Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: NGƯỜI VỀ TỪ TRĂM NĂM (1)

  Back To The past (Nguồn: www.artme.se)

Tựa:

       Nhớ lại những năm đầu qua đây, với nỗi sầu viễn xứ của người di tản buồn, năm thì mười họa, người viết hồi tưởng lại những ngày ở Sài Gòn nhàn nhã đọc truyện Exodus của Leon Uris. Tác giả tả cuộc hành trình từ Cypress về Palestine lập quốc của những người Do Thái tha phương tìm về một mảnh đất chỉ có tên trong thánh kinh. Có một đôi lúc người viết ngẩn ngơ không hiểu nổi là lúc này mình cũng đang có mặt ở đây, khi không bỗng dưng thành một người Do Thái da vàng với những vu vơ hụt hẫng. Rồi ngày là lá tháng là mây, cái đầu óc già cỗi lại viễn mơ đến cả trăm năm sau, mà cứ tính đổ đồng 25 năm là cái gạch nối của một thế hệ thì cũng cả 3, 4 thế hệ của con cháu sau này…Để có một ngày đường mưa ướt đất, họ khăn gói gió đưa trở về thăm quê nhà và họ có mặt ở mảnh đất mà địa danh, niên kỷ theo thời gian rơi rớt trên cỏ khô gỗ mục với giấy đỏ buồn không thắm, mực đỏ trong nghiên sầu…

       Tất cả những trang trải dưới đây bắt nguồn từ thái sư Trần Thủ Độ âm mưu soán ngôi nhà Lý, hoàng tử Lý Long Tường, con thứ của vua Lý Anh Tông (1138-1175), cùng đòan tùy tùng từ bến Đinh Hải nhắm hướng bắc vượt biển đông và cập bến Phú Lương Giang, tỉnh Hoàng Hải (Hwang Hac) thuộc bắc Cao Ly vào năm Bính Tuất 1226 và được vua Cao Tông (Kojong) cấp lương thực và cho định cư ở đây. Sau này hoàng tử Lý Long Tường giúp vua Cao Tông đánh bại quân Mông Cổ hai lần và bắt sống được tướng nhà Nguyên là Amukhan ở núi Hoa Sơn nên được phong tước hầu và lập bia Thụ Hoàng Môn Bi Các, dân trong vùng gọi hoàng tử là Bạch Mã Tướng Quân, đồng thời núi này được đổi tên là Lý Hoa Sơn. Nhóm di dân bắt đầu cuộc sống mới, lập lên ba làng là làng Giao Chỉ, Đại Việt và Đinh Hải, xung quanh có luỹ tre bao bọc và đình Vọng Cố Hương, với kiến trúc trạm trổ rất tinh vi cùng nét hồi văn đời Hậu Lý và Lý Long Tường mở trường dậy học và để lại bộ sách bằng chữ Nho, mô tả đời sống xã hội nước ta vào thời ấy. Dòng họ Lý kéo dài ở đấy cho tới nay đã hơn 27 đời…hay nói khác đi là 27 thế hệ.

                                                                 ***                  

       Một ngày ở Bình Nhưỡng vào năm 2075…

       Mới cuối thu sang đông, thời tiết bỗng dưng trái gió trở chiều, đất với trời trên dưới toàn một mầu xám thê lương, cụ Lý đi ra đi vào bần thần từ sế chiều đến giờ vì một chuyện không đâu. Từ thư tịch của dòng họ Lý, cụ vô tình tìm ra được một bài viết có cái tựa đề “Hà Nội một thoáng hương xưa” của ông họ Phí. Đọc xong rồi cụ lại phân vân, bài tản mạn chẳng đề ngày tháng, ông này lại sính chữ, chữ nghiã cắt tiả như gọt củ thủy tiên, nâng niu từng mầm mới nhú, cùng từng lọn lá non. Lại nữa, thổ ngơi người viết mịt mùng gió mây, tuổi hạc cụ đoán chừng đâu đó cũng đồng tuế đồng canh với cụ… Mân mê ly rượu, như bị thôi thúc từ cầu sấm truyền “Lý đi rồi Lý lại về” để cụ tẩn mẩn thoáng có một ý nghĩ, muà xuân này, cụ dẫn cô con gái rượu của cụ về Hà Nội, thăm phần mộ gia tộc, nhà từ đường của tổ tiên, cũng để cô Chiêu về với cội nguồn, đốt nén hương trầm cho mấy trăm năm cách biệt của một dòng họ.

