Nghi vấn văn học về thành ngữ và thơ
“Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” , có tác giả cho là câu này của Minh Mạng ám chỉ đất Nghệ An của bà Hồ Xuân Hương.Đồng thời ngoài bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” với những câu “Yếm đào trễ xuống dưới nương long – Đồi gò bồng đảo sương còn ngậm – Một lạch đào nguyên suối chửa thông” . Theo truyền thuyết bà còn có bài “Thiếu nữ ngủ ngày” khác:
Sáng trăng em tưởng tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời bằng cái lá đa
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.
“Em ngồi em để sự đời em ra” vì cái váy. Qua một bài viết, tác giả trên cho rằng vua Minh Mạng ác cảm với những bài thơ của ba Hồ Xuân Hương nên mới có câu “Sơn bất cao…”. Đồng thời cùng với tín ngưỡng của người Chàm, vua sai quan bộ Lễ Hòang Công Lý: “Cung nhân luân, chính tâm thuật, giới dâm tắc, thận pháp thù”. Thế là quan bộ Lễ cho dẹp tín ngưỡng phồn thực ỏ miếu Trò, thôn Trám, tiếp đến là…cái váy:
Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang.
Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám vì sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính biên toát yếu). Minh Mạng cấm đàn bà đàng ngoài mặc cái “vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không”. (Vua muốn Ta mặc quần theo Tầu).
Khoảng thời gian Hồ Xuân Hương mất trước đó 10 năm.
Chữ nghĩa làng văn
Rượu Ngang tức địa danh làng Ngang, thời Tây là rượu lậu. Hay rượu quốc lủi. Gần đây trong nước có tên là…cuốc lủi.
(Phan Nghị – Bữa gỏi cá mè cuối năm)
Văn học trong nước
Theo Nguyễn Huy Thiệp: “…Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: “Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!”, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa”.
(Nguyễn Huy Thiệp – Trò chuyện với hoa thủy tiên…)
Thơ…lơ mơ lỗ mỗ
Rụng rồi
Hàn Mặc Tử
Thơ chưa ra khỏi bút
Giọt mực đã rụng rồi
Lòng tôi chưa kịp nói
Giấy đã toát mồ hôi.
Nét đặc biệt trong tiếng Huế
Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như vẫn xuất hiện trong thơ và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: “Đẩn cho bưa rồi đi nghể”.
(Ăn cho no rồi đi ngắm gái).
Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn:
“Đẩn cho hắn một chặp!”
(Đục cho hắn một hồi!).
Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:
Được mùa thì chê cơm hẩm
Mất mùa thì đẩn cơm thiu
(Nguồn ĐatViet.com)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
“Bất thị quan trường, vi đạo tặc.
Bất tri tửu đạo, bất hiền nhân”
(Có thể không làm quan mà vẫn là kẻ cướp. Nhưng nếu không hiểu đạo lý của rượu, thì không phải bậc hiền nhân).
Chữ nghĩa làng văn
Năm 1991, tu bổ ngôi mộ Tú Xương bên bờ hồ Vị Xuyên. Sở Văn hoá Nam Định dựng bia đá xanh. Mặt này khắc 2 dòng trích từ bài thơ Sông Lấp của Tú Xương bằng chữ Nôm cùng chữ quốc ngữ:
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò
Đúng ra là:“còn tưởng” chứ chẳng phải “lại tưởng”.
***
Mặt kia khắc 2 câu đối và ghi chú là của Nguyễn Khuyến:
Kìa ai chín suối xương không nát
Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn
Đúng ra 2 câu đối ấy là:
Nào ai chín suối xương không nát,
Có nhẽ trăm năm miệng vẫn còn.
Vì đối với “xương”, rõ ràng miệng chỉnh hơn, hay hơn tiếng. Thành ngữ nghìn năm bia miệng còn khiến cho mọi người hiểu thấm thía hai câu đối của người quá cố.”
***
Chưa hết: Hai câu đối trên không phải của Nguyễn Khuyến mà là của Đoàn Triển.
