Thời Gian Đã Mất – Tranh: THANH CHÂU
Năm 54 từ Hà Nội đeo tàu há mồm vào Sài Gòn. Ngày 30-4 đứt phim, đến đất tạm dung làm người di tản buồn. Năm 2016, lão hồi cố quận để dối già.
Lúc này lão đang có mặt ở quán nhạc Ân Nam ở đường Tú Xương và Đoàn Thị Điểm, giống phòng trà Đêm Mầu Hồng đường Tự Do thuở nào. Ca sĩ ở đây chỉ hát nhạc vàng. Lão bắt gặp lạc lõng Hồng Vân của một thời đang Ngậm ngùi với Huy Cận…hồn em đã chín mấy mùa thương đau…cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Bỗng lão thèm ít khói, bèn mò vào hành lang phía sau có cái bàn, cái gạt tàn thuốc. và một gã tạng người phẳng lặng đang ngồi ở đấy.
Gã bắt chuyện với lão:
– Tôi thích câu cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Dòm gã có khuôn mặt chìm lắng…mấy mùa thương đau. Lão chắc mẩm xưa kia gã không Thủy quân lục chiến cũng Biệt động quân. Gặp người lính cũ của một thời chinh chiến, lão vun chuyện:
– Trước 75 anh ở đâu?
Ý lão là đóng quân ở Huế hay Pleiku chẳng hạn.
Gã trả lời ngay đơ:
– Tôi ở Hà Nội vào đây công tác.
Thế là lão vật ra chuyện đi tìm những…”ngộ nhận” nào đấy trong chuyến đi. Nhất là mấy hôm nay, đi với hai thằng em họ con bà cô, lúc taxi, khi Honda, lão vồ được ít chữ cho bài bút ký viết thảng như ”chuột rút dần” hay ”chạy mất dép luôn”. Những ngoa ngữ hiện thực này, lão tâm tịt từ thằng em bia tô rượu bát vào Sài Gòn năm 75. Nay thằng em rất sành điệu củ kiệu với nhậu tới bến của Sài Gòn trước kia.
Lão đi thăm họ hàng hang hốc. Số là xưa kia hẻm với số nhà “suệt trên”, “suệt dưới”. Nay họ hàng lão ở trong hang cùng ngõ hẻm như nhà số 26 ngách 6 ngõ 76. Lão giục giặc sao họ hàng mình cứ chui vào ngõ ngách như…chuột vậy. Vì theo người trong nước nhà mặt phố bố làm to mới óach. Thằng em nát chữ “Xưa rồi Diễm ơi” vì nhà Sài Gòn là “nhà ống, xe máy, kinh tế vỉa hè” mới ngon cơm. Lão cãi um lên mấy ngày nay chỉ dòm thấy kinh tế vỉa hè đông như nêm cối nhưng vắng như chùa bà Đanh là…”sự cố” gì. Chưa hết, cấu vào mắt lão bảng hiệu chữ Việt trong sáng của tiệm giầy với Giầy xấu giá cao hay quán nhậu với tên bí hiểm Thích thịt khiến lão mài óc nghĩ không ra. Đang đèo lão trên xe, nó quẹo vào con hẻm nhỏ, rẽ trái, rẽ phải, rẽ lung tung tới quán cà phê vườn. Lão ngẫm nguội con đường nhỏ ít ai biết, lại đâm đầu vào ngõ ngách ấy vậy mà khách đông như rươi. Vừa ngồi xuống, nó dàng dênh quán cà phê, quán nhậu đầy rẫy ở đầu đường cuối ngõ. Nó cho hay Sài Gòn hơn mười triệu dân…dân thất nghiệp “đông như quân Nguyên” nên mới đẻ ra quán cà phê, quán nhậu.