                                        Đôi ta lưu lạc phương đông này

                                       Trải mấy mùa qua én nhạn bay

                                       Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

                                       Mà ta với ngươi buồn vậy thay

       Cụ và cô Chiêu về đến nhà từ đường họ Lý bên Quảng Bá cũng đã quá nửa khuya. Họ hàng xa gần tấp nập đến thăm, nên cả hai, ba ngày sau, mặt trời mới ngang con sào, dưới mưa phùn gió bấc, cùng cái hiu hiu lạnh cuối đông còn rơi rớt lại. hai bố con cụ khoác áo mông tự bước ra ngoài, thả bộ qua đầm Nghi Tàm có mấy khóm tre gai dầy đặc. Rồi lần mò theo con đường làng khúc khuỷu, mái tranh mảnh vườn, bờ mương ao cá, gì cũng lạ lẫm để đưa đẩy bố con cô Chiêu tới một triền dốc lúc nào cũng chẳng hay. Vừa lững thững đi, chỉ khoảng không gian trước mặt, cụ vừa nói chuyện với con như nói chuyện với một người bạn vong niên lâu ngày không gặp:

        “ Nếu Thăng Long là nơi chốn của nghìn năm văn vật thì Tây Hồ là đất văn học, tinh hoa phát tiết ở vùng đất địa linh nhân kiệt này, với tứ hồ bát cảnh, những áng thơ, những âm hưởng cùng những cuộc tình ẩn mình trong sử sách, như những cụm mây chiều nổi trôi rồi tan loãng. Tất cả quyện vào nhau qua bao lớp sóng phế hưng cùng lối xe ngựa cũ hồn thu thảo, ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương…Dưới bóng mát của một thời nho học, bà Huyện Thanh Quan quê làng Nghi Tàm, theo chồng làm quan tận Đàng Trong và cảnh đèo Ngang bóng sế tà, không làm bà nguôi ngoai cảnh Tây Hồ với ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng, một vũng tang thương nước lộn trời. Và bây giờ, hành cung Trấn Bắc không còn nữa, chỉ còn ngôi chùa Trấn Quốc ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng ngậm ngùi cho bao lớp sóng hưng phế.

        Lại nữa, thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên, chẳng ai biết, chẳng ai hay ở nơi chốn này, có thêm phần mộ của bà Đoàn thị Điểm, bà mất ở Nghệ An và được đưa về an táng bà ở đây, mộ chí của bà sau bị đất lở, đất chùi nên nay không còn dấu tích. Năm 1593, vua Lê Thế Tông đặt tên mới là Tây Hồ để có bà Nguyễn thị Lộ: Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon, can chi ông hỏi hết hay còn, qua mối tình già với cụ Nguyễn Trãi, hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa, dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu vừa bạc vừa xanh kề nhau than thở cho mai hậu và như có ám chướng cho cả hai qua câu thơ: “Mấy kẻ công danh nhàn lẵng đẵng – Mồ hoa cỏ lục thấy ai đâu”.

