Back To The past (Nguồn: www.artme.se)
Trở lại với cô con, những chiếc bánh tôm cũng vừa chín tới, vàng ngậy dòn thơm, với rau Láng thượng, ngọn diếp Láng hạ, cô đang chấm nước mắm ngâm đu đủ, cà rốt ngâm dấm thanh mà người Hà Nội gọi là nước mắm chua. Nhìn cô út sì sụp húp nước mắm, chân phương và bình dị, đó cũng là lý do cụ đưa cô về thăm đất tổ, gần gũi với cội nguồn, để hoa chanh nở giữa vườn chanh. Đang miên man thì cô Chiêu cũng vừa xong bữa, cô nhẹ nhàng nắm tay bố và khẽ hỏi khẽ: “Bây giờ, mình đi đâu thầy”. Cụ trả lời: “Chiều nay, ta vào Văn Miếu”.
Vừa rời con đường Cổ Ngư, trời Hà Nội như muốn về chiều với những đám mây thấp và ngả qua mầu xám chì. Chỉ con đường trước mặt, cụ Lý thủ thỉ với cô con: “Cách đây một khỏang ngắn, bên tay mặt là Chùa Một Cột, thầy không đưa con vào vì chùa nay không còn rộng lớn như thời nhà Lý ta nữa. Rồi ra thầy sẽ kể cho con sau”. Bước qua cửa Văn Miếu Môn, cụ như lắng đọng trong không gian tĩnh mịch một thời với thi văn Tao Đàn của vua Lê cùng nhị thập bát tú trên điện Khuê Vân Các cổ kính và trầm mặc. Dọc theo lối đi là hàng cây đại thụ rợp bóng mát trong sương chiều, bao bọc chung quanh là tường loang lổ rêu phong ẩm thấp. Vào sâu bên qua khúc sân khỏang khóat trải gạch Bát Tràng vuông vức là dẫy bia đá đang trơ gan cùng tuế nguyệt, chơ vơ và u tịch. Cụ và cô Chiêu, một già một trẻ, chậm rãi lặng lẽ sánh bước bên nhau, tần ngần ngừng lại ở mỗi tấm bia, như đi tìm một dấu ấn của gia tộc, của cội nguồn. Cụ Lý chậm rãi, giọng trầm hẳn xuống như xa vắng với cô con:
“ 1323 vị tiến sĩ nằm đây dãi gió dầm sương, đã một lần làm nhân chứng cho một kỳ án trong văn học: Thống nhất giang sơn, vua Gia Long bắt một số sĩ phu giao cho Đặng Trần Thường xét sử, trong đó có Ngô Thời Nhậm. Giữa công đường, họ Đặng ra một câu đối: “Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biêt ai”. Ngô Thời Nhậm bình thản đối lại: “Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. Ngày 16 tháng 2 năm 1803, Đặng Trần Thường mang Ngô Thời Nhậm ra giữa Văn Miếu đánh cho đến chêt “.
Cụ thở ra: “Giống như Trịnh Nguyễn, sau cuộc nội chiến 75, đất nước chung về một mối, thế nhưng mỗi nơi một ngả, lòng dân phân hóa qua trại tập trung thì nào có khác gì họ Đặng trả thù họ Ngô. Ngẫm cho cùng thầy thấy người Bắc Hà bấy giờ họ làm vậy là không phải, lòng người lại càng chia năm xẻ bẩy, chẳng ích lợi gì. Họ chỉ biết trách người xưa là phong kiến, nhưng họ chẳng tự trách chính họ và bài học phân hóa vẫn còn đấy”.
