Các Sĩ Tử một kỳ thi (Nguồn ảnh: https://www.doisongphapluat.com/)
1.
Nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu vào năm 1070 đời vua Lý Thánh Tông.
Năm 1076, vua Lý Nhân Tông xây Quốc Tử Giám và mở khoa thi Nho học đầu tiên.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
2.
Năm 1139, vua Lý Anh Tông mở khoa “thi Đình” ở ngay cung điện nhà vua
Năm 1246, nhà Trần đặt danh hiệu Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu trong kỳ thi Đình:
Trạng nguyên, Bảng nhãn, và Thám hoa.
Những người con lại gọi là Thái học sinh. Vì vậy những khoa thi này còn có tên là khoa thi Thái học sinh hay khoa Tam trường.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
Ghi chú: Học vị Trạng Nguyên chỉ có từ thời nhà Trần
3.
Năm 1396, nhà Trần quy định các kỳ thi Hương và thi Hội. Năm trước thi Hương (để lấy củ nhân), năm sau thi Hội (để lấy tiến sĩ), ai đỗ thi Hội làm bài Văn sách để định cao thấp. Dưới ba triều Lý-Trần-Hồ, số tiến sĩ có 75 người.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
Ghi chú: Như vậy danh hiệu cử nhân không phải chỉ có vào thời nhà Nguyễn.
Vì Minh Mạng thứ sáu (1825) trở về trước là Hương cống, đến Minh Mạng thứ chín (1828) mới gọi là cử nhân.
4.
Năm 1442, vua Lê Thái Tông đổi danh hiệu Thái học sinh thành Tiến sĩ
Những người đỗ tiến sĩ được cấp ngựa về làng vinh quy bái tổ và dựng bia ghi tên những người đã đỗ tiến sĩ.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
5.
Hương cống, tiến sĩ
Từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), thí sinh sau khi thi sát hạch ở trấn (thời Minh Mạng là tỉnh) được dự khoa thi Hương (hương là đất quê gần quê nhà) qua 4 kỳ thi được gọi là tứ trường (trước kia đời Lê là tam trường)
Thi Hương ở trường thi Nam Định năm 1897
Đỗ kỳ thứ nhất (nhất trường), Đỗ kỳ thứ hai (nhị trường).
Đỗ kỳ thứ ba (tam trường) được nhận học vị Sinh đồ (thời Minh Mạng là Tú tài). Đỗ kỳ thứ tư (tứ trường), được nhận học vị Hương cống hay Cống sĩ (thời Minh Mạng là Cử nhân)
Ghi chú: Đỗ thi Hương được bổ làm tri huyện.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
6.
Thi Hội
Thi Hội: kỳ thi ở kinh đô (Thăng Long thời Lê, Huế thời Nguyễn) dành cho các người đã đỗ thi Hương và cũng phải trải qua 4 kỳ với các bài thi như thi Hương nhưng khó hơn. Trường thi cũng như thi Hương cắm lều, bạt ở bãi đất trống.
Thi Hội ở Huế năm 1900
Ky thứ nhất: bài về Kinh nghĩa
Ky thứ hai: bài về thơ Đường
Ky thứ ba: bài về Chế, Chiếu, Biểu (văn thư hành chánh)
Ky thứ tư: bài về Văn sách (bài văn theo thể đối ngẫu)
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
7.
Thi Đình
Đỗ 4 kỳ thi Hội gọi là “trúng cách” hay “Hội nguyên” để vào thi Đình ở sân điện của vua nên còn đựợc gọi là thi Điện hay Điện thí. Thí sinh phải làm bài Văn sách do vua ra đề.
(đề vua ra thường là luận về tình hình đất nước, có khi vua trực tiếp chấm và lấy đỗ)
Tùy theo bài Văn sách của các tiến sĩ, vua bổ làm quan (thượng thư) ở triều chính:
Bộ Lại: chuyên trách việc bổ dụng, thăng cách, và thuyên chuyển quan lại.
Bộ Hộ: Chuyên trách việc tài chính, lương bổng.
Bộ Lẽ: Chuyên trách việc lễ nghi, ngọai giao.
Bộ Hình: Chuyên trách việc sọan thảo pháp luật.
Bộ Công: Chuyên trách việc giao thông, thổ mộc.
Bộ Binh: Chuyên trách việc binh bị.
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
8.
Danh vị
Đốc đồng: Thời nhà Trần đặt 1631 đặt quan võ (như thi Hội?) làm Trấn quan các trấn (thời Lê Trịnh là Đô ty). Và một viên quan văn làm Đốc đồng trông coi việc xử án.
Quan võ thời nhà Nguyễn
Đô đốc: thời Lê Thánh Tôn 1466 đặt võ quan trông coi việc bảo vệ kinh đô
Đề đốc: võ quan phụ trách việc binh bị ở một tỉnh lớn (tỉnh lớn là Lãnh binh)
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
9.
Danh vị
Hương sư: thi rớt khảo hạch thi Hương ở huyện (do huấn đạo hay giáo thụ khảo hạch) được gọi là anh Nhiêu, anh Khóa. Sau đó được bổ làm hương sư dậy ở làng, được miễn tạp dịch và thuế thân.
Huấn đạo: văn quan, phụ trách việc dậy học ở huyện.
Quan vi hành thời Nguyễn
Giáo thụ: văn quan, phụ trách việc dậy học ở phủ gồm nhiều huyện. (như Giáo thụ phủ Quốc Oai, thuộc trấn Sơn Tây là Cao Bá Quát, ông không đỗ thi Hội)
Hàn lâm viện học sĩ (còn gọi là Bác sĩ cố vấn vua) trông coi việc thảo chiếu lệnh, hàm thượng thư, trật nhị phẩm.
Cẩn chánh điện: danh vị quan văn thời nhà Nguyễn như Cẩn chánh đại học sĩ Nguyễn Du. Là vị đại thần làm việc lâu năm, chức vị như thượng thư, hàm chánh nhất phẩm. (mặc dù Nguyễn Du thi hương chỉ đỗ Tam trường, tức sinh đồ hay tú tài)
(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội – Bùi Xuân Đính)
NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)