        Cụ bâng quơ: “Với những đổi thay, đến đây thầy mới thầm phục Nguyễn Huệ khi ngài có mặt ở Bắc Hà. Có một ông tiến sĩ họ Đỗ, để lấy lòng vua Quang Trung, xin đổi hồ ra tên khác, ngài trả lời: “Tây Hồ là thắng cảnh của người Thăng Long, người Thăng Long vẫn yêu mến và lưu luyến với Tây Hồ, lẽ nào nay vì trẫm lại đổi tên hồ đươc. Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ, cũng là duyên kỳ ngộ, cảnh chẳng phụ người, làm sao người phụ cảnh”. Mà nhắc đến Nguyễn Huệ gốc họ Hồ thì chẳng quên người em họ năm đời cùng một ông tổ là của ngài là bà Hồ Xuân Hương”. Giọng cụ lại đều đều về một cõi xa xăm: “Qua tập Lưu Hương Ký vừa được tìm thấy, người đọc được biết ở huyện Thọ Xương có gò đất tên đồi Sưa, dưới chân đồi là một ngôi nhà ba gian lợp lá, nhìn ra Tây Hồ. Trước cửa treo tấm biển, nét chữ thảo phóng túng, đề ba chữ “Cổ Nguyệt Đường”, nơi cụ Nguyễn Du vẫn thường lui tới, để có một chuyện tình ba năm có lẻ với bà Hồ Xuân Hương ở đây”.

       Hai bố con thong dong trên đường rồi ghé chùa Trấn Quốc, cụ thẫn thờ ngắm rặng liễu đang bay phấp phới cùng gió xuân, bên cành phan, cây đại nở hoa trắng phau. Cụ như hoà nhập để thả hồn về một cõi xa xưa của Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cụ lặng người với hình ảnh quanh cổng chuà, như một bức tranh dân gian của một người viết nào đó: Có tiếng lao xao cười nói, thiện nam tín nữ tấp nập đi lễ Thượng Nguyên. Những cô gái nón quai thao, tua cũng bay như lá liễu, tay giữ quai nón, tay kia vung vẩy, văn hài rón rén trên lối cỏ xanh. Thấy có chàng trai đi tới, cô thẹn thùng yểu điệu nấp sau bóng mẹ, mặc ngoài áo lam giang, trong lót nền hồ thủy, vừa đi vưà lẩm nhẩm nam mô, tay lần tràng hạt trước ngực, tiếng xà tích bạc lách cách như tiếng nhạc ngựa và xa xa là bãi tầm Tang nuôi dâu, nuôi tằm của công chúa Từ Hoa…”.

         Cụ để cô con ở ngoài và bước vào để xem bức tượng Trấn Võ, đời nhà Lý, nhờ quốc sư hay thiền sư Nguyễn Minh Không phát huy đạo Phật, xây chùa, khắc kinh, đẽo tượng, đúc chuông. Tượng được đúc bằng đồng đen, mặt vuông chữ điền, râu dài, tóc xỏa ra sau đứng trên lưng rùa, tay chống gươm thật oai phong lẫm liệt do ông Cả tên Trù Trọc, người phường đúc đồng Vũ Tả tạo dựng. Cụ tẩn mẩn ở lại một lúc nữa, xem xong ra khỏi cổng cụ bắt gặp cô Chiêu đang háo hức ngồi bên quán, đợi đĩa bánh tôm còn nằm trong chảo phổng phao trắng ngần, rán đều vàng ươm, sủi bọt kêu lách tách như bong bóng mưa rào đầu mùa.

       Ngồi chưa nóng chỗ, cụ đã nghe cô Chiêu hỏi:

       – Thưa thầy, con muốn hỏi thầy chuyện này, chỉ có một mảng Hồ Tây thôi sao thầy lan man mãi tận đâu đâu, hết cung này đến phủ kia. Mệt chết thầy ạ.

       Cụ Lý chậm rãi:

       – Thầy Trang Tử đã nói: “Con ếch ngồi trong giếng, làm sao nói được chuyện biển cả. Con bướm muà hè, làm sao nói được cảnh tuyết rơi. Vì nó không biết gì xa hơn đời nó…”

       Ngừng một chút, cụ trầm ngâm:

       – Thầy như con ếch, ngồi mãi cũng chồn cẳng, nhẩy tới nhẩy lui, kêu vài tiếng cho đỡ buồn. Như con bướm, không bay tới bay lui, đậu mãi một chỗ, cũng nhạt nhòa hương phấn.