Đoàn Triển tự Doãn Thành, hiệu Mai Viên, sinh tại làng Hữu Thanh Oai. Đỗ cử nhân Ân khoa Bính Tuất 1866, niên hiệu Đồng Khánh I. Năm Kỷ Sửu 1889, được bổ Viên ngoại Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Sau đó, Đoàn Triển đảm các chức Tri phủ Kinh Môn, Nam Sách, Án sát Hà Nội; Tuần phủ Ninh Bình, Hà Nam; Tuyên phủ sứ Bắc Giang. Trước tác của Đoàn Triển hiện còn: An Nam phong tục, Mai Viên chủ nhân quy điền lục, Nhi tôn tất độc. Ngoài ra, Đoàn Triển còn có thơ đề ở quán Trấn Vũ, văn bia chùa Quang Ân, câu đối ở đàn tổ họ Đoàn và sinh phần của bản thân.
(Phanxipăng – Nào ai chín suối…)
Tục ngữ phong dao
Phải đợi đến năm 1928, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (13) cho ra đời bộ Tục Ngữ Phong Dao lúc đó thi ca dân gian Việt Nam mới đươc hệ thống hóa, xếp đặt theo thứ tự A, B, C và từ ít tới nhiều chữ (quyển 1 thuộc về phương ngôn, tục ngữ, có hơn 6,500 câu từ 3 đến 23 chữ, quyển 2 thuộc về thể ca dao có hơn 8,500 câu gồm các bài từ 4 câu trở lên). Đây là một tài liệu công phu và giá trị, thu thập các câu tục ngữ, phong dao của ta từ thời thượng cổ đến đầu thế kỷ thứ 20.
Giai thoại làng văn
Nguyễn Tường Tam là một người hành động, một người làm việc cần cù, tin ở tài mình, ở khả năng mình, tin ở cố gắng của mình. Chính một phần vì thế mà anh đã thành công trong việc xây dựng Tự Lực Văn Đoàn, nhưng Nguyễn Tường Tam, nhà khoa học, có khi lại không tin hoàn toàn nơi óc khoa học và tổ chức khoa học của anh.
Nhưng không như Nguyễn Tường Long hay Võ Đức Diên đi theo thầy Ngô Hùng Diễn để học về tướng số (Nguyễn Tường Long học tướng số được ngót ba năm thì bị bắt), Nguyễn Tường Tam mỗi khi có công việc khó giải quyết, thắc mắc trong lòng, thường hay nhờ các anh em tướng số xem giùm “xem ra thế nào”.
Bây giờ các bạn còn sống của anh thường hay nhắc đến một bữa cơm có mặt Võ Đức Diên, Trần Tán Cửu và Nguyễn Tường Tam, cả ba cùng tuổi Bính Ngọ (năm nay 65 tuổi âm lịch) nhờ một người bạn quen xem tướng số. Nhà tướng số nói rằng tuổi đó, mà sinh vào những ngày giờ nói trên, chết không mấy an nhàn, có khi lại gặp những sự hiểm nghèo ghê gớm. Chính vì thế, cần “sửa tướng”, và cũng vì thế nên lúc nào Võ Đức Diên cũng mặc quần áo đen, cạo đầu trọc. Còn Nguyễn Tường Tam thì nhà tướng số khuyên nên để râu và suốt đời một vài thứ khác nữa, nhưng dường như Tam chỉ “nghe theo” có một nửa – nghĩa là để tí ti râu và chỉ để râu thôi – nên về sau này nhà tướng số nghe thấy tin anh dùng độc dược quyên sinh cứ vỗ đùi đen đét than trời “Nếu mà nghe tôi thì đâu đến nông nỗi này!”.
( Vũ Bằng – Nguyễn Tường Tam, một nhà văn “đa bất mãn hoài”)
Chữ nghĩa làng văn
Theo nhà văn Đặng Trần Huân thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn có 7 thất tinh là Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ , Tú Mỡ, Xuân Diệu.
Cũng theo nhà văn Doãn Quốc thì nhóm Sáng Tạo cũng có 7 thất hiền là Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền.
Văn học miền Bắc
Cho đến nay, với nhiều bạn đọc và một số đồng nghiệp, sự có mặt của văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp vẫn là một cái gì “khạc không ra nuốt không vào”. Đọc thì có đọc, trong bụng thậm chí là say mê nữa, nhưng vẫn không muốn công nhận. Bởi so với thứ văn họ quen đọc và cái họ vẫn viết thì Nguyễn Huy Thiệp là cả một sự phá cách. Không đi theo những nền nếp cũ. Rất nhiều điều người khác chỉ thì thào nói vụng nói trộm thì ông nói buột ra, và đã nói là không hối hận. Nhưng đó cũng chính là nhân tố làm nên chỗ mới của Nguyễn Huy Thiệp, kể cả trong các tiểu luận.