Trời càng về chiều càng hiu hiu lạnh, như thiếu vắng nao nao, chợt nhớ ra từ trưa đến giờ, ngoài bát nước vối cụ chưa có gì dằn bụng. Hai bố con lần mò về phố Hàng Cân để tới quán Lã Vọng. Chọn được cái bàn gần cửa sổ, vừa ăn hai bố con vừa rì rầm nói chuyện, cô Chiêu nhìn ra ngoài, cây bàng trước cửa chĩu cành, vắt ngang qua mái âm dương, lá to gần bằng chiếc quạt nan đầy gợi cảm. Và cô hình tượng những năm tháng của lá giao mùa, từ mầu xanh cuối hạ chuyển qua mầu vàng rơm, có khi qua mầu đất đỏ nâu sậm để lià cành theo gió bay xa…Đột nhiên cô hỏi bố: “Thầy à, sao lại gọi là…cây bàng mồ côi “. Cụ bật cười: “Cây bàng mồ côi ấy nằm trong bài thơ có cái tựa “Không Đề” của Quang Dũng, mấy ông thi sĩ nhà ta ngồi không nên rách chuyện vậy thôi “. Gắp miếng chả cá thơm phức vào bát, cụ khoa đũa với cô con về…cây hoa sữa:
“Chúa Nguyễn cầu viện Xiêm La bị Nguyễn Huệ phục binh ở Xoài Mít đánh tan. Quân Xiêm thần phục nhưng phải đợi Nguyễn Huệ xưng vương, ra thăm Bắc Hà mới triều cống một loại cây lạ và được trồng ở khu nhà công quán do vua Trần Dụ Tông dựng để tiếp các sứ thần Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp, Nam Chiếu, Đại Lý, còn được gọị là sứ quán. Sau thờ Minh Không thiền sư nên đổi tên là chùa Quán Sứ, vì hoa trắng như sữa sứ thần Trung Hoa gọi là mộc tê, tê nghĩa là sữa, người Hà Nội hôm nay đưa vào văn chương chữ nghĩa cái tên rất thơ, rất tình tự, gọi văn vẻ…ra vẻ Hà Nội là…hoa sữa đấy thôi”.
Đứng trước Bắc Môn khúc đường Phan Đình Phùng, chỗ hai vết đạn thần công của Pháp còn ghi dấu, cô Chiêu hỏi cụ Lý những thăng trầm của thành Hà Nội năm cũ. Cụ giảng giải: “Năm 1888, Tổng Tài người quan ngọai ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội, họ bắt đầu lập đường xá tráng nhựa, khu phố cổ Hà Nội khởi đầu bằng vào hai phố Hàng Buồm và Hàng Đường. Họ phải mất ba năm, từ năm 1894 đến 1897 để đập phá Bắc Thành, san bằng điện Khán Sơn xây trường học, tạo dựng khu phố Tây, cổ thành làm trại lính. Lấp sông Tô Lịch, hồ Cổ Ngư, họ chỉ giữ lại cửa Bắc Môn, tại đây vẫn còn vết tích của đạn đại pháo từ tầu chiến của họ bắn vào ngày 25-4-1873. Cửa ngõ vào Hà Nội cũng vậy, trước thế kỷ 20 có 16 cửa ô, họ chỉ giữ 5 là ô Chợ Dừa, Đống Mác, Cầu Rền, Cầu Giấy và Quan Chưởng, nay chỉ còn duy nhất ô Cầu Giấy đi Sơn Tây”. Cô Chiêu như ấm ức: “Sao vậy thầy”. Cụ Lý cười mỉm chi: “Vì tại đây có cái mả nắp đồng, xích sắt bao quanh của một võ quan người quan ngọai bị quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc phục kích giết chết năm 1883”.
Cụ húng hắng ho rồi xuống giọng: “Qua đến thời Tây, Hà Nội 36 phố phường với Thạch Lam cùng “Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội” với ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay, lá vàng rơi trên giấy, ngoài trời mưa bụi bay, nên Thạch Lam đã quan hoài: Chúng ta không biết được mấy về dĩ vãng, về phố xá kinh thành hồi cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, từ Bát Tràng đến Thăng Long thành bốc thuốc ở Vạn Thảo Đường phố Hàng Ngang, chữ son sắc nước đỏ tươi, bay bướm nửa chân nửa lệ. Bây giờ ở phố Hàng Đường, cũng có ba chữ Vạn Thảo Đường, nhưng được viết bằng lối chữ vuông tân thời. Vũ Bằng thì lãng đãng và xô bụi: Hà Nội với những bước gập ghềnh, hẫng hụt, có ngõ Văn Chương thì phải có ngõ Trạng Trình, thêm ngõ Cấm Chỉ thì không thể vắng bóng ngõ Tạm Thương. Nửa khuya quá giấc, tiếng hai khúc tre gộc gõ nhịp một của ông Tầu tẩm quất, bà Xẩm già, nghe buồn nẫu ruột…”
Cô Chiêu nheo mắt cười tủm nhấm nhẳng hỏi bố: “Cớ sự gì lại gọi là phố Hàng Ngang và ngõ…Tạm Thương, thưa thầy”. Cụ thong thả đáp: “Chả là thời vua Lê chúa Trịnh mở phố Hiến để người quan ngoại không được hẻo lánh tới Thăng Long nhòm ngó chuyện triều chính. Thế nên ở Hưng Yên có Phố Khách tập trung người Hoa vì nhà chúa xem họ như…khách trú. Ở Thăng long cũng vậy, người Quảng Đông được tập trung ở một con đường trong khu Phố Cổ ngày nay, tuy nhiên đến đêm nhà chúa cho kéo hàng rào gỗ chắn…”ngang” con đường này nên sau được gọi là phố Hàng Ngang hay phố Quảng Đông. Riêng ngõ Tạm Thương mới có tên gần đây thôi vì gần nhà thương Phủ Doãn, họ cho đặt mấy gian có giường cho con bệnh đợi vào nhà thương nên mới có cái tên tình tự…Tạm Thương ấy”.
