07/02/2013
Ngộ Không : Người về tự trăm năm…

clip_image001

Canh khuya đèn tàn, sử quan dường như tối qua thức suốt đêm, sáng nay trước sân vài ba cây trổ hoa kết quả, ngậm hương mang tuyết, mờ mờ sương phủ lùm cây xa xa. Vậy mà trông mặt mũi ông ủ dột như chiếc lá ướt gặp mưa. Bởi lẽ nhìn suông đất trời như thế này với việc đời biến cải, thời gian đổi dời, hạ qua thời thu tới, đông tàn ắt xuân sang, luật biến dịch tự nhiên là thế. Tất cả như vừa mới qua giấc mộng dài, nhưng chưa chín một nồi kê…

Chẳng là với giấc mộng đồ thư nửa gánh, gươm đàn một bao, ông mang cái hoài bão lấy sở học ra kinh bang tế thế…Vậy mà con đường hoạn lộ không ngoài tiến vi quan thoái vi sư. Ông chỉ là thái tử thiếu bảo tức thầy đồ bát nháo dậy dỗ con vua, cứ như quan thái giám trông coi cung nữ, phi tần không bằng. Thiên bất đáo địa bất chi như ông thế đấy. Ấy vậy mà đến cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc, tưởng ông không còn gì huyễn hoặc nữa! Thì nhờ ơn vua lộc nước, ông được tiến cử có chút hư danh trong triều, đó là tước vị là sử quan. Nay ông đang ngồi ở sử quán rị mọ sao chép, thêm bớt bộ thông sử của những sử thần tiền nhiệm. Vả lại bộ thông sử cần hoàn tất trước lễ đại khánh, điều đó ắt hẳn sẽ làm vua ta mãn nhãn.

***
Dùng xong bát cháo gà nóng, sử quan sai trà đồng bày bàn trà trước hàng hiên. Ông muốn được thảnh thơi đôi chút trước khi nhập triều. Ông đang vờn mây khuấy nước cùng chim kêu hoa nở, gió thoảng hương bay thì buổi sáng nhón nhén của sử quan bỗng chấm dứt đột ngột vì có tiếng reo hò từ phía cửa Thượng Tứ vọng lại. Ông nghe rõ tiếng chân nhiều người rầm rập trên đường mỗi lúc một gần.

Đặt chén trà đang uống dở xuống, ông đứng lên trông cho rõ hơn. Qua mặt tường thành người ngựa đi được, phía ngoài là hàng rào gỗ dầy đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông, mười phần kiên cố. Ngoài tường thành là quán xá, bốn phương tám mặt, nơi nào cũng cây cối um tùm, qua hàng cây ông thấy loáng thoáng một nhóm người cầm gậy gộc đuổi theo một con chó. Họ vừa đánh vừa quát ầm ĩ: “Chó dại! Đánh chết nó đi!”. Chó và người vụt khuất sau mảng lá rậm của rặng cây ngô đồng. Tiếng kêu ăng ẳng của chó, tiếng gào la hét của người đập vào tai ông. Lát sau, đám đông tản mát ai về nhà nấy.
Chuyện vặt ngoài kia chẳng đọng lại lâu trong tâm trí sử quan. Lòng dạ ông đang rối như tơ vò vi bộ thông sử ông hiệu đính đây còn nhiều khuyết sử cần phải cẩn án, hiệu đính này kia.

Chiều về, gặp buổi mây chiều gió sớm với bữa yến thưởng trăng tại Vọng nguyệt lâu, trong khi chờ vua giá lâm, các quan nói chuyện rôm rả về cái chết của con chó hồi hôm. Sử quan dửng dưng, nhưng các mẩu đối thoại cứ nhè chui tọt vào tai ông.

