Nguồn gốc tiếng Việt
Về nguồn gốc tiếng Việt, có thuyết cho rằng từ ngàn xưa khi còn là rợ Lạc Việt, tổ tiên ta có một thổ âm giống tiếng Thái.
Khi di cư đến châu thổ sông Hồng Hà và miền Bắc Trung Việt ngày nay, thổ âm đó biến thái khi tổ tiên ta tiếp xúc với những sắc dân khác. Tiếng Việt trở thành một thứ tiếng phức tạp do tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Mông, tiếng Mường hỗn hợp với nhau.
Nước ta bị lệ thuộc vào người Hán, ngôn ngữ mượn từ chữ Hán. Nhà ngôn ngữ học gọi là tiếng Hán Việt. Những tiếng Hán Việt khi được dùng vào Việt ngữ thì theo nguyên tắc nhất định của ngôn ngữ mà biến đổi thành âm luật và ngữ pháp của Việt ngữ.
(Đào Duy Anh – Việt Nam văn hóa sử cương)
Chữ nghĩa làng văn
Cái mặt nó vác lên, trông nó đú đởn, ăn cơm hớt ấy, cho chó ăn. Thường sự mỉa mai nhắm vào tính nết, về phái tính.
Tỉ dụ diếc móc người ta như:
Nghèo rớt mồng tơi, nghèo lõ đít, thí cho nó tý tiền, cứ gọi là đói vàng mặt, đói rã họng.
Trong lối nói này, người ta tỏ ra một sự khôn ngoan già dặn, một sự từng trải, sự hiểu đời, cái hơn người. Chẳng hạn:
Các người đừng có vội tí ta tí toét, cứ ỉm đi, cứ im thin thít, có dỗi hơi, kêu giời kêu đất, đừng có bắt bí nhau, liệu cái thần hồn, bà truyền đời cho mà biết, cứ tẩn cho nó một trận đến lòi tù và ra, vả vào miệng cho tôi, cái giống nhà mày, không có tao thì cả họ mày ăn bùn, nó bôi tro trát trấu vào mặt, mấy đứa kia thì đáng vật một nhát cho chết, nó lo xanh mắt, hóa ra hắn nằm vạ, bà truyền đời báo danh cho mày biết, tôi biết tỏng tòng tong…
Nhân văn Giai phẩm
Phan Khôi, bút hiệu Trương Dân, cùng thời với Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh. Phan Khôi sinh năm 1887, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mất năm 1959. Ông là cháu ngoại Hoàng Diệu. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghiã Thục và viết cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo, hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với Huỳnh Thúc Kháng.
Trong nưả thế kỷ từ Bắc chí Nam, ngọn bút sắc bén cuả Phan Khôi tung hoành trên các báo Nam Phong, rồi Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời báo, Thần Chung, Phụ Nữ Tân văn, Trung Lập, Thực Nghiệp Dân báo, Hữu Thanh, Phụ Nữ Thời Đàm, Tràng An, Sông Hương. Tác phẩm đầu tiên cuả Phan Khôi là tập Nam Âm thi thoại, năm 1920 ở Hà Nộị Đến năm 1936, tái bản tại Huế và đổi tên là Trương Dân thi thoại.
Bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng lần đầu tiên trên báo Phụ Nữ Tân Văn tháng 3 năm 1932 được coi như bài thơ mở đường cho phong trào thơ mới. Trong thời kỳ Nhân văn Giai phẩm, ông đứng tên chủ nhiệm, chủ bút tờ Nhân văn để bao che cho các cây bút trẻ. Trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” ở Giai phẩm muà Thu tập 1 với tác phong ngự sử văn đàn, ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bưà bãi, chất vấn gắt gao Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi. Những người chủ chốt trong việc kết tội Trần Dần.
(Thụy Khuê – Hồ sơ Nhân văn Giai phẩm)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Yêu em mấy núi cũng trèo
Đến khi có chửa, mấy đèo anh cũng giông
Truyện cực ngắn – Lẫn
Hai người bạn ở sát vách chung cư đêm đêm vẫn thường lôi nhau đi uống rượu để thở than với nhau về hai bà vợ. Đêm kia quá chén, họ bốc nhầm chìa khoá chung cư của nhau… Rồi kể từ đêm ấy trở đi, họ chẳng bao giờ còn (muốn) gặp lại nhau nữa.
Truông nhà Hồ
Nhớ em anh cũng muốn vô
Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam giang
Phá Tam giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm
Truông là rừng, truông nhà Hồ là rừng Hồ Xá Lâm thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ngày xưa, rừng này nhiều giặc cướp, ai đi qua cũng sợ. Phá: lạch biển. Tam Giang: ba con sông. Phá Tam Giang là cái lạch biển ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, về phía tây nam có ba con sông là Tả Giang, Hữu Giang và Trung Giang chảy vào rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Ngày trước vùng này nhiều sóng lớn, thuyền bè qua lại rất nguy hiểm, sau này nước cạn đi nên còn có tên là Hạc Hải (bể cạn) (theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Bài ca dao này nói về việc ông Nguyễn Khoa Đăng, nội tán đời chúa Hiến Tôn (1691-1725) dẹp yên giặc cướp ở vùng Truông nhà Hồ.
Chữ nghĩa trong nước
Lao tư – Lao động và tư bản.
Lao tư huề chủ – Người làm công và chủ.