Thằng em kế đưa lão đi thăm một trong những nhà giầu nhất họ bằng taxi. Nó bấm I-Phone kịch kịch hiện ra mặt mũi…“lái xe” với tiền phải trả. Ba phút sau “lái xe”…lái xe tới cửa nhà. Khác với năm 2000, gọi taxi, lão đứng ở lề đường vẫy tạy gọi ơi ới. Ngồi trong xe cứ thấp thỏm nhìn cái đồng hồ chạy vô tội vạ. Sau mới hay ấy là…Uber. Vì ở Mỹ lão có đi Uber bao giờ đâu! Về cái ở Mỹ không có: Một là về nhà bà cô ngày đầu có giỗ. Họ hàng khách khứa khỏang ba, bốn chục người, bà gọi mang đồ ăn thức uống tới. Lạ một nhẽ họ mang cả đầu bếp, tiếp viên, bàn ghế sắp xếp đâu vào đó. Hai là: mỗi tuần, “osin” tới nhà dọn dẹp nhà cửa và giặt giũ quần áo. Cô osin chỉ làm ba, bốn tiếng, lẳng lặng đến, âm thầm về, không nói một tiếng. Trong khi lão cứ…ngớ ra.
Bởi thế lão thửa được cái tên: Người đi chân đất nằm ở hồi sau.
Gia cang nhà giầu phải có cái khoá cổng sắt to đùng, ở Mỹ lão chưa bao giờ thấy và cái sân bày cây bosai. Cái giầu qua bộ trường kỷ to như cái long sàng. Hoặc trên tường treo tủ kính con con, trong có chai Whiskey Chivas Regal 18 (năm). Gặp Việt kiều họ kín đáo quăng lựu đạn, mảnh đạn văng tứ tung với tâm sự của bên thắng cuộc. Như vừa đi Tây, đi Tàu về, kèm theo khoe ngầm chuyến đi tốn kém này kia. Với cung cách của bên thua cuộc, lão dè dặt nên có và cần phải có. Nếu không họ lấy đô la vo tròn búng cho rỗ mặt, lỗ chỗ như B52 trải thảm Khe Sanh mùa hè đỏ lửa năm 72.
Từng ấy nhiễu sự đẩy đưa lão về nhà bà cô lão mà vợ chồng lão đang trú ngụ. Nhà trong ngõ, sáng tinh mơ có ông Bắc kỳ 54 giọng khê thuốc lào: Ai mài dao mài kéo đây. Ừ thì lão cũng tìm lại được tiếng rao từ nửa thế kỷ trước, nhưng mài dao, mài kéo sao mọc mũi sủi tăm được. Hay bà người Nam với cái đòn gánh đầu này buộc bó chổi, đầu kia bó quạt rao lanh lảnh: Ai mua quạt nan, chổi lông gà đây. Nhìn bó quạt, lão nhủ thầm một ngày bà bán hai, ba cái quạt để…đánh ruồi không đủ nuôi miệng cóc.
Lão lau lách chuyện vợ con lão đi chợ để nấu canh chua cá kho tộ cho bà cô Bắc kỳ đặc. Tế quán lão (vợ) gặp một bà cụ bán cá, trên cái mẹt vỏn vẹn chỉ có ba con cá. Mỗi con bốn chục ngàn, trong khi một bát phở bảy chục ngàn. Mua bán xong, nhìn bà cụ mặt mũi nhăn nheo, tế quán lão hỏi cụ tuổi thọ bao nhiêu? Cụ trả lời: 60. Tế quán lão chưng hửng vì mình cũng 60. Bèn quay sang con gái hỏi có nên gửi cụ ít tiền ăn trầu chăng. Con gật đầu vì đang ngẩn ngơ sao có bà cụ bằng tuổi mẹ nó mà già lão, nghèo khổ quá vậy. Thế là tế quán lão dúi vào tay bà cụ năm trăm ngàn. Mắt bà ngơ ngác nhìn lên làm như chuyện không có thật. Hai mẹ con lẫm đẫm đi về, quay lại, vẫn thấy bà bán cá miền Nam hóng mắt nhìn theo. Lão nghĩ Bắc kỳ hai nút vào đây kkhẩm địa hơn Bắc kỳ chín nút và người thổ địa miền Nam nhiều.
Thì đây, tuần sau, thằng em bia tô rượu bát đưa cả nhà lão tới nhà con gái nó ở bên kia cầu xa lộ cũ, nhà ở tầng 14 của một cao ốc cao mấy chục tầng. Nhà hai phòng gọn ghẽ, bếp điện tử sáng loáng những nút là nút, như condominium deluxe ở Mỹ. Mở cái tủ lạnh xịn toàn Hamburger, Pizza, hỏi ra lão mới hay vợ chồng thằng cháu đi chợ Cosco. Còn con học trường quốc tế, học phí giá bèo 1.000 đô một tháng. Trường tên tiếng Việt gọi rất một thời Nho học là…“Văn Miếu”.