Trời mưa nằm nhà mấy ngày, suốt đêm hôm qua, cô nghe cụ cứ húng hắng ho. Sáng hôm sau cụ mới to nhỏ với cô là trước khi đi thăm hồ Hòan Kiếm, cụ muốn trở lại đồi Sưa…Quà sáng xong, cụ đã tất tưởi ra khỏi cửa, lần theo con đường mòn, cụ lầm lũi đi về phía phường Khán Xuân khuất dần trong đám cỏ lau. Nhìn theo cụ, cô Chiêu khẽ lắc đầu và thở dài…
Và cụ đã có mặt nơi chốn mà cụ muốn đến, cái gò đất thấp và trơ trụi, dăm ba cây sưa còn sót lại, vưà mới qua một mùa đông, nụ chưa kịp trồi hoa chưa kịp nở, xơ xác buồn hiu. Cụ đứng bất động ở đấy và nhìn mông lung vào khỏang không xa vắng, như đi tìm kiếm một cái gì hình như đã mất mát, nói cho ngay cụ đã không tìm thấy những dấu tích Cổ Nguyệt Đường của bà Hồ Xuân Hương dưới chân đồi. Như Phạm Thiên Thư với con chim chết dưới cội hoa, tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao qua bài Động hoa vàng, tuy nhiên với cụ thì cả một mảng trời Thăng Long xưa như còn đang lẩn khuất đâu đây, lắng sâu bao trong đục vơi đầy qua tiếng chuông chùa Trấn Quốc mờ nhân ảnh.
Xế chiều, cụ Lý thả bộ về trong mông lung cùng những vấn vương, lần mò dọc theo bờ hồ đầy cỏ hoang, tới một bán đảo lớn cạnh Nghi Tàm nhô ra giữa Hồ Tây là làng Tây Hồ bọc vòng cung như mỏ chim phượng, gần đó là đền bà Liễu Hạnh, trước cổng tam quan, rực nở một mầu đỏ hồng của những cụm đào tơ. Những hạt mưa phùn còn đọng lại trên cành, trên lá, long lanh dưới nắng hanh vàng như những hạt thủy tinh. Cụ thầm nghĩ, đào đất Bắc thật lạ, thời tiết càng hoán chuyển, càng rét nhiều, cái rét căm căm, buốt da buốt thịt, thì nụ đào càng ra nhiều và chớm đỏ hồng ở đầu núm, như những cô gái trăng tròn. Cũng theo nghịch lý của thời tiết, như đang đông lại chớm thu, trong đông lại ẩn xuân chan hoà, hoa không thắm mà lại hồng hồng như những thiếu nữ ngai ngái đang xuân. Tức cảnh sinh tình, cụ lại mường tượng đến cụ Nguyễn Du thường chèo thuyền hái sen và thăm bà Hồ Xuân Hương. Cụ hình dung một đài hoa lững lờ, đơn côi bên ven hồ, sáng nở tối lặn, để cụ trạnh lòng cảm hoài thầm nhủ nếu cụ là cụ Tiên Điền, cụ sẽ không để hoa đào năm ấy còn chờ gió đông vì ngay cả với cụ, cụ cũng chẳng mình thấy còn trẻ nữa…
Sáng hôm sau nắng ráo, cô thưa với bố: “Thầy cho con đi thăm Hồ Gươm nha, thưa thầy”. Cụ râm rả với cô Chiêu: “Thăm hồ Hoàn Kiếm nên đến vào mùa nắng, những chùm hoa rực lửa mầu đỏ, như cành phượng nặng trĩu đong đưa trước gió, vắt ngang ngang Tháp Rùa, chiếu xuống mặt hồ lăn tăn gợn sóng như bức tranh thủy mạc. Hay trưa hè với cây gạo hoa đỏ, đỏ cả một vùng trời, rồi những cây đa, cây si, cây đề, cây sung, cây me, cây sấu, cây mõ, cây liễu quanh hồ văng vẳng tiếng ve sầu râm ran, ra rả suốt trong những ngày tháng hạ…”.
