và “cái lưỡi”.
Tây phương cũng có hình ảnh tương tự với thời quân chủ, Will Durant viết: Thanh gươm và cái lưỡi làm nên ông vua.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam)
Chữ nghĩa làng văn
Nhà văn Nguyễn Công Hoan phóng bút:
“Viết phải dựa trên chuyện có thật. Nhưng phải bịa, vì viết thật quá thì khô cứng. Tuy nhiên phải bịa như…thật”
Tên và họ
Ngày xưa nước ta không có sổ hộ tịch.
Tên tuổi phần nhiều được nhớ truyền miệng. Nhà nào có người biết chữ thì ghi chép lập thành gia phả. Ghi chép đúng tên họ, nôm na là tên cúng cơm của người xưa không phải là chuyện dễ ai làm cũng được. Một số các công thần, bầy tôi được ban họ vua, được tặng họ Tàu, được giữ tên thật, phải đổi tên mới… Chồng chéo, rối như mớ bòng bong! Thế mới nát chuyện và có chuyện để nói !
Giới cầm bút ngoài họ tên do cha mẹ đặt, người nào muốn thì cứ việc tự chọn cho mình tên hiệu, bí danh. Có người quen dùng tên hiệu, tên giả, suýt quên cả tên thật do cha mẹ đặt cho. Qua tên hiệu, người thì muốn bày tỏ tình cảm với núi sông, quê quán (Tản Đà, Thu Bồn, Cửu Long Giang…), người thì ấp ủ một ý chí ( Thép Mới, Sóng Hồng, Trường Chinh…). Có người lại thích cầu kỳ, bí hiểm như Đái Đức Tuấn chọn tên hiệu là Tchya (có người giải là Tôi chả yêu ai hay Tôi chỉ yêu anh ?).
Chả thấy thằng Tèo, cái Hĩm đâu cả.
Con cháu lỡ miệng động đến tên cúng cơm của các cụ là phạm tội bất kính. Vì thế mà không thiếu gì những đứa bé không hề biết tên tuổi ông bà, cha mẹ. Thậm chí người lớn trước khi tới chơi nhà ai phải hỏi dò tên cha ông của chủ nhà để…tránh trong lúc chuyện trò. “Nhập gia vấn húy” là vậy.
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật qua nỗi vấn vương đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:
“Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!”
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Thằng cho vay là thằng dại
Thằng trả lại là…thằng ngu
Ðặt tên con!
Tục xưa, tên xấu thì dễ nuôi.
Nhà nọ có 3 người con trai được đặt tên là Cút, Cu và Ðớp.
Một hôm, ông bố đi vắng thì có ông bạn đến chơi. Người vợ thay mặt chồng tiếp đón ân cân, người bạn cũng vui lắm.
Ðến bữa än, người vợ bảo thằng út :
– Dọn cơm cho bác, Ðớp !
Người bạn hơi phật lòng, ăn qua loa vài chén rồi đứng dậy.
Người vợ bảo đứa thứ hai :
– Múc nước cho bác rửa, Cu !
Lần này ông bạn giận tím mặt, liền chào ra về. Người vợ ngỡ người ra, không hiểu làm sao cả, bảo thằng con lớn :
– Dắt xe cho bác. Cút !
Tục ngữ Tầu
Lục thập vật quá dạ
(Sáu mươi chớ ở qua đêm)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Biên Hòa: Hiểu theo nghĩa là hòa bình ở biên cương, một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653. Khoảng đất này xưa được gọi là Đông Phố đúng ra là Giãn Phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau.
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Khinh từ (II)
Khinh từ hay uyển ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ học và văn học để chỉ lối nói giảm, là biện pháp tu từ ngược lại với ngoa dụ và, ở phương diện nào đó, khá gần với nhã ngữ.
Để thông báo sự mất mát lớn như cái chết, người ta sử dụng các từ như “mất”, “quy tiên”, “từ trần”. Trong văn học, cái chết còn có thể được miêu tả hình tượng hóa như:
“Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” (Nguyễn Du).
“Bác Dương thôi đã thôi rồi / nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” (Nguyễn Khuyến).
(nguồn Wikipedia)
Nói toàn thể!
