cnlv ngộ không

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 340)

Bánh chưng Truyện Bánh chưng, bánh giầy với hình dạng trời tròn đất vuông được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp có từ thời vua Hùng Vương. Truyện giản dị, dễ hiểu. Chỉ có tên bánh mới…hơi khó hiểu. Xin bàn về cái tên Chưng. Trần Thế Pháp viết :

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 311)

Giai thoại làng văn Tố Hữu nói chuyện thơ với Xuân Diệu: “Thường khó làm câu đầu và câu cuối. Câu cuối phải gợi ra cái gì rộng hơn cái mình nói trong thơ. Phải mở, không được đóng. Đóng lại là vô duyên. Đọc câu cuối người ta còn nghĩ, còn vơ vơ vẩn

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 252)

Chữ Việt gốc Tàu Chữ Việt gốc Tàu là một đặc thù của văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, là những chữ, mà ta dùng thẳng từ của người Tầu và dùng âm của mẫu tự quốc ngữ viết lại. Như: Phở nguồn gốc từ chữ “phảnh” của tiếng Quảng Đông. Nạm là miếng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 250)

Thuật nhi bất tác Trong văn chương chữ nghĩa thỉnh thoảng có tác giả đề ra “Thuật nhi bất tác”. Hiểu theo nghĩa là truyện viết chỉ là chuyện kể, chứ chẳng sáng tác gì! Thực ra câu này của Khổng Tử. Khi dịch thuật các Kinh, làm sách Xuân Thu để rao giảng đạo

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 249)

Chữ Việt cổ (III) Trong tập: “Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ”, giáo sư Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu từ thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tộc Kinh – Lạc Việt lại

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 248)

Chữ Việt cổ (IV) Sau nhiều năm khảo sát, nghiên cứu những hình vẽ, chữ viết trên đã cổ Sa Pa, giáo sư Lê Trọng Khánh đã công bố: Trên 200 bản khắc trên đá cổ Sa Pa (190 tảng còn lại, gần 20 tảng bị phá), tôi thấy chữ viết đồ họa thuộc tiền

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 247)

Chữ quốc ngữ (3) Chữ dùng viết bài thơ ba chữ dạy trẻ mẫu giáo của Tản Đà: Chữ quốc ngữ Chữ nước ta Con cái nhà Đều phải học Miệng thì đọc Tai thì nghe Đừng ngủ nhè Chớ láu táu (Trần Bích San – Văn Khảo) Cải tạo tiếng Việt Sống ở Mỹ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 246)

Ba gai Ba gai là tiếng để chỉ những anh lính vô kỷ luật, ba gai, ba đồ. “Ba gai” từ tiếng “pagaille” của Pháp. (Vương Hồng Sển – Tự vị tiếng Việt miền Nam) Giai thoại làng văn (1) Lúc cùng ở với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân chưa nổi tiếng. Tôi biết Tuân

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 245)

Tiếng Bắc tiếng Nam Vì thổ âm “đất mặn, giọng chua”, nhiều người Bắc đọc phụ âm “tr” thành “ch”, “d” thành “gi”, “s” thành “x”, quen phát âm ra tiếng gió, khiến giọng trở nên chua. Người Nam nhiều người phát âm bỏ “dê dưới” (g), chẳng hạn như câu hát “làng tôi có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 244)

Ca dao tình tự (11) Nói đến tiết trinh Lẳng lơ chết cũng ra ma Chính chuyên chết cũng đưa ra ngoài đồng (Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca) Biên khảo văn học Hán Nôm Kỹ thuật ấn loát của ta ngày xưa rất thô sơ, nước ta chỉ có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 243)

Hương ước Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến dân cư sinh sống trong làng. Các điều lệ này hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh khi cần thiết. Xưa, các điều ấy quen gọi là lệ làng. Hương ước không chỉ đề ra các hình thức trừng phạt

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 242)

Ca dao tình tự (15) Nói đến trai gái dan díu Liệu mà mở cửa phòng ra Đêm nay anh quyết chơi hoa với nàng Dù ai mà có lạng vàng Không đem chuộc được nàng đêm nay (Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca) Tươi rói Ðây là hiện tượng

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