Đi trên đường, cụ như lạc đường vào lịch sử: “Từ đời Lý, hồ có tên là Lục Thủy vì nước hồ mầu xanh biếc, đến đời Trần, vua quan hay ra đây câu như Lã Vọng nên hồ có tên là hồ Tả Vọng. Theo hình vẽ năm 1810 vào thời vua Gia Long, thì lúc ấy có là một nhánh sông chẩy vào, vì chưa được lấp nên mỗi lần mùa nước lũ, chung quanh hồ lại bị lut lội nên có một số sinh vật bị kẹt lại mà họ gọi là rùa. Theo thầy thì rùa này do thập phương tín nử thả gần đây để phóng sinh lấy phúc và to bằng cái rá vo gạo là nhiều. Mà…rùa ở trong hồ đây là mấy con ba biêu to bằng cái nong, đen như da trâu, mép xanh như cọng rau, bốn chân mầu vàng nghệ, họ hàng với con nhệch, con giải”.
Cụ khẽ lắc đầu, nói với cô con như nói với chính mình:
“Từ lâu thầy có một chút phân vân là rất nhiều người viết về Tây Hồ như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà. Nhất là Nguyễn Du, bà Hồ Xuân Hương quen thuộc và gần gũi với Thăng Long, đó là chưa kể Nguyễn Trãi với bà Huyện Thanh Quan, nhưng lạ một điều là chẳng một ai nhắc đến…hồ Hòan Kiếm. Thầy lại mò mẫm với cụ Hải Thượng Lãn Ông qua Thượng Kinh Ký Sự, vì cụ chữa bệnh cho Trịnh Căn tại phủ chúa cả mấy tháng, hang cùng ngõ hẻm nào cụ cũng trải dài trên giấy trắng mực đen: “…Vừa qua núi đá ở giữa hồ, ánh trời sắc nước, long lanh gợn sóng, đàn cò uyên ương đang lượn lờ bãi nước trên hồ, Ngoài bờ, một dẫy lâu đài, tiếng hát lướt trong bóng chiều, cỏ hoa đua tươi, khoe hồng phô biếc. Tôi ngồi trong thuyền như khuấy động, nhìn xa xa thấy một điện gác nguy nga, sau bóng râm um tùm, thấp thoáng khi ẩn khi hiện, chuông chùa khua rộn, như giục mặt trời lặn đi. Tôi bảo chèo thuyền tới, mới biết đó là chùa Trấn Quốc…”. Và qua thiên ký sự dầy cả chục trang, không một chữ về hồ Gươm. Đến Trịnh Nguyễn Diễn Chí của Nguyễn Khoa Chiêm, cả trăm truyện dân gian được kể lại thời vua Lê chúa Trịnh, duy nhất có dăm hàng: Trong khi vua Lê Trung Hưng vẫn ngồi trên hư vị ở Hòang Thành cũ, có đổ nát đi hơn là xây dựng thêm. Vậy mà chúa Trịnh xây Phụng Thiên phủ và Vương phủ riêng cho mình ở hai bên tả hữu Vọng Hồ…”
Cụ Lý thở ra: “Như vậy hồ được gọi là Vọng Hồ hay hồ Tả Vọng, có từ thời Lê mạt và cái tên Hòan Kiếm chưa xuất hiện, sách Tang Thương Ngũ Lục đời vua Gia Long ghi vắn tắt: Hồ thông với nước ngoài sông nơi Lê Thái Tổ đánh …rơi kiếm. Và lạ hơn nữa là qua mấy triều Lê, không một vị vua nào trùng tu di tích hồ Hòan Kiếm của tiên đế và truyền thuyết trong dân gian nghe cũng mất nhiều ý nghĩa, cũng như qua đoạn viết trong Lam Sơn Thực Lục tức chính sử của nhà Lê được lược dịch lại như sau: Lê Lợi…nhặt được thanh bảo kiếm ở dưới gốc cây đa, Lê Lợi nghĩ rằng trời cho thanh cổ kiếm, từ đó mới nuôi ý nghĩa khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh và lên làm vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ, lập ra nhà Hậu Lê (1428-1788). Dẹp xong giặc, Lê Lợi giữ luôn thanh kiếm, một hôm vua dạo thuyền trên hồ bị một con ba ba…“đòi” lại thanh kiếm.