(Lê Thiện Phúc – Bút chiến ở miệt dưới)
Tiếng Việt cổ
Với cây cảnh, tiếng Việt cổ gọi là bông, là trái.Nhưng vì ảnh hưởng từ “hoa quả” của tiếng Hán nên người Bắc gọi là hoa, là quả. Thành ngữ cổ có câu: “Tháng Tám nắng rám trái bưởi”
Di dân vào miền Nam, người Nam vẫn giữ tiếng Việt cổ bông, trái.
(Hiếu Thiện Nguyễn Chu Hậu – Tiếng Việt, tiếng nước tôi)
Tiếng Huế
Người Huế mà không được nói tiếng Huế. Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn. Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc.
Phường Đúc là khu quần cư, tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều đình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu Vị Thần Công Và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương. Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam ai không tuân thì bị tội.
Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào? Có người đưa ra giả thuyết:
Có lẽ chuyện này có từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại Thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định. Bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng Đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dễ hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa – Gia Định nghe giọng Huế “đặc sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả.
Cũng có thể lệ này xuất hiệntừ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam. Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam nửa Trung đã trở thành Huế rặt.
(Tô Kiều Ngân – Chuyện Huế ít ai biết)
Tiếng Bắc
Ở một làng miền Bắc có ông thành hoành tên là “Tôm”. Vì kiêng cử, dân làng gọi con tôm là “con tép”.
Có thể vì vậy sau này con tôm nhỏ được gọi là con tép chăng?
Tiếng Việt huyền diệu
Chuyện mạo từ tiếng Việt cũng làm rắc rối người nước ngoài có vợ là người Việt. Như người Việt nói cái bàn, cái nhà, cái gường, cái nón… nhưng không thể nói cái chó, cái mèo mà phải là con chó, con mèo, con người… Ðồ vật là cái, động vật là con.
Bây giờ nhiều cô cậu thanh niên Hà Nội thay vì nói cái xe Honda Dream thì lại dùng từ con Ðờ-rim, rồi tiếp là con Su (Suzuki), con a còng (@), con Tô (Toyota), con Mẹc (Mercedes)…
Vợ chồng tôi có chuyện vui thế này: Tôi quen vợ tôi, một phần vì yêu các cô gái Việt Nam, một phần cũng để trau dồi thêm tiếng Việt. Một hôm chúng tôi ra Hồ Gươm dạo chơi, tôi khen:
“Con hồ này đẹp quá!”. Vợ tôi “chỉnh” liền:
“Không, anh phải nói là cái hồ này đẹp quá!”.
Vậy mà đi ngang sông Tô Lịch thấy nước đen ngòm, tôi nói:
“Cái sông này bẩn quá!”. Vợ tôi “sửa” ngay: “Ậy, phải nói là con sông này bẩn quá chứ không nói là cái sông!”.
Tôi la lên:
“Ồ, sao lại thế, khi là cái, khi là con, làm sao phân biệt?”.
Vợ tôi ôn tồn giải thích:
“Cái gì động dậy, nhúc nhích thì gọi là con, như con sông có nước chảy, còn cái gì nằm im như cái hồ nuớc tĩnh mịch thì phải là cái hồ. Con chó, con mèo nó chạy được nên phải là con. Cái nhà, cái cột đèn đâu có di chuyển được nên phải là cái. Rõ chửa?”.
Lúc đó, tôi hiểu được một điều vô cùng thú vị:
“À, anh hiểu rồi! Tiếng Việt thật hay. Hèn gì cái… cái của anh nó nhúc nhích lên xuống nên phải gọi là con…Còn của… em, nó nằm im một chỗ nên phải gọi là cái, cái…
Khác biệt văn hóa
Hà Nội: nếu bạn gọi cái tẩy thì nó sẽ là cái tẩy
Sài Gòn: nếu bạn gọi cái tẩy, họ sẽ mang đến cho bạn một ly nước đá
Ngưu là…trâu
Các thầy đồ Nho học ngày xưa dậy học trò: “Ngưu là trâu, mã là ngựa”. Đó là sự hiểu lầm. Người Hoa khởi nguồn từ miền hoàng thổ khô cạn vùng Hoa Bắc, ở đó chỉ có giống bò và “ngưu” nghĩa là…con bò.
Bành trướng xuốn phương nam, người Hoa mới thấy con trâu và gọi nó là “thủy ngưu” (bò nước) hay “hắc ngưu” (bò đen).
Trâu là tiếng Nôm, để viết chữ trâu, người Việt ta dùng chữ Hán viết chữ ngưu là “bò”, bên cạnh viết thêm chữ lâu (lâu là trên gò đất) là âm “âu” và gọi là trâu.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam)
Tiếng Việt trong sáng
Sự cố: Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.
(Triêu Thanh tạp chí)
Chữ nghĩa làng văn
Ngoài họ tên do cha mẹ đặt, vua chúa ban, người nào muốn thì cứ việc tự chọn cho mình tên hiệu, bí danh. Qua tên hiệu, người thì muốn bày tỏ tình cảm với núi sông, quê quán (Tản Đà, Thu Bồn, Cửu Long Giang…), người thì ấp ủ một ý chí ( Thép Mới, Sóng Hồng, Trường Chinh…). Có người lại thích cầu kỳ, bí hiểm như Đái Đức Tuấn chọn tên hiệu là Tchya (có người giải là Tôi chả yêu ai hay Tôi chỉ yêu anh ?). Thứ Lễ nói lái thành Thế Lữ. Khánh Giư sắp xếp lại thành Khái Hưng …
Chả thấy thằng Tèo, cái Hĩm đâu cả.
(Nguyễn Dữ – Mập mờ và li kì nhất có lẽ là tên Lê Lai)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
