Tục ngữ Tầu
Biện tửu bất nan thỉnh khách nan
Thỉnh khách bất ban, khoản khách quan
(Bày tiệc không khó, mời khách khó
Mời khách không khó, đãi khách khó)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Tiếng Việt, dễ mà khó
Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ “vợ chồng” đại khái như sau:
“Chồng” là chồng lên nhau, nằm lên nhau.
Còn chữ “vợ”? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, trong câu chú thích in cuối trang: “Chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?”
Ðọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái “vai”, người ta lại nói cái “bai”; thay vì nói đôi “vú”, người ta lại nói đôi “bụ”; thay vì nói “vải”, người ta lại nói “bải”; thay vì nói “vá” áo, người ta nói “bá” áo; thay vì nói “vả” (vào miệng) , người ta lại nói “bả” (vào miệng).
Qua những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm “v” và “b” như thế, tự dưng tôi nảy ra ý nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ “vợ” là… bợ? “Vợ chồng” thực ra là “bợ chồng”?
Ðặt trong toàn cảnh mối quan hệ giữa hai phụ âm “v” và “b” cũng như quá trình biến đổi phụ âm đầu như thế, chúng ta sẽ thấy ngay giả thuyết cho nguồn gốc của chữ “vợ” trong “vợ chồng” là “bợ” rất có khả năng gần với sự thật. “Vợ chồng” như thế, thực chất là “bợ chồng”.
“Bợ”: từ dưới nâng lên; “chồng”: từ trên úp xuống. “Bợ chồng” diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?
(Nguyễn Hưng Quốc – e-cadao.com)
Thôn Đoài
Tiếng Hán theo quẻ Càn với Đoài là người con gái ở phương tây. Cho nên trong tiếng Việt thường nói “thượng hạ đông đoài”, thôn Đoài là thôn ở phía tây.
Cũng theo quẻ Càn với Cấn là người con trai ở phương đông. Ca dao có câu “Làm trai cho đáng nên trai – Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên”.
Trong bài thơ Tương tư, Nguyễn Bính viết: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.
(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)
Tiếng Việt thương không…dễ
Các câu ví von miền Nam:
– Không có chó, heo gác cửa. Không có gà, ngỗng báo thức.
– Hỏi hổ mượn heo.
– Người sợ nổi tiếng, heo sợ vỗ béo.
– Kẻ điếc không sợ súng, heo chết không sợ bong.
– Mặt heo hay mặt lợn.
– Heo mắc nợ chó.
– Heo cười quạ đen, quạ cười heo chẳng ra màu
– Heo xổng chuồng, chuồng không xổng heo.
– Heo gánh gộc chuối
– Nuôi heo lấy mỡ, nuôi người ở đỡ chân tay.
(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)
Văn hóa cà phê
Sân trường Văn Khoa cũ vào thời điểm 1963-1967, khu đất ở khúc cạnh đại lộ Gia Long là sân trống anh em dựng lên ngôi nhà mỗi bề 5 hay 6 mét gì đó, mái tôn, tường bằng liếp, ván ép. Và thêm tấm bì viết tay đề hai chữ Quán Văn. Thế là Quán Văn hiện diện.
Một trong mấy nhân vật chủ trì quán này là Đỗ Việt Anh, Đinh Bá Ái vốn học Dược khoa. Rồi thêm Phan Huy Đạt học Sử địa đại học Sư phạm, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Ngọc Tuấn.
Chỉ vài tháng sau, những bàn ghế nhỏ của Quán Văn đã lan ra sân trường với những đêm văn nghệ ngoài trời. Nơi đó những Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, cặp Lê Uyên Phương xuất hiện…
(Phạm Quốc Bảo – Những mối giao tình thân hữu…)
Câu đố
Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo hình ảnh “mình – đuôi” của vật không phải người hay động vật
Một số vật có gắn dây, thì vật trở thành “thân mình”, dây trở thành “đuôi”. Thí dụ:
“Mình thì một tấc,
Đuôi dài thước năm,
Khi đi thì nằm,
Khi ngồi thì đứng”
(Kim chỉ)
Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố cho thấy thể loại này là sự mới mẻ, lạ thường. Những hình ảnh được tạo nên bởi lối nhân hoá (hay động vật hoá, thực vật hoá,… ), và cách tả thực. Do góc nhìn không bình thường, có khi dùng hình thức đánh tráo các quan hệ ngữ pháp, nên tạo ra những vật dị kì. Những cách miêu tả như vậy chỉ có và được chấp nhận trong câu đố, tạo cho thể loại này một phong cách rất riêng.
(Triều Nguyễn – Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố)
Bài thơ Cảnh thu
Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Bài “Cảnh Thu” trên nhiều người cho rằng có thể là của bà Hồ Xuân Hương chứ không phải là của bà Huyện Thanh Quan.
(Nguyễn Vĩnh-Tráng – Chimviet.free.fr)
Bòng bong che…
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhân chứng của thời kì Pháp xâm chiếm Nam Kì. Văn thơ của ông ghi lại được nhiều sinh hoạt xã hội đương thời.
Chẳng hạn như hai câu: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan – Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ”.
Bòng bong được định nghĩa là một thứ cỏ rối (Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức, 1931); một loại dây leo mọc xoắn vào nhau thành từng đám, ở bờ bụi. Bòng bong còn có nghĩa là xơ tre vót ra bị cuốn rối lại, thường dùng để ví tình trạng rối ren (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, 1988). Nếu Bòng bong chỉ có nghĩa như vậy thì dứt khoát nó không phải là một đồ vật (trắng lốp) dùng để che. Bòng bong của Nguyễn Đình Chiểu chắc chắn không phải là Bòng bong của tiếng Việt ngày nay.