Trở lại người quan ngọai ra sắc lệnh đặt tên cho thành phố Hà Nội và Phạm Đình Bách là người vẽ bản đồ. Đến năm 1916 bản đồ được in ra và có ghi chú bằng tiếng Pháp: Một hôm vua Lê Thái Tổ…bắt được thanh kiếm ở bờ hồ. Sau lên làm vua, một hôm bơi thuyền dạo chơi trên hồ, có một con rùa rất lớn bơi theo. Vua sợ quá rút kiếm đuổi rùa. Con rùa đớp kiếm và lặn xuống nước. Từ đó đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.
Cô Chiêu khựng lại, phân vân một lúc lâu, rồi thưa: “Theo như những gì như thầy kể, con nghĩ tên Hồ Hòan Kiếm có vào thời Pháp thuộc lúc họ làm cầu Thê Húc sơn đỏ năm 1916 cùng huyền thọai của người đương thời muốn nhà Nguyễn trả lại Thăng Long cho Bắc Hà và nhà Lê chỉ là cái cớ. Con đóan chừng như vậy chẳng biết có đúng không, thưa thầy”. Làm như không nghe thấy những gì cô con vừa nói, cụ lẩm bẩm như nói chuyện với chính mình: “Ngay trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có ghi và cụ Trần Trọng Kim đưa vào chính sử: Tục truyền rằng một hôm vua Lê Thái Tổ ngự ra câu cá ở bờ hồ, bỗng có một con rùa thật lớn nổi lên trên mặt nước. Vua lấy thanh bảo kiếm ….ném con rùa thì nó lặn xuống nước, rồi nó đem thanh kiếm…”trả” vua. Bởi thế mới đặt tên là hồ Hoàn Kiếm”. Cụ khựng lại một chút rồi tiếp: “Thầy không hiểu với ẩn dụ gì, các sử gia sau này chia hai giai đọan với nhà Lý, nhà Trần sùng Phật giáo và nhà Lê, nhà Nguyễn chuộng Nho giáo. Ấy là chưa kể tượng vua Lê Thái Tổ, tức Lê Lợi được dựng ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm năm 1896, sau được tháo bỏ đi. Rồi đến câu sấm truyền “Lý đi rồi Lý lại về” rồi sẩy ra một biểu tượng cho họ Lý ta là Chùa Một Cột bị giật sập năm 54 nên thầy càng rối mù thêm…”
Cả hai bố con cũng vừa đến nơi, cụ khẽ lắc đầu, tay chỉ và nói có tên hồ Hoàn Kiếm mới có tháp Rùa lặng lẽ như đã đứng tự mấy trăm năm trên cồn đất nổi ngay giữa hồ kia. Cụ lòng vòng với cô con gái rượu: “Ấy đấy, theo sách Tang Thương Ngũ Lục của Phạm Đình Hổ thì trên đảo không có đình quán nào cả như đình chúa Trịnh theo lời đồn đãi. Trước kia nguyên là đất tư của chánh tổng Đông Thọ huyện Thọ Xương, nó lạc lõng và chơ vơ giữa hồ, năm 1884, chủ nhân là ông chánh tổng Nguyễn Bá Kim ngắm miếng đất có dáng miệng con rồng nên cho xây cái tháp, định đem hài cốt của bố ông táng vào đó. Ông là người theo đạo Thiên Chúa nên đã xây cái tháp theo kiểu tháp chuông, không phản ảnh một chút nào kiến trúc cổ điển của đền chuà, không có mái cong, không có lưỡng long chầu nguyệt này nọ. Việc cải táng không thành, ngôi tháp vẫn còn đó trơ gan cùng tuế nguyệt, đánh dấu buổi giao thời giữa hai nền văn hóa Tây và Ta, để vô hình chung có cái tên là tháp Rùa đi vào…văn học sử nước nhà.