Thượng thư bộ lễ răng to như bàn cuốc, chép miệng: “Hình như là chó dại…”
Đông các điện đại học sĩ không bằng lòng với đồng liêu: “Còn hình như gì nữa? Chính mắt tôi trông thấy lưỡi nó thè ra, nước bọt nhễu trắng mõm.”
Tả thừa tướng cãi um lên: “Sao lại chó hoang, phải có chủ chứ?
Hàn lâm viện học sĩ gật gù tiếp lời: “Kẻ nào là chủ con chó hè?”

Vọng nguyệt lâu ắng lặng chốc lát. Nghe thủng chuyện, sử quan trầm ngâm nhìn áng mây bay và tự hỏi sáng nay chính ông đã thấy nó chạy ngoài tường thành. Bây giờ ông không dám chắc một điều gì cả! Vua Khải Định vẫn còn đang mải mê coi hát bộ trong hậu cung. Câu chuyện lại tiếp tục với đông các điện đại học sĩ: “Nó đã cắn nhiều người, đánh chết là phải.”
Thượng thư bộ binh: “Đánh là thế nào? Bọn lính giản bắn mấy phát tên mới giết được nó.”
Tiền thị vệ giọng xởi lởi: “Bẩm phải.”
Hữu thừa tướng gạt đi: “Không có cung tên nào hè. Chính mắt tôi thấy con chó bị đánh bằng gậy!”

Vừa lúc vãn tuồng hát, vua giá lâm. Sau khi miễn lễ cho các quan, vua vui vẻ báo tin: “Các khanh biết không? Sáng nay, một ngự lâm quân của trẫm đã bắn chết con chó bằng súng điểu thương!” Không ai bảo ai, các quan đại thần nhất loạt đứng lên, nâng chung rượu khai vị bằng hai tay, đồng thanh: “Lạy thánh mớ bái, thật không hổ danh ngự lâm quân!”.

***
Trên đường về sử quán, sử quan bã bười, tươi tớp về cái chết của con chó khiến ông bối rối. Như thị ngã văn, sự việc vừa xảy ra ngay trước mắt, ông còn chưa biết đâu là sự thật thì làm sao mà viết thành văn bản cho sử thi? Huống chi nhân vật lịch sử, sử tài cách ông cả chục năm mới đây thì còn mù mờ biết nhường nào? Ấy là chưa kể sử kiện sẩy ra cả ngàn năm trước, cả trăm năm sau như gió thổi mây bay thì nào ai có hay biết. Vì vậy những gì ông đang hiệu chỉnh trong bộ thông sử đây, với giác ngoại biệt truyền bất lập văn tự, nếu như có bậc thức giả nào đấy văn kiến súc tích, sở kiến cao minh để ông kiến văn sở thị thì hay biết mấy. Ông nghĩ thêm đêm nay ắt hẳn phải thay bấc đèn nhiều lần và quay lại thăm chừng đèn đóm…

clip_image003

 

 

 

 

 

 

 

 

Bất chợt ông ngước mắt nhìn lên bức truyền thần vẽ vị tiền bối của ông là cụ Phan Thanh Giản, cụ đồng thời cũng là Quốc sử viện giám tu ở đây, mà trước kia thời vua Minh Mạng được gọi Quốc sử quán. Vị đại thần này là người đã soạn thảo bộ Đại Nam hội điển, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí. Cụ mặc áo đại triều mầu thiên thanh, đội mũ cánh chuồn, chân mang hia cánh phượng, hai tay đặt trước đầu gối thấy rõ đủ mười ngón tay. Cụ trông thật cương nghị và quắc thước với bộ râu trắng, dường như đang nhìn ông muốn…dò hỏi chuyện gì làm ông đang rối trí đây.