Vì ở cùng quận 2, lão ghé thăm thằng bạn, thằng này sau 75, vượt biên không xong đành ở lại nín thở qua sông. Vậy mà nó ngoi lên hồi nào không hay nhờ lấy vợ cán bộ. Qua điện thọai nó nói lão muốn ăn thịt bò…”steak” chính tay vợ nó làm có ngay.
Nhà nó nằm trong khu Thảo Điền, những cửa hàng ở đây toàn tên Mỹ, tên Pháp, tên Ý như một thành phố nhỏ của Tây phương. Nhà nó như…mansion, “bảo vệ” mở cánh cửa dầy nửa gang tay, lão đảo mắt như lạc rang gì cũng quá khổ. Lên sân thượng, nó dều người ra nhà nó “mèng” nhất trong khu Thảo Điền và chỉ nhà một đại gia như Tử Cấm Thành của Tàu. Đi thang máy xuống tới phòng ăn…steak. Lão u ơ trông thấy vì steak đây là…bò lúc lắc mà vợ nó gọi là bò…”núc nắc”. Hơn thế nữa, bò lúc lắc thái vuông quân cờ được vợ nó…gọi tiệm mang đến. Đến mục trà dư tửu hậu, vợ nó gọi trà Lipton là…“trà giật giật”. Lại vẫn thói tục của Bắc kỳ hai nút là khoe của, vợ nó dẫn vào cầu tiêu chỉ cái robinet loại mới, cần đưa lên đưa xuống, vợ nó gọi là…“cái gật gù”. Lão định đùa dai cái gật gù chạy đầy đường ở Hà Nội nhưng nghĩ sao lại thôi.
Trên đường Sài Gòn phố, lão…gât gù nhìn ra ngoài đi tìm dấu tích Sài Gòn xưa in ít của Bình Nguyên Lộc. Lão chỉ dòm thấy thấy văn hoá Hamburger, văn hoá Starbucks đầy ngoài đường phố mà ai đấy viết đi khắp Sài Gòn chẳng thấy tên Nga đâu?. Đang trên đường phố, đập chát vào mặt hết Phố văn hoá đên Phường văn hoá bên cạnh bảng văn hóa có một đống rác bự sự. Bèn…“chém gió” (tán chuyện) cái thiếu văn hoá của lão với thằng bia tô rượu bát. Nó gà gưỡng: ”Anh là…người đi chân đất”.
Cụm từ này của người Hà Nội, hiểu lơ mơ lỗ mỗ là lão chả biết gì sất:
Sài Gòn phố với lão sau 75 chỉ vu vơ thế thôi. Vì vậy hai thằng em hè nhau đưa lão…“tham quan” Hà Nội. Đưa lão ra Bắc có thằng em bên thắng cuộc thứ thật. Số là nó ở trong đội phòng không tên lửa ở Nghệ An. Đang ngồi trong xe cua (command-car của Nga) bị hoả tiễn Mỹ chơi một quả, nó bị văng ra ngoài…văng nguyên một hàm răng. Vậy mà nó không chống Mỹ mà chống…bác và đảng ta kịch liệt. Bởi thằng này có một thời…”giao lưu” với lão ở Hà Nội năm 54. Lão bỡn nó nếu như Mỹ mang quân trở lại, nó có chống Mỹ Ngụy cứu nước chăng? Nó nói ngay: “Em để cho Mỹ Ngụy thắng luôn”. Lão hỏi sao vậy?. Nó bồm bãm khi nào tới Nam Định sẽ ba điều bốn chuyện sau. Gì mà như luộc cả con trâu trong nồi vậy. Ừ thì chuyện đâu hãy còn đó. Nó thuộc tạng “nhậu tới Quách Tỉnh thì về”, là nhậu tới…bất tỉnh. Nó…“bò lồm cồm như cua” mà rằng.
– Hà Nội, em “thổ dân”.