“Trừ đôi ba người thực sự xuất chúng, còn nhìn chung văn chương của các cụ ta ngày xưa và những nhà văn hiện đại ngày nay, so với các dân tộc khác, phải thừa nhận là kém cỏi”. Thông thường, những ý nghĩ như thế không ai dám viết trên mặt giấy. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã viết, và nếu như không đồng ý hoàn toàn thì nhiều người đã bắt đầu thấy sự có lý của nó.
Những khi bàn về một số đồng nghiệp, những chữ xuất hiện dưới ngòi bút ông thường là:sơ xuất, nhầm lẫn, sự bắt chước lố bịch, vị kỷ, hư đốn, đểu cáng, bất lương – toàn những “đức tính” khiến người ta ghê ghê. Một lần khác ông nói toẹt ra: “Khoảng hơn chục năm trở lại đây trở lại đây ở Việt Nam không có những nhà văn có phong độ khí phách lớn. Đến ngay cả nỗi buồn cũng không phải là nỗi buồn lớn” (nếu lấy lại bản in trên báo thì người ta nhớ là ông còn nói đến tình trạng điên điên khùng khùng, chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn…). Nghe cũng dễ sốc nhưng chỉ cần tự hỏi “Làm sao mà người ta có thể nói được sự thật về xã hội trong khi sự thật về chính cái giới của mình thì lảng tránh?” sẽ thấy Nguyễn Huy Thiệp có lý.
(Vương Trí Nhàn – Giăng lưới bắt… lý luận)
Truyện chớp: Không đề
Vừa qua trên đườg phố Hà Nội xảy ra một vụ án nghiêm trọng. Nạn nhân là một người ăn mày bị giật chiếc dây chuyền vàng bởi một người…cụt tay ngồi trên chiếc Honda @ do một người cụt chân đèo.
Bên đường có một người mù…nhìn thấy kể cho một người điếc nghe. Người điếc bảo người câm gọi điện thoại di động cho công an. Đến giờ vẫn chưa bắt được thủ phạm…
Văn học hải ngoại
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong bài “Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học” cho biết những nhà xuất bản uy tín trước đây như Văn Nghệ, Thanh Văn, An Tiêm…ngày càng ngại bỏ tiền xuất bản sách, nhất là loại sáng tác như thơ, tiểu thuyết. “Tình trạng trước kia sách in ra nhiều nhưng chất lượng không bao nhiêu, độc giả đứng trước rừng sách nhiều màu không biết nên mua sách nào sau nhiều lần “trao thân lầm tướng cướp” quyết định không mua sách nữa, không có người mua sách thì ngành xuất bản sa sút kéo theo động cơ thúc đẩy việc sáng tác… Cái vòng lẩn quẩn không lối thoát ấy có thể xảy ra cả trong nước, nhưng ở hải ngoại trầm trọng hơn do tình trạng lão hoá của sinh hoạt chữ nghĩa.”
Lão hóa theo Nguyễn Mộng Giác là một khi người cầm bút chỉ nhằm viết cho những người cùng cảnh ngộ lưu vong như mình đọc, thì họ sẽ cứ viết như lâu nay họ đã từng viết: “tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang bồi hồi với những kỷ niệm đẹp, mơ ước ngày trở về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y nguyên như thời hoàng kim cũ.”
Có thể nói thêm là lão hoá không chỉ ở người viết mà còn cả ở người đọc nữa, bởi vì ở hải ngoại số người đọc báo Việt và văn chương Việt ngày như một giảm xuống. Cứ nhìn vào các tạp chí văn chương như Văn Học, Hợp Lưu hay Văn thì biết. Đã đến lúc người viết nhận ra rằng tác phẩm của một nhà văn không chỉ nhắm vào một nhóm người, mà là cho cả một dân tộc nếu không có tham vọng có một readership lớn hơn, vượt khỏi biên giới của một nước. Những câu hỏi rất cũ đặt ra cho người cầm bút như Viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào? Bây giờ vẫn còn có thể đặt lại trong một ý nghĩa mới.
(Nguyễn Xuân Hoàng – Văn học Việt Nam trong và ngoài nước)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