Chuyện là sử quan đang nổi trôi bồng bềnh như con thuyền gặp sóng với mấy cái tựa đề sử thi của cụ Phan gì mà lẵng nhẵng quá thể! Trong một giây phút yên sĩ phi lý thuần, ông bật ra ý đồ hay là hãy tránh dẵm lên những bước chân sói mòn của tiền nhân dựng sử theo “kỷ truyện” của Tư Mã Thiên với tiểu sử nhân vật. Hay như cụ Phan chẳng hạn với “sử biên niên”, sử liệu viết theo theo niên hiệu, niên đại mà Khổng Phu Tử là người tiên khởi. Hoặc giả như với “sử cương mục” của Chu Hy với tiểu đề ở đầu chương là đề mục rồi dàn trải dông dài hồi sau.

Vì vậy ông chẳng rỗi hơi lặp lại toàn bộ thông sử vì ai cũng biết rồi, nhiều khi chỉ làm rối ren thêm. Những gì ông đang đầu bù tóc rối bây giờ, tất cả chỉ là những mảnh rời của những đoạn tạp bút, nói cho ngay là…tạp sử. Trong mươi trang tạp sử này, ông không bản lai diện mục như với cái chết của con chó sáng nay để đi tìm đâu là sự thật. Ông chỉ đề mục một vài khúc ông chưa thông tuệ của triều Nguyễn mà ông đang là bề tôi. Rồi cứ thế mà ngược dòng lịch sử khoắng mái chèo dăm ba uẩn khúc của khuyết sử vẫn còn tồn nghi. Hay nói khác đi, ông muốn đối thoại với lịch sử một nghìn năm trước, một trăm năm sau…Ấy vậy mà nước sông ba trăm năm mới đổi dòng một lần, thế nên chẳng hẳn là suôi chèo thuận mái. Rõ ra sử quan như chiếc thuyền con ngược bến Văn Lâu về một vùng hoang vu vạn lý…

***

Với tay lấy bộ tứ bảo… Gia dĩ ông là thái tử thiếu bảo, ông chấm bút lông vào nghiên mực và bắt đầu với con vua Khải Định trước, vốn là ấu đồ của ông…Riêng chuyện Hoằng Tôn Tuyên hoàng đế Khải Định nếu vẽ rết thêm chân chăng không ngoài là ông vua mê đào hát. Ngay chính vua múa bút tự trào với khẩu khí chẳng biển ngẫu chút nào: “Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tầu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoang ra dáng, rạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng”.

Thế nên vua thường tuần du vào Sài Côn để xem hát bộ, cải lương. Sài Côn ở đâu sử quan cũng chẳng mảy may hay biết. Huống chi Bắc thành ngoài Bắc bộ, hay Nam Kinh mãi ở bên Tầu, sách địa dư, địa chí không có nên viết sử nhiêu khê không phải là ít. Còn vua kế vị là ai, vương hiệu gì là chuyện của sử quan kế tiếp, như ông đang làm cái công việc của Quốc sử viện giám tu đây. Tiếp đến, ông mò mẫm theo lịch triều những triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp như Duy Tân, Thành Thái, Hàm Nghi, Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Dục Đức… ông ngán ngẩm quá đỗi. Mò mẫm thời Tự Đức, ông bắt gặp Bùi Viện, Phan Thanh Giản đã xuất dương nhiều nơi. Ông như chiếc đèn dầu đang muốn soi rọi những bước đi của hai vị tiền nhân này thì…

Thì bỗng cái đèn hạt đậu đang đỏ đèn bỗng lóe lên một cái như muốn phụt tắt. Ông chồm người khều cái tim dầu. Và quay lại…Ông thuỗn người ra vì vừa nhắc đến “triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp” thi ông thấy rõ mồn một…một ông Tây mặt như lá chuối hơ lửa đứng trong thư phòng tự lúc nào. Ông dụi cái đóm lửa và thần ra nhìn ông khách lạ như gặp lại người về tự trăm năm. Người về tự trăm năm ngó lơ như không có ông ở đấy, lẳng lạng kéo cái ghế trông ngồi xuống, bình thản săm soi bản trước tác mà ông đang rị mọ…