       Nhấp ngụm nước, cụ thong thả:

       – Hồ Tây chẳng của riêng ai, có khô có cạn, khi đục khi trong. Con đường Cổ Ngư, dài không quá nửa dặm, mà ở nơi chốn ấy, con đã gặp bao tiền nhân với vang bóng một thời như bà Huyện Thanh Quan, Đoàn thị Điểm, Nguyễn thị Lộ, Hồ Xuân Hương như con vừa biết đấy.

       Cụ ngẩng mặt lên trời như nhìn mây bay rồi từ tốn:

       “Như đất Lĩnh Nam ta xưa, gần đấy có một làng nhỏ bé, leo teo có khoảng chừng bốn, năm nóc gia, lặng lờ bên sông Tô Lịch, có tên là làng Vạn Xuân. Họ sống bằng nghề chài lưới, rồi theo thời gian phát triển thành huyện Tống Bình. Tới thời kỳ Bắc thuộc năm 544, Lý Nam Đế mà dân gian gọi Lý Bí. Ông người Thái Bình, đánh đuổi được quan quân nhà Lương, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, chọn khỏang đất này dựng lên thành Long Biên. Xây chùa Khai Quốc, sau vì lụt lội, dời về Tây Hồ và đổi tên là chùa Trấn Quốc, tức phần ngoài của thành Đại La…Thành này dựng lên từ năm 860 thời vua Đường Hàm Tông, vua Đường phong cho Cao Biền làm An Nam tiết độ sứ, là người thông thạo địa lý và phong thủy, Cao Biền đi khắp nơi, tìm đất ở phương nam để đạt nền móng cơ sở. Đến vùng rừng hoang, đầm lầy mà cáo hay về nên được gọi là đầm Thây Cáo, sau có tên là Dâm Đàm, nghĩa là hồ mù sương, Cao Biền thấy thế đất chim phượng uống nước nên cho khởi công xây thành Đại La ở đâỵ

       Đinh Bộ Lĩnh năm 968, dẹp loạn mười hai sứ quân, được Tống Thái Tổ phong chức Giao Chỉ Quận Vương, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và nghe lời quan võ Lê Hoàn, người Hà Nam, đóng đô ở Hoa Lư. Trong lịch sử, đây là lần đầu tiên nước ta độc lập và được người phương Bắc thừa nhận. Hoa Lư ở Ninh Bình là kinh đô của hai triều vua Đinh Tiên Hòang và Lê Đại Hành. Năm 978, sứ thần Trung Hoa tên Song Hào qua thăm thành này và viết trong sứ ký như sau: “Ngòai vòng thành không có dân chúng, chỉ có vài ngàn nhà tranh dùng làm trại lính. Trong thành có nhiều cung điện nhỏ và một tháp canh cao bằng gỗ để quan sát. Thành trông giản dị và không được hùng vĩ lắm”. Thành đô nằm trong thung lũng chật hẹp, tối tăm và thấp trũng nên nhân mùa thu năm 1010, tiên đế Lý Thái Tổ ta về Cổ Pháp thăm quê, nghe lời khuyên của sư Vạn Hạnh rời đô về thành Đại La, thế đất tương đối cao, rộng và bằng phẳng và đổi tên là thành Thăng Long.