Nói xong, thằng thổ dân đưa cả nhà lão đi ăn phở Thìn ở 13 phố Lò Đúc. Theo nó Thìn là tên ông chủ tiệm, tiệm mới chỉ xuất hiện ở Hà Nội không lâu. Năm người ngồi xuống, người phục vụ tới hỏi: “Ăn gì”. Chưa kịp há mồm gọi phở tái gân hay chín nạm gầu thì người phục vụ…biến. Lát sau bưng ra năm bát phở. Thấy mặt lão đực như ngỗng đực thằng em rồ mồm phở Thìn chỉ có một loại phở tái bằm. Vừa nói nó vừa trả tiền và nói vấy: Ấy là Văn hoá trả tiền trước, là văn hoá của người Hà Nội hôm nay. Xơi phở Thìn, lão có…”cảm giác” nước phở hơi bị đục, bánh phở như bánh cuốn Thanh Trì, thịt khô, vì vậy đừng tin những ai…bốc phở Hà Nội.
Lão phăm phở ngẫu sự trên với thằng em bia tô rượu bát, nó ùm lên:
– “Đời rất dở nhưng mình vẫn niềm nở…để nức nở bên bát phở”.
Ghé thằng em bên ngoại, nhà năm tầng, phòng nào cũng có camera nhòm ngó lão túi bụi. Bởi chả biết sao nó có cơ ngơi bự sự này nên hỏi, thằng em chỉ ba bức tượng: con khỉ. Bèn không hiểu. May đang có chuyện cá chết ở Vũng Áng, Hà Tĩnh. Nó vui chuyện kể đòan thanh tra vụ cá chết của nó có ba người được cả một đại đội bảo vệ, AK ngập răng làm như sắp đi đánh Trường Sa không bằng. Gì mà cả một đại đội công an. Nó chắc như cua đinh đúng 174 người. Đành hỏi tiếp tìm thấy gì và báo cáo với cung đình Ba Đình ra sao? Nó chỉ ba con khỉ. Lão hiểu vụng nếu biết bịt mắt, bịt tai, bịt mồm thế nào cũng được cung đình Ba Đình đấm mõm ít tiền dằn túi. Và đại đội công an đây để…”cách ly”, không cho dân…”linh tinh” với tóan thanh tra của nó.
Sau đấy thằng em đưa lão tới quán bún chả Hương Liên mà Tổng Thống Obama đã tới ăn ở đường Lê Văn Hưu. Leo lên gác, nó hoắng lên chuyện bún riêu nhà, cà hàng xóm là chủ quán được điện thoại đặt cọc giữ chỗ cả tháng trước, chủ quán ngỡ có…đám cưới. Ngày đó, tầng trên, tầng dưới đông nghẹt khách là khách. Dưới con phố Lê Văn Hưu nhỏ hẹp, đàn ông đàn bà nhàn tản đi lại làm như không có gì xảy ra và không một ai biết các ông, các bà, và khách đều là…bò xanh, bò vàng.
Rất ngay tình bún chả…chả ngon gì sất bởi nhẽ người Hà Nội thanh lịch xưa ngâm thịt nướng trong bát ô tô với mắm giấm, đồ chua, ớt tỏi. Rồi gắp từng miếng thịt, nhúm bún, rau vừa miệng vào bát ăn cơm. Còn người Hà Nội Thanh-Nghệ Tĩnh bây giờ thì cả thịt, bún, rau được tống táng vào bát ô tô như…bát phở. Khổ nỗi bát phở nước dùng là…nước mắm nên lão chả…mặn tí nào.
Ừ thì đã kể thì kể cho hết, ngồi trên máy bay về Sài Gòn, con gái nói với bố muốn thăm…“capital” Hà Nội. Quay sang mẹ nói mẹ chụp hình I-Phone coi chừng người ta giựt. Thế là lão đưa vợ con vào đền Ngọc Sơn, không phải để con gái xem điện Văn Xương Đế Quân, nơi các thầy đồ tới xin sâm, xem bói trước khi đi thi. Mà để con gái chiêm ngưỡng cụ rùa mấy trăm tuổi nằm trong lồng kính.
Ra khỏi đền Ngọc Sơn, ngồi nghỉ ở ghế đá, dòm bên kia đường xa xa, dường như có tượng Lý Thái Tổ thì phải. Thấy vậy, tế quán lão bước qua đường. Đang chụp hình, có tiếng tế quán la hớt hải…Lão và con gái ngỡ bị giựt máy hình. Hai bố con vừa đứng lên, vừa lúc tế quán chạy về mặt xanh lè nói: “Nó đuổi” – “Thấy bò vàng, bò xanh không” – “Không, chỉ nghe cái loa nó oác oác…cấm không chụp hình”.