Đèn đóm đã tỏ đèn lại, sử quan ngắm ông Tây kỹ hơn rõ ra đại nhân này cao lớn như quan Khâm Sứ Trung Kỳ vẫn thường đến quan nha. Ông liếc trộm thấy quan đội mũ chùm hụp như cái nồi. Lưng đeo cái hồ lô. Áo không có cánh tay, hai túi có nắp đậy như cái liếp cửa trái bếp, hai cầu vai có mảnh vải như con cá rô con nằm bẹp dí. Áo bỏ trong quần. Quần không có ống, chân quấn vải giống cái rọ bắt cua và mang giầy da bò. Người quan ngoại có nét mặt đồng nhan, nghiễm nhiên như tùng bách. Như có linh tính, sử quan quay lại nhìn bức truyền thần đằng sau lưng, và đập vào mắt là cái khung trống trơn…

Ông đang trơ mắt ếch thì nghe cười khủng khỉnh:

– Bản chức là Phan Thanh Giản đây.

Sử quan như Từ Hải chết đứng vì chẳng hiểu là người hay…ma. Vừa ngây người nhìn bộ áo quần cụt ngủn, ông vừa suy nghĩ ngôi có tôn ti, lễ có cấp bậc nên bối rối ra mặt và lắp bắp:

– Đại…đại nhân là…là cụ…cụ…

– Cụ cố gì. Tiên sinh cứ khách sáo vẽ chuyện.

Rồi “cụ” chỉ vào bộ đồ đang mặc:

– Hồi qua Tây nhờ nhìn cái đèn đường chổng ngược nên bản chức sắm được đấy.

Sử quan líu lưỡi:

– Cụ đi…đi…Tây.

Cụ Phan cười cười:

– Thì còn ai trồng khoai đất này, sử của tiên sinh chép rành rành thế đấy.

Thủ lễ vấn danh xong nhưng trong cái đầu đậu phụng của sử quan như dầu tẩm bột gạo vì với cụ Phan, ông một lòng tác dạ ngưỡng mộ đã lâu. Nay nhân giải vong niên, thật là tam sinh hữu hạnh mới được hội kiến nên ông cứ đực ra như ngỗng đực. Vừa lúc cụ bâng quơ:

– Hoàng tử Vĩnh Thụy vốn người ngoại tộc, được Khải Định nhận làm con nuôi. Khi Khải Định hoàng đế qua đời ở tuổi 41. Các quan phụ chính đại thần như Tôn Thất Hân , Nguyễn Hữu Bài vội vàng ra bản thông tri đưa lên nối ngôi, lấy hiệu là Bảo Đại, mới 13 tuổi.

Rồi ông tiếp:

– Năm 1949, Bảo Ðại đã chọn Sài Gòn làm kinh đô của Việt Nam.

Câu nói vo ve trong tai sử quan như ong vò vẽ kêu, cụ nói giọng mũi lơ lớ…như quan Tòan Quyền Đông Dương và cho ông hay thái tử sau này là…vua. Nghe vậy, ông hân hoan ra mặt nhưng sẽ tham vấn sau. Nhân nghe đến địa danh Sài Côn mắc chứng gì lại là kinh đô Sài Gòn, trong khi ông đang ngồi bí rị ở sử quán kinh đô Huế. Một công đôi chuyện có cụ đây, ông định biện giải là bấy lâu nay ông lạc vào mê hồn trận với những nhà biên khảo, học giả cùng địa danh bắc giáp địa dư, tây giáp địa chí như lạc vào bát quái trận đồ. Chưa hết, những sử quan đi trước với mỗi người mỗi niên đại, niên hiệu khác nhau nên ông chả biết đâu mà lần với sử nước nhà. Thêm nỗi huyền hoặc, huyền sử nữa là sao cụ lại biết quá khứ vị lai ấm sinh Vĩnh Thụy của ông. Ấm sinh ông nay mới ba tuổi, mươi năm nữa sẽ làm vua, chạy trời không khỏi nắng ông sẽ chẳng là…quan phụ chính đại thần như cụ đây.