Bòng bong, bong, bùng hay bạt là tấm vải lớn che mưa nắng, cuộn lại được.
Nguyễn Đình Chiểu thấy bòng bong che trắng lốp nghĩa là thấy tàu Pháp giăng bạt màu trắng, chạy trên sông.
(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)
Đau thiết, thiệt van
“Thiết” là một biến thể ngữ âm của “siết” trong “rên siết” và là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở âm Hán Việt là “sất” có nghĩa là la, hét. “Sất”còn có nghĩa đánh bằng roi mà âm xưa cũng là “thét” như trong Chinh phụ ngâm, câu: “Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”.
Vậy “thiết’ có nghĩa là…thét, la hét và ‘’đau thiết, thiệt van’’ có nghĩa là đau thì rên rỉ mà thiệt thì năn nỉ.
(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)
Chữ nghĩa thập niên 20
Hoa đào – Ám chỉ mỹ nhân, Trang đài ký chép rằng; Trong cung vua Văn đời Tùy, gọi là Đào hoa điện, Tô Thúc khi uống rượu với Nhàn sơn cư sĩ có ngâm rằng “Thập phân liễm diễm quân hưu xích – Thá khán đào hoa hảo diện bì”, nghĩa là bác hãy cứ xem mặt hoa đào đẹp thế nào, thì mặt say rượu này đẹp như thế.
(Phan Mạnh Danh – Thập nhị văn)
Viết hoa địa danh
Có nhiều cách viết.
Thí dụ: Sài Gòn, Sài gòn, Sài-Gòn, Sài-gòn, Saigon…
Đối với tên người và tên nơi chốn, viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, không dùng gạch nối. Thí dụ: Trần Quốc Toản, Quang Trung, Hà Nội, Bình Trị Thiên, Vũng Tàu.
Thế nhưng, không ít trường hợp vẫn còn khiến mọi người băn khoăn. Viết miền Nam hay Miền Nam, viết Bắc bộ hay Bắc Bộ, viết kiểu nào?
(Nguồn : e-cadao.com)
Điệp ngữ mầu sắc
Tiếng Việt rất phong phú về điệp ngữ mà tiếng nước khác không có. Tiếng Tầu diễn tả nét đậm lợt của mầu sắc chỉ có một vài như “hoàng hoàng”, “âm âm”. Trong khi tiếng Việt đầy rẫy:
Đen thì đen thui, đen sì, đen kịt, đen ngòm, đen mù mịt..v..v..
Trắng thì trắng xóa, trắng toát, trắng tinh, trắng bóc..v..v..
(Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn)
Lịch Tầu, lịch ta
Người Việt nói lịch Ta là lịch Tầu. Nhưng người Tầu gọi tên 12 con giáp khác hẳn Ta:
– Thử, ngưu, hổ, miêu, long, xà, mã, dương, hầu, kê, khuyển, trư.
Với lịch Ta, riêng năm sửu bắt nguồn tiếng Mường: “tru”, sau này phiên âm Hán-Việt từ “tru” thành…”trâu”.
Với năm thìn. Chữ thìn chỉ con rồng vốn có nghĩa là…con rùa.
Xưa kia, tiếng Việt cổ gọi con rùa, con ba ba là con đìn địn. Ca dao có câu “Mồng tơi chưa chín, đìn địn đã rừ”.
Người Phúc Kiến gọi con thìn là con đìn. Cung thìn, trong thiên văn cổ Tầu gọi là cung huyền vũ và ứng với chòm sao thọ tinh (huyền vũ là rùa đen, loại rùa sống lâu). Sau người Tầu đổi tên thành Thiên long.
(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)
Muối tinh
Chữ nghĩa “Ẩm thực” thì dường như người ta lại không thấy cần từ ngữ “chuẩn” cho lắm. “Muối vừng” có thể có đến 80% là lạc rang giã nhỏ trộn vừng. Ốc nhồi lá gừng có thể là ốc luộc vối lá chanh !Tôi muốn mua muối để đánh răng, người ta đưa cho tôi một lọ muối trộn với gia vị, tôi chưa bao giờ đánh răng với gia vị và cũng không muốn thử.
Nếu muốn có muối như tôi hiểu thì phải nói rõ là “muối tinh”.
(Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Câu chuyện “hội nhập”)
Chữ và nghĩa
Cách nói tóm gọn như thế ở trong nước cũng được thấy trong việc dùng các từ sau:
Sĩ – Thay cho “sĩ diện (hão)”, như trong tên một vở kịch của Lưu Quang Vũ, “Bệnh sĩ”.Vợ chồng có thể càu nhàu nhau: “’Sĩ’ lắm nữa! Thật, tôi khổ vì ông”
Vất – Thay cho “vất vả”, như trong “Cuộc sống của chúng tôi bây giờ ‘vất’ quá. Không còn được thảnh thơi như ngày xưa.”
Phát – Thay cho “phát biểu” (như trong, “Xin mời anh ‘phát’ cho. Chúng tôi đang chờ.)
Quyết – Thay cho “quyết định” (như trong, “Anh lớn ‘quyết’ cho một cái, để đàn em yên tâm!)
(Bùi Vĩnh Phúc – Trên đường bay của chữ)
Chữ nghĩa tên đất
Đa Kao từ chữ Đất Hộ mà ra. Người Pháp đọc trại đi là Đa Kao.
Vườn “Bờ-rô” là tên đô đốc Amiral Roze. Người mình gọi là Vườn Ông Thượng tức là vườn của Ông Thượng Lê Văn Duyệt.
Thủ Dầu Một – Để nhớ cây dầu (diptérocarpus alatus).
(Thái Văn Kiểm – Ai về Gia Định Đồng Nai thì về)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2024