Nghe hục hặc về phở Thìn, thằng em “thổ dân” đưa đi ăn phở Bát Đàn để lão biết thế nào là: Văn hoá xếp hàng. Trên đường, nó hặm hụi phở Bát Đàn không phải là phở gia truyền vì cũng chỉ có mới đây, tiệm nằm trên phố Bát Đàn gần hồ Hòan Kiếm nên có cái tên ấy. Tới căn nhà bé bằng lỗ mũi ở số 42, người Hà Nội xếp hàng dài cả 100 thước, thấy lão ngán ngẩm, thằng em đưa vào quán cà phê trước cửa. Theo tập tục người phục vụ cà phê đi bộ sang tiệm phở bê phở về, mỗi bát phở tính thêm năm ngàn. Trên bàn có thìa nhôm, đĩa dầu cháo quẩy, nhưng tuyệt không có rau thơm, chanh, tương ớt. So với phở Thìn, phở Bát Đàn nước trong hơn, nhưng thịt vẫn khô, ăn như nhai giẻ rách, bánh phở vẫn mềm nhũn như…bánh cuốn.
Ăn xong, lão ra ngoài đường nhả khói và mục sở thị người phục vụ cà phê…“làm việc” với người phục vụ phở: Năm bát đây – Còn 40 nữa – Quên. Hỏi thằng em bia tô rượu bát lão ngộ chứng ra 40 là tiền dầu cháo quẩy. Kèm theo đối thoại cụt ngủn là hai tiếng chửi ĐM liên tục của người Hà Nội với “phở mắng cháo chửi” và người Bắc nói chung. Với hai chữ… ĐM, chữ khác câu, những câu chửi của người Bắc mà lão bị chửi tắt bếp trên đường tìm về cơ ngơi thổ quán. Nhưng ấy là chuyện sau.
Thêm một lần, lão phăm phở với thằng em bia tô rượu bát…bát phở hơi mặn, nó …“cười như nghé” và cho hay: Phở mặn là truyền thống của phở Bát Đàn. Thế là mặt lão bẹt ra như bánh xe xẹp lốp với…truyền thống phở mặn. Khi không lão hoài cố nhân đến ông bạn nhà báo Lê Thiệp đã đi vào thiên cổ, cũng ở nơi chốn này, ông ngồi ở phố Bát Đàn để có bài lưu cảo: Ăn phở Hà Nội.
“…Trên con đường trở về chỗ trọ, tôi thấy lỗi tại tôi trăm bề. Tôi đã đổi, đã thay chứ Hà Nội của tôi vẫn thế, vẫn là Hà Nội của nửa thế kỷ trước. Nơi đây, thời gian ngưng lại. Tôi nhìn lại gốc cây sấu được quét vôi trắng. Nó vẫn y như cây sấu của tôi ngày xưa. Tự nhiên tôi phá ra cười. Ngày xưa, ông Sartre nhìn thấy một gốc cây xù xì mà phát hiện ra chủ nghĩa hiện sinh. Tôi vừa nhìn thấy gốc cây sấu, đã phát hiện ra là ở Hà Nội yêu dấu của tôi, thời gian ngưng lại mà đôi khi lại còn đi giật lùi….”.
Hà Nội qua Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng sau 54, lão chỉ lêu bêu có bấy nhiêu. Biết vậy nên thằng em “thổ dân” đưa lão về thăm Nam Định.
Xe bon bon trên xa lộ, qua làng mạc, những căn nhà vách trát bùn, mái lợp rạ vẫn còn đấy, thỉnh thỏang mới có nhà bằng đất, quét vữa vôi. Đàn trâu năm sáu con gầy nhom, da bạc phếch ngơ ngác bên vệ đương nhìn…thời gian như ngưng lại. Hàng quán nghèo nàn, có quán cơm phở vắng khách, trống hoác. Bèn hỏi. Thằng em dẫu mồm năm 1964 xuất hiện máy bay do thám không người lái của Mỹ nên người Hà Nội có cụm từ “phở không người lái”. Cụ Nguyễn Tuân viết Tùy bút phở với phở không người lái, không thịt nên mang cái vạ chữ nghĩa là thế đấy. Thuở ấy ăn phở bao cấp, bát phở tú ụ bày ràn rạn, chỉ một loáng đã lần lượt hết bay. Phở thay bữa, phở không còn là ăn quà. Phở lan ra tỉnh lộ, trộn nước phở với…cơm nguội để ăn lấy no.