Thế nên ông càng líu ríu tợn và lưỡi đá miệng nói chữ:

– Sao các hạ hay mà tại hạ chẳng…hay.

Cụ giọng khàn khàn, tịt tịt:

– Hay ho gì đâu…Chẳng dấu gì tiên sinh, bản chức vốn là người thiên cổ, tức người cõi trên ở chốn thiên đàng. Bản chức giống thiên thần suốt ngày bay tới bay lui. Lắm khi bản chức bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau mà chữ nghĩa sau này gọi là “lỗ hổng thời gian” ấy mà, thưa tiên sinh. Vì vậy có một số người vượt thời gian không gian, ngược lại quá khứ và tìm thấy tiền kiếp của mình ở một góc làng xa xôi hẻo lánh nào đó. Thỉnh thỏang họ lại mang về dăm cái nồi, cái chảo hoen rỉ, cũ kỹ cả trăm năm. Hoặc họ lạc đường tới hậu kiếp, mang về…cái máy nói cầm tay, cái máy vi tính. Như bản chức đây…

***

Nói xong, cụ lôi trong túi áo ra bao giấy bóng kính to bằng bàn tay có hàng chữ Tây Phillips Morris để lên bàn…Sử quan thần ra chẳng biết là cái của nợ gì? Giọng cụ khừng khực: “Thuốc lá của ông Hồ đấy”. Sử quan chưa hết lạ lẫm với cái tên Bảo Đại, nay lại lụi đụi thêm với tên ông Hồ! Thêm nữa, ông thấy cụ xuất dương có khác, đúng là ý tại ngôn ngoại, học thuật tinh vi, hình mạo nham cổ, ắt có cái nhìn hơn người. Nhân khi nghe cụ dậy có thể viễn kiến cả nghìn năm trước, sử quan đang có những khúc mắc viễn thị với…một trăm năm sau.

Đang định thao tác thì cụ đã dông dài:

– Như trên đã ý tại ngôn ngoại, bản chức chẳng hay hóm gì. Thế nên có chuyện mọn muốn bộc bạch rằng cái đám quan chức của ông Hồ vừa rồi là Trần Huy Liệu, Viện trưởng viện sử học Bắc bộ phủ đã quấy hôi bôi nhọ bản chức như thế này đây, tiên sinh nghe có nhi nhĩ thuận chăng: “Tất nhiên khi chép về sử kiện vua quan nhà Nguyễn như Phan Thanh Giản cắt đất ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ và dâng cả đất nước Đại Nam cho xâm lược Pháp thì các sử gia miền Nam coi đó không phải là chuyện…phản quốc và vô liêm sỉ”.

Thêm một lần, sử quan lại nghe lẻng xẻng những cái tên kim tiền gì mà với “vô liêm sỉ”, “Bắc bộ phủ”, “sử gia miền Nam”, “Trần Huy Liệu”. Nhưng lần này sử quan nhất định giựt gọng cụ cho ra nhẽ, thế nhưng chưa kịp rọ rạy, cụ đã đỡ nhời:

– Nay tiên sinh đã biết hậu sự của Bảo Đại rồi. Nhưng nhiều sử gia miền Nam vẫn chưa hay nguồn gốc thế tục, bản quán thổ ngơi của người đứng đầu Bắc bộ phủ là Hồ Chí Minh.