       Chung quanh thành có ba con sông là sông Hồng Hà, Tô Lịch và Kim Ngưu. Riêng khúc sông Hồng bao quanh thành Thăng Long, được đắp đê như “vành tai”, nên còn có tên là Nhĩ Hà, sau này cư dân gọi chệch đi là Nhị Hà. Năm 1475 đê vỡ, cả kinh thành Thăng Long lụt lội ngập dưới nước, thành được thu nhỏ lại nhưng cao hơn một chút và được xây bằng đá ong và gạch vồ. Thêm một lần chúa Trịnh đánh nhau với nhà Mạc, chúa cho đốt thành Thăng Long, khói lửa ngập trời cả tháng, rồi đến vua Lê đốt phủ chúa Trịnh. Vì chiến tranh, hỏa tai, lụt lội và đất bồi từ sông Hồng bao thế kỷ nên một phần phế tích của Hòang thành sau này nằm sâu trong đất bùn, năm 2003, trong khi khai quật, các nhà khảo cổ đã tìm thấy được dấu tích với một phần kiến trúc của các cung điện cũ cùng năm tầng văn minh chồng chất lên nhau, từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 19. Như tháp đất sét nung chấn yểm của Cao Biền thời Đại La. Giếng nước gần như nguyên vẹn đời Lý. Gạch với dấu ấn và niên hiệu của đồ sứ, đồ gốm đời Trần. Gạch Bát Tràng, ngói bàn, ngói ống đời Lê. Vũ khí, tiền đồng, tượng điêu khắc rồng, phượng đời Nguyễn. Tuy vậy, cư dân đời Lý ta có lúc lên tới bốn chục nghìn. Sách An Nam Ký truyện của sứ thần Trung Hoa đã miêu tả: Từ cửa Đông Hà Môn,  phải chen chúc, chật vật len lỏi lắm mới tới được bến cảng, thuyền bè tấp nập đi lại trên sông Hồng như lá tre”. Sau nhà Lê cho di dân vào Thừa Thiên để có nhà Nguyễn nên Thăng Long chỉ còn hai chục nghìn.

       Cụ vẩn vơ: “Vào thời Nguyễn, vua Gia Long 1802 rời đô vào Huế, năm 1805 thu hẹp Hòang Thành lại, xây theo kiểu Vauban của người quan ngọai, phá cổng Quảng Phúc, Tường Phù, nay vẫn còn mảng tường nhỏ nằm ở số 38B phố Hàng Đường, chỉ giữ lại cửa Diệu Đức tức Bắc Môn Tự. Năm 1812 dựng Cột Cờ hình bát giác ở cửa Đoan Môn và đổi tên Thăng Long là Bắc Thành.

       Năm Giáp Tuất 1814, cụ Nguyễn Du dẫn đòan tuế cống từ Yên Kinh về đến Trấn Bắc Thành, qua bài Sở Kiến Hành cụ viết: Tới cửa Bắc Môn, hai tên lính áo vải đen, trong lót vải vàng, tay chẽn khố lục thắt ngang lưng, xét người ra vào. Thấy bản chức mặc áo lương khăn lượt, chúng cầm giáo ngăn lại. Nhưng khi bản chức nhận là Cẩn Chánh học sĩ, Du Đức hầu, chánh sứ đòan tuế cống sang Bắc quốc về, thì chúng mặt tái xanh như chàm đổ, vội thả điếu kiều cho đoàn cống sứ vào. Trong Hòang Thành, điện Càn Nguyên, dấu vết cung điện cũ của vua Lê, nay đã hoang tàn đổ nát, gò đất cỏ mọc um tùm. Về hướng điện Giảng Võ, nơi có đài cao bốn từng mà vua Lê dựng để quan sát quân sĩ tập luyện ngày xưa, nay cũng tang thương lặng lẽ. Qua cổng Đoan Môn, đi theo đường vòng là tới Cấm Thành…

        Trở lại nhà Nguyễn, sau vua Gia Long mất thì sẩy ra vụ con nuôi của Lê Văn Duyệt nổi lọan ở Đông Phố, vua Minh Mạng cho thu hẹp thành Gia Định lại bằng nhà thương Đồn Đất của người quan ngọai ngày nay. Để tránh hậu họan như vừa nói, năm 1831, ngài cho thu gọn Bắc Thành lại một lần nữa, vì thành nằm…“trong” khu vực Hồng “Hà” nên đổi tên là…Hà Nội”.