Tới phố Bà Triệu, Nam Định, thằng em “thổ dân” mới nói dín là trở về phố xưa. Nó muốn lão về thăm căn nhà cũ mà thời bao cấp gọi là căn hộ. Trước kia, lão chỉ lờ mờ căn hộ là nhà được chia ra làm nhiều căn bằng cót ép. Nhưng căn hộ của gia đình nó ngay đây lão không tin ở mắt mình. Ngách vào bề ngang vừa vặn cái ghi-đông xe đạp, vừa đủ cho một người lách vào. Cuối ngách là cái cầu thang tối thui. Lên hết cầu thang, va vào mắt lão 9 m vuông cho gia đình nó 7 người. Phòng không điện, không cửa sổ, âm u, bức bí, khiến lão có cảm tưởng bước vào nhà tù. Bốn bức tường gạch loang lổ tù túng và nóng nực. Nóng đến độ nhà chỉ có cái chiếu cho bố mẹ nó, chiếu đến phải ngâm nước cho ẩm ướt để dễ ngủ. Riêng anh em nó, chiều chiều ngồi ở lề đường hóng gió. Nó gọ gạy muốn giữ căn hộ này để làm kỷ niệm của một thời điêu linh.
Nó dẫn lão qua bên đường gặp thằng bạn cũ còn sót lại ở con phố này.
Năm nay là năm 2016, bạn nó có cái quán nước bên lề đường. Quán không phải là quán nước của Thạch Lam, thời Tự lực văn đoàn với chõng tre có mái che, dăm ba nải chuối, lọ kẹo vừng, cái ấm tích. Quán đây đơn độc chỉ có 4 cái ghế nhựa thấp tịt, gác cạnh cái bàn nhựa là cái điều cày. Trên bàn có phích nước chè cáu bẩn, và…tập số đề. Dòm cái điều cày như khẩu ba-zô-ka dường như của anh em cải tạo năm 75 lưu lạc tới đây. Cái điếu cày ba-zô-ka này bằng nhôm, ai đấy chế biến từ ống chiếu sáng của súng hỏa hiệu của Quân lực VNCH. Bạn nó làm như hiểu ra lão kết cái điếu cày, xách xe đi mua cho lão cái điếu cày bằng gốc tre gộc. Trong khi chờ đợi, thằng em “thổ dân” vụn vặt chuyện mắc chứng gì nó chống bác và đảng đến kỳ cùng. Chuyện 54, ông cụ nó không kịp đeo tàu há mồm vào Nam nên đành ở lại theo Cách mạng mùa thu chết. Ấy vậy mà sau ông cụ nó cũng quan chức như ai. Nó tâm sự vụn: “Thầy em, chỉ được cái theo voi ăn bã mía, đi sau đổ vỏ cho thằng ăn ốc nên có dạo đói vàng mắt ra đấy“. Đến năm 75, vào Nam, nó như bà Dương Thu Hương mới vỡ bọng cứt.
Rời Nam Định, xe chạy trên Quốc lộ 10 về thị xã Thái Bình. Tới thị xã Đống Năm nơi bà cụ lão có tiệm bán vải vóc ở đấy vào thập niên 50. Thị xã Đống Năm cách làng Thượng Tầm 5 km là nơi lão oe oe chào đời 72 năm trước. Lão nói “lái xe”…lái xe táp vào bên đường. Số ruồi vì già hay đái giắt, lão mò ra bụi cây tè một bãi thì…
Thì sau lưng có mợ ở lỗ nẻ nào chui lên vén mồm chửi lão te tái. Mợ chửi lão i xì các cụ ta chửi mất gà. Nghĩ cũng hay, mợ chửi có bài bản, nào là: Tiên sư tổ bố nhà mày nhá, để ông, để bà dậy cho thằng giá đái bậy biết nhá. Nhá nhem rồi, mợ chửi lão như vặt thịt: Cha năm đời mười đời bố cụ nhà mày nhá, để ông, để bà lấy dao cắt buồi mày, để ông, để bà bỏ thỏm buồi mày vào nồi, đun sôi sùng sục, mày múc ra mâm, mày ăn ngấm ngầm cho tới tam đại, tứ đại nhà mày nhá! Tiên sư tổ bố thằng già đái bậy.