Óc ách xong, cụ lụi cụi lấy hai hòn đá cuội trong túi áo thuộc địa xoẹt vào nhau cái xọet…ra lửa, rồi châm vào nhúm bùi nhùi để mồi điếu thuốc, cụ lặng lờ thở một đụn khói. Tiếp, cụ moi trong cái hồ lô đưa cho sử quan một tập thư kinh có cái tựa là “Vào Cõi”. Sử quan mừng quá đỗi vì có túc duyên mới được sách qúy. Bỗng sử quan nghe cụ dậy: “Tư liệu này là của một trong tứ trụ sử gia miền Bắc có tên là Trần Quốc Vượng. Tiên sinh tham chiếu xem sao”. Cụ đằng hắng tiếp: “Trần quân hao tổn công sức về chuyện này mà mất hết công danh bổng lộc. Vậy mà may, may mà không thành thái giám như Tư Mã Thiên”.

Sử quan râm ran, được cụ biết đến lại cho đọc kỳ thư nên thực là thiên tải kỳ phùng nên bất giác mừng rỡ, vục mặt vào mấy trang sách đọc thẳng một hơi…

“…Trở lại câu chuyện một người tuy có tên tuổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó ruột thịt với một người có tên tuổi: Đó là câu chuyện về ông thân sinh ra Hồ Chí Minh, ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy. Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế ông Hồ, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác. Mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử. Nếu như có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh và rộng ra hơn nữa. Nhưng số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta…”sợ”. Sợ động chạm đến ông Hồ. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn Life and Death in Shanghai, đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia“.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo. Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ. Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ XIX cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, huyện Nam Đàn, với làng Sen, Kim Liên. Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”. Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa có chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề vì “chửa hoang”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…
Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ. Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, mong ém nhém việc đã “to bụng”. Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc, kẻ đổ vỏ”. Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).
Vài năm sau cụ Nhậm qua đời và bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc về ở ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa gần đó, xót thương đứa trẻ mồ côi, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ. Nhờ sự gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo với các quan lại đồng liêu quen biết, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cáo quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận.

Nguyễn Sinh Sắc đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con vào Huế. Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông trượt. Bà Hoàng Thị Loan ốm mất, sau khi sinh đứa con trai Nguyễn Sinh Côn (ông còn mang nhiều tên khác nữa như: Nguyễn Tất Thành, hay Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này)….”

Đọc rối cả mắt, nhưng là sử quan nên buồn môi ngứa mép:

– Thưa các hạ, vậy chứ ông Hồ Sĩ Tạo có họ với Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ?

Cụ Phan lắc đầu:

– Chẳng hẳn là thế. Tiên sinh hãy thong thả, đâu sẽ còn đó.

Thế là sử quan đành lan man tiếp…

”…Nguyễn Sinh Huy đem con về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi. Ông có đến thăm ông Hồ Sĩ Tạo. Sau khi mẹ vợ mất, ông phiêu bạt vào Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa..Ở làng Sen sau này, chỉ có người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, và người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông Cả Đạt). Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ ông Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của ông phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết. Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông? Hay là sau đó nữa chả lẽ ông cử nhân Huy, bà Thanh, ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” gốc tích thân phụ mình? Ông biết hay không biết chuyện này? Nhưng đến đầu thập kỷ 40, người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh. Và tên này ông giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin”.

Trở lại vời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì ông biết ông nội đích thực của mình là…Hồ Sĩ Tạo. Còn câu hỏi ông Hồ có biết gốc gác của ông ta không? Thì cái kim để mãi trong bọc cũng phải lòi ra: Chuyện là khoa thi Hội, bố ông thi trượt tiến sĩ. Cán bộ theo lệnh ông: Trong lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp đã khéo dịch tên học vị của bố ông là sous docteur mà ngày nay ta gọi là…phó tiến sĩ .

***

Sử quan thấy cụ chuyện nào cũng thông suốt, lời truyền tụng bốn bể nghe danh chẳng hề sai lạc. Nay cửu trùng tri ngộ, ông cũng muốn cơ xướng náo nhiệt một phen với cụ qua khúc đầu thời Tự Đức với Bùi Viện. Ông năm nắm với có bột mới gột lên hồ nên hỏi cụ về sử kiện ấy. Cụ thò tay vào ba lô, lôi ra hai tư liệu, hai cái ly có chân và chai rượu mầu đỏ tên Bordeaux. Cụ rót mỗi người một cối. Sử quan nhấp một ngụm thấy chua như nước đái mèo nên thầm nghĩ thảo nào cụ Phan với huyền thoại cụ uống rượu như uống thuốc độc rất ư…khả tín.