       Cụ Lý ngần ngừ cả một lúc và điềm đạm tiếp “ Rất nhiều người cho rằng vì thành nằm trong sông Hồng nên mới có tên ấy. Nhưng gần đây có một số sử gia dẫn chứng khác đi qua cái nhìn mới của họ: Người xưa gọi tên địa danh theo phương hướng như Bắc Ninh, Nam Định, Sơn Tây, Đông Triều, nghe đến tên là biết địa danh ấy nằm ở hướng nào của kinh đô thì cớ sao “Hà Đông” ngày nay lại nằm ở hướng…tây. Chuyện là có một mảnh đất nọ cách Thăng Long khỏang bốn cây số về phía tây, vì nằm trong bến bãi của sông nên được gọi là “xã Hà Nội”. Vua Minh Mạng lấy tên “xã Hà Nội” có sẵn này thay tên cho Bắc Thành. Còn “xã Hã Nội” khi không bị mất tên ấy, vua ngồi ở kinh đô ra chiếu chỉ đổi tên là…Hà Đông.

       Trong thành ngoài thị, Thăng Long có chợ Đông, chợ Tây, chợ Nam ở bên ngoài các cửa thành nên có câu “bán mít chợ Nam, bán hồng chợ Tây”. Ngọai thành thời Lý, Trần có 61 phố phường. Đời Lê thu gọn lại còn 36. Phường là một nơi, có một nghề như phường Thụy Khuê nấu rượu, Yên Thái làm giấy, Tây Hồ dệt chiếu, Nghi Tàm nuôi tằm, ươm tơ. Phố chỉ nơi buôn bán, thời ấy phố là đường đất…ngắn chỉ mấy chục thước, nhà lá vách bùn, mặc dù chỉ có một hai cửa hiệu, bán gì tên nấy, hai phố tiên khởi là phố Hàng Bừa, phố Hàng Cuốc. Cũng từ đó, người của 36 phố phường được gọi là Kẻ Chợ, để phân biệt với Kẻ quê ở thôn làng.

       Cụ Lý không thấy đói, nhìn qua bên kia đường, từng mảng nắng lung linh đong đưa, ẩn hiện qua tàng cây như những con đom đóm ngàỵ  Và dưới gốc cầy bàng già cỗi có một quán lợp tranh, lơ thơ vài nải chuối ngự, ít bánh đa vừng, dăm cái kẹo lạc, mộc mạc nhưng quen thuộc, như có một cái gì mời gọi, cụ rảo bước qua đường…và chủ quán là một bà ở cái tuổi hoa niên, tóc lấm tấm điểm sương. Bà vừa nhai trầu bỏm bẻm, vừa bưng bát chè vối tẩm lá bàng nóng hôi hổi mời cụ. Trời đất hây hây lạnh, cụ thấy thật ấm áp cũng như ấm lòng, để chóng nguội cụ thổi nhẹ, mặt nước nâu vàng lung linh gợn sóng, bốc mùi vối và lá bàng thơm ngát. Nhấp từng ngụm nhỏ, hương vị chát chát chua chua bám vào đầu lưỡi, cụ uông đến đâu thấm dần đến đó, dịu và êm, ngai ngái, nồng nàn và đằm thắm chan chứa hơi hướng quê nhà cùng hoa xuân nở muộn. Ở cụ có chén trà đang gợn sóng mà cụ không hay đấy thôi, y như rằng lúc đứng dậy gửi tiền, bà hàng nước ngước nhìn, tủm tỉm cười, sua tay không nhận, nhưng khoé mắt hình như có đuôi và sắc như dao cau. Trong cụ như mang mang vấn vương…chiếc khăn mỏ quạ, áo sồi, quần thâm cùng hàm răng hạt huyền, man mác mộc mạc và chân quê của hương đồng cỏ nội.

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Bài Mới Nhất
Search