Thầy được nhìn bức hình hồ Hòan Kiếm năm 1886 của bác sĩ Hocquard, thật giống như một cái vũng nước, chung quanh eo sèo dăm cái nhà tranh vách đất tiêu điều, thê lương đến ảm đạm. Cầu…Thê Húc mà thầy đóan chừng là có từ thời vua Tự Đức thì nó y hệt cái cầu ao phẳng lì, qua tấm hình thầy đếm đúng sáu tấm ván dầy và thô kệch, tấm còn tấm mất, chẳng sơn phết, cũng chẳng cong cong với tay vịn như ngày nay. Rồi thầy lại lẩn thẩn không đâu về tháp Rùa qua một nhà sử học đã khổ công tìm tòi: Rõ ra tháp do bá hộ Kim ở phố Hàng Khay khởi công xây từ năm 1884 đến 1886 thì xong và bá hộ Kim biếu Tây cái tháp ấy. Năm 1898 một nhà báo Pháp tả Petit Lac có một hòn đảo nhỏ không có gì để đáng nói, tháp được xây giữa năm 1984 và 1986 với dáng kiến trúc gô-rích lạ kỳ. Đảo chỉ lớn hơn chung quanh tháp mỗi bề hai mét và sau này được đắp đất nới rộng đất thêm cho to ra”.
Cụ tiếp: “Hồ có gò đất khác cách bờ mấy trăm thước, rộng bốn, năm sào và xưa kia gọi là Tượng Nhĩ Sơn, tức núi tai voi và trước kia có một gian miếu nhỏ bằng nứa lợp tranh thờ Hà Bá. Vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long đổi tên là núi Ngọc Tượng. Thời chúa Trịnh, người Hoa Kiều xin phép sở quan, dựng ngôi đền nhỏ thờ Quan Công. Cụ đăm chiêu: “Nếu thầy là nhà chúa thời này, thầy chẳng để họ làm chuyện cha chung không ai khóc lại khóc cái tổ mối ấy”. Sau đấy, thời vua Minh Mạng năm 1838, có người làng Nhị Khê, hiệu Tín Trai bỏ tiền của ra để xây cất thêm đền thờ Đức Thánh Trần, Lã Đồng Tân và điện Văn Xương Đế Quân, nơi các thầy đồ sau này thường tới xin sâm trước khi đi thi và được đặt tên là Ngọc Sơn Từ. Đến đời vua Tự Đức 1865, nhà nho Nguyễn văn Siêu, bắc cầu Thê Húc nối từ bờ ra đảo và dựng Tháp Bút và Đài Nghiên. Tháp Bút là một phiến đá hình tháp như chiếc bút lông, trên mặt có ba chữ “Tả thiên Thanh”, nghĩa đen là “vẽ lên trời xanh” trích trong câu thơ “Lăng tàng trường kiếm ỷ thanh thiên” của cụ Nguyễn Du. Nghĩa bóng là nhắc đến vua Quang Trung đánh bại vua Tầu nhà Thanh “Tả Thanh thiên tử”. Đài Nghiên bằng đá, hình nửa quả đào, trên thành nghiên có khắc một bài phú nói về nghiệp bút nghiên của nhà nho thời ấy”.
Cụ chiêu hồn qúa khứ qua Tháp Bút, đốt lò hương cũ với hình ảnh của ông đồ gìa của trời xuân năm cũ, ung dung tự tại giữa những hàng câu đối phất phơ trước gió. Để rồi vàng bay mấy lá năm già nửa cùng bút khô, mực nẻ, giấy đỏ, hồ tàn, nào cụ có khác gì ông đồ lỡ vận, ngồi hiu hắt giữa mưa bụi giăng mờ, trước cảnh chợ chiều vắng khách, lững lờ cùng chung một dòng sinh mệnh với cảnh hồ, để rồi tất cả đi vào quên lãng theo thời gian, cụ Lý thầm lặng miên man: Trải qua bao triều đại thăng trầm, nơi chốn này ngay giữa cố đô Thăng Long, hồ Gươm đã không có chỗ đứng đúng nghiã như Tây Hồ trong văn học. Ngay cả với cái tên gọi của nó cũng chìm đắm trong sử sách với ngày tháng không tên, nên lúc nào trông cũng có nét trầm mặc u buồn”.