Nghĩ thì nghĩ vậy, sử quan không quên lấy một tư liệu mà cụ vừa mới đưa để tụng:

“…Hạ bán thế kỷ XX, xuất hiện ở Nam Việt Nam “một huyền thoại” là dưới triều Tự Đức, vào năm 1873 Bùi Viện đã 2 lần đến Mỹ được tổng thống Ulysses S. Grant tiếp đón. Bùi Viện là ai? Có hai tài liệu chép sự việc này, tuy nhiên chi tiết khác nhau đáng kể:

1 – Theo nhóm tác giả Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ ghi Bùi Viện được phái qua Quảng Đông tìm cách thông thương với ngoại quốc. Tại đây ông kết giao với con lãnh sự Mỹ và được người này hứa đem qua Mỹ xin viện trợ chiến tranh để đánh Pháp. Bùi Viện về Huế xin phép vua. Vua chưa tin, phái ông qua Hồng Kông hỏi cho chắc chắn mới ban quốc thư. Sợ mất thời gian tính, Bùi Viện mạo quốc thư qua Hồng Kông. Chính phủ Mỹ đồng ý, Tự Đức không bắt tội, ban cho ông danh nghĩa chính thức qua Mỹ xin viện trợ.

2 – Theo Thái Văn Kiểm, Bùi Viện nhận lệnh Tự Đức qua Hồng Kông tiếp xúc với lãnh sự Mỹ hy vọng dùng áp lực quốc tế chống lại âm mưu thôn tính của Pháp. Qua sự giới thiệu của lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông, ông sang Nhật gặp lãnh sự Mỹ ở Yokohama. Từ đây, mùa đông 1873, Bùi Viện qua San Francisco được tổng thống Simpson Grant” tiếp kiến. Nhưng vì Bùi Viện không có quốc thư, nên Grant không hứa hẹn điều gì….”

Cho tới đầu thế kỷ XXI, chưa một tài liệu nào chứng minh được Bùi Viện qua Mỹ :

Văn khố Mỹ: Tại văn khố bộ ngoại giao Mỹ không có tài liệu nào về Bùi Viện qua Mỹ. Và nếu như được Grant tiếp kiến 2 lần sao không tại Washinton mà lại ở San Francisco. Điều này không thuận lý vì được một tổng thống Mỹ tiếp kiến chẳng phải là dễ dàng và không thể không có những dấu tích ngay từ hàng lãnh sự địa phương như Hồng Kông hay Yokohama.

Văn khố Việt: Nguyễn triều châu bản Đại Nam thực lục chính biên với bút phê và ấn dấu của Tự Đức. Có tất cả 10 tài liệu về Bùi Viện nắm cơ quan đặc trách chuyên chở đường thủy là Chánh quản đốc Nha Tuần Tải. Ngoài Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ không có chứng từ nào khác liên quan đến Bùi Viện xuất ngoại qua Hồng Kông, Nhật hay tiếp xúc với người Mỹ.

 

Sử quan rút một mảnh tư liệu khác có tựa đề Lịch sử hay huyền thoại…và cắm cúi đọc:

Thêm một huyền thoại được hoang tưởng do một mục tiêu chính trị nào đó với chuyện người Việt có mặt trên đất Mỹ trong buổi sơ khai: Ấy là ông Hồ…Cứ như theo lời tự thuật của ông Hồ, khi còn làm việc trên tầu Pháp, dưới bí danh “Paul Thành”, trong khoảng thời gian 1913-1919 ông