Nói toàn thể thì thành phần của lời giống thành phần của một cơ thể. Chúng tự liền lạc, không cần chữ “nối”.
Ta chỉ nói “Tôi tên Tùng”, mà không cần nói “Tôi tên là Tùng”.
(Thu Tứ – Gocnhin.net)
Ai là dịch giả bản Chinh Phụ Ngâm?
Hà Nội đã cho ra “Tuyển tập Các Nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam”- Nhóm biên soạn gồm các nhà Hán Nôm chuyên nghiệp Kiều Thu Hoạch, Đỗ Thị Hảo, Trần Thị Băng Thanh, Trương Đức Quả.
Điều đáng tin cậy là việc khảo, phiên âm, dịch chú văn bản tác phẩm” đều lấy từ các văn bản gốc ở kho lưu trữ của Viện Hán Nôm…được các tác giả “khảo” và “tham” khá kỹ lưỡng , rồi “dịch”, rồi “biên” một cách bài bản cẩn thận, có trách nhiệm cao.
Vì bài viết có hạn nên tôi (Nguyễn Khôi) chỉ đi sâu giới thiệu 1 số vấn đề lâu nay nổi cộm khá thú vị về Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, đó là “vụ án Ai là dịch giả bản Chinh Phụ Ngâm mà ta vẫn học và đọc xưa nay ?”, về thơ Hồ Xuân Hương …lần này cũng được các tác giả soạn sách đưa ra những văn bản học của cả các học giả tiền bối để khẳng định” bản dịch nào là của Hồng Hà nữ sĩ ?
Đồng thời cũng đưa ra ý kiến phản bác luận điểm của Hoàng Xuân Hãn từ năm 1952 ở Paris cuốn “Chinh Phụ Ngâm dị khảo” đã khẳng định rằng: bản dich Chinh Phụ Ngâm lâu nay vẫn cho là của Đoàn Thị Điểm…đích thực là của Phan Huy Ích ” ?
Trong đó Hoàng Xuân Hãn đã dựa vào 1 tài liệu của người họ Phan là Phan Huy Chiêm, năm 1926 ông này đã biên thư cho Tạp chí Nam Phong nhận rằng :dịch giả bản Chinh Phụ Ngâm nói trên là của Phan Huy Ích.
Tài liệu để Hoàng Xuân Hãn chứng minh Chinh Phụ Ngâm (dich) ấy quanh quẩn vẫn là tài liệu của họ Phan, mà tài liệu ấy lại không có văn bản gốc (nguyên văn thủ bút hay bản khắc ván chữ Nôm đầu tiên của dịch giả) mà đó chỉ là bản dịch Chinh Phụ Ngâm chữ Latinh (chữ Quốc ngữ) mà thôi ! (nên nhớ là thời Nhà Lê , nước ta chưa có chữ Quốc ngữ theo vần abc như bây giờ).
(Nguyễn Khôi – Chinh Phụ Ngâm do Đoàn Thị Điểm dịch)
Tiếng Việt mới
Cá liên xô: không phải cá nhập cảng từ liên xô mà mua cá theo kiểu xếp hàng nối đuôi nhau liền liền (liên) xô nhau (đẩy nhau).
Móc ngoặc: ưng thuận trong việc giao dịch buôn bán.
(từ “móc ngoặc” có “nhất ngoặc, nhì thân“ rồi…”phe phẩy”)
Chữ nghĩa làng văn
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành
Có 2 cách giải thích xuất xứ 2 câu nầy. Thông thường, nhiều người nghĩ rằng đây là hai câu ca dao. Tuy nhiên, có tài liệu cho là 2 câu thơ của thi sĩ Xuân Tâm (tên thật là Phan Hạp), người làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mà không cho biết nguyên văn bài thơ. Giai thoại kể rằng Xuân Tâm ghi hai câu nầy trên một quyển sách tặng vợ. Viết trên sách tặng, thì không biết là thơ Xuân Tâm hay là đây là hai câu ca dao có trước, rồi Xuân Tâm viết tặng vợ, và người ta tưởng là của Xuân Tâm?
(Học trò trong Quảng ra thi – Trần Gia Phụng)
Nói lái trong cấu đối
Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ Lễ. Ngày trước đã có vế đối:
Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lê ta và lê tây
(Hòa Đa – Nói lái)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2025