***
Hà Nội như thiếu nữ ngủ ngày, không thiếu những cơn mưa, lại mưa phùn gió bấc, cùng cái liu riu lạnh cuối đông còn rơi rớt lại. Cô Chiêu khoác áo bước ra ngoài, trên con đường đi vẫn những cành ổi mỡ đang đơm nụ, thoang thỏang thơm mùi lá non, ẩn hiện đâu đầy là mấy khóm tre vàng, tre hóa, tre gai dầy đặc. Đây lối hoa vàng rơi, kia gió ven bờ đê, con đường tình ta đi, cô thầm nhủ với một nỗi xót xa, cho đến tuổi này, cô vẫn chưa có một một cuộc tình nào ra hồn để vắt vai, đi về chỉ lẻ bóng. Và sáng nay, trong mưa xuân lấm tấm, lặng lẽ cùng những bước đi không định hướng, qua chùa Trấn Quốc trong mờ sương, tiêu điều và hiu quạnh, như cụ Lý, như có một cái gì trong tâm thức, níu kéo đẩy đưa, cô lãng đãng phiêu bồng, dưới những những hạt bụi nhạt nhòa bám trên vai, lất phất trước mặt đan vào nhau như nhện giăng tơ, không xa mà cũng chẳng gần, mơ hồ, nao nao và…hình như đằng kia, ẩn hiện là quán bánh tôm Cổ Ngư hôm nào.
Âm vọng của cội nguồn, của đứa con tha hương lâu ngày chưa một lần trở về, quê hương tình tự chỉ phảng phất trong những ngày giáp Tết, thịt mỡ dưa hàng câu đối đỏ….Và thực tại, như Lưu Nguyễn lạc thiên thai cùng trái đào tiên ẩn hiện qua bát nước mắm chua, đu đủ dầm, cay cay ngọt ngọt, con tôm vàng ngậỵ. Cô thủng thẳng ngồi xuống ghế, lơ đãng nhìn qua bên kia hàng quán, quán nước nghèo nàn bên đường cùng dăm cái lá bàng hiu hắt treo phất phơ trước gió, cô thấy cụ Lý, hai tay đang bưng bát nước vối…
Buổi tối trước khi cô một mình về lại Bình Nhưỡng, hai bố con lục đục, thầm thì nhỏ to, mầy mò đến quá nửa khuya. Sáng hôm sau, một buổi sáng giống như mỗi buổi sáng hôm nào, cô rời hồ Quảng Bá, chùm ổi đầu mùa, đầm Nghi Tàm, chuông chùa tan loãng cùng hư không, con dốc đầu Cổ Ngư tần ngần tiếc nuối, chùa Trấn Quốc, cây hoa sữa hoa trắng trong mù sương, quán nước vối bên đường trống vắng treo mấy cái lá bàng vàng úa…Cô thẫn thờ giã từ một Thăng Long hoài cổ với nghìn năm mây bay và để lại một Hà Nội trong sương mù của riêng bố cô với đường mưa ướt đất…
Trên máy bay, trong khoảng không, giữa trời và đất, cô mở thư cụ Lý ra đọc, vỏn vẹn một khúc chót trong bài thơ của Quang Dũng với cái tựa “ Không Đề ”, khúc cuối của tận cùng và cô đọng trong tĩnh lặng:
Ơi, con đường xưa
Những mùa trút lá
Cành bàng mồ côi
Cổng cũ rêu phong
Ý đợi người
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Nguồn: Bài viết được góp nhặt qua những tác giả như Hòai Anh, Hòang Hữu Qúynh, Lê Huy Oánh, Nguyễn Dư, Nga Sơn, Hải Thượng Lãn Ông, Ngô Sĩ Liên, Trần Quốc Vượng.