Vậy là…bố già tịt không bậy bạ được nữa. Chỉ khổ…thằng con!
***
Về Sài Gòn, lão đi Vũng Tàu gặp thằng bạn cũ trường xưa …
Xe qua Long Thành, nay là con phố dài mấy chục chục cây số. Dòm ra ngoài, lão bùi ngùi nhìn những căn nhà trống hóac, không có vách, mái lá gồi nước phơi khô lạc lõng giữa đồng không mông quạnh. Lão không thấy người đâu cả, họ như biến mất trong cõi nhân gian này. Trong tâm thái Đi tìm thời gian đã mất, Marcel Proust chỉ đi tìm thời gian qua cây cầu đầu làng. Còn lão đi tìm người trăm năm cũ. Người từ trăm năm lẩn khuất ở dãy núi Thị Vãi trên kia, hay đâu đây ở mảnh đất dưới này, xưa thật là xưa có tên của người Khờ-me là: Mỏ Xoài. Bỗng không lão dây mơ rễ má tới chùa tên tự Linh Sơn, thời Gia Long có bà cung phi tên Lê Thị Nữ tu ở đây, được gọi là Bà Vãi. Nên núi có tên là núi Thị Vãi hay Bà Vãi. Lúc này lão ớ ra bây giờ ngòai Bắc nhà thơ nhiều hơn chùa, trong Nam chùa nhiều hơn nhà thờ. Hay là sắp đổi đời chăng.
Đến trần ai khoai củ này lão tức anh ách vì chuyện…đổi đời.
Chuyện là trên đường về quê ngọai Hải Dương. Gần tới Hải Phòng, lão dòm thấy cơ xưởng sản xuất hàng điện tử chữ Tàu to đùng, dưới có hàng chữ Việt tên cơ xưởng: Tần Thủy Hoàng. Cổng vào có bò vàng đứng gác, mặt mũi…”khẩn trương”, quần áo thẳng nếp đứng thẳng như thằng người gỗ. Building cửa sổ kính gương xanh lè, trong sân, cần cẩu cao nghệu. Thế này thì đổi đời thật chứ còn khỉ gì nữa.
Tới Vũng Tàu, lão bắt “cái cùi bắp” gọi thằng bạn cũ trường xưa để bù khú. Thằng bạn Nam kỳ hẹn lão ở quán cà phê ngồi chồm hổm gần nhà. Ngồi xuống, bởi vừa qua những dấu ấn của một thời xa xưa với địa danh, thảng như có Mỏ Xoài mới có Sài Gòn. Được thể lão vật lên Sài Gòn phong thổ chí: những lưu dân người Tàu tìm chỗ dung thân men theo sông Tân Bình nhắm xem địa thế ở giữa đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố dựng lên tân sở sau là Sài Gòn ngày nay (tức xóm Quảng Đông chỗ miếu Quan Đế). Thuở ấy chưa có từ Chợ Lớn. Tên Chợ Lớn chỉ mới có thời Pháp. Tên Chợ Lớn hay Sài Gòn cũng vậy thôi, bởi Sài Gòn đã mất tên. Vì vậy Sài Gòn nay không còn của thằng bạn người miền Nam nữa. Lão leo heo tổ tiên thằng bạn xưa kia đến đây khai khẩn đất hoang để có mảnh đất miền Nam. Bây giờ thằng Nam kỳ xem như mất đất.
Sài Gòn hôm nay đã thuộc về cổ sử.
Cùng mang tâm thái người Chàm mất đất với thằng bạn Nam kỳ. Lão thở ra như trâu hạ địa mà rằng, cách đây 500 trăm năm, nếu không có chúa Nguyễn Hòang cho dân khai khẩn đất hoang thì…Thì năm 54, thằng Bắc kỳ lão không có đất dung thân.
Ngày là gió tháng là mây, khi này hồi cố quận, ngồi với thằng bạn người miền Nam. Lão nhìn trời đất vu vơ cùng hòai đồng vọng nào đấy….
Thạch trúc gia trang
Bính Thân 2016
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(thêm bớt 2018, 2021,2024)
©T.Vấn 2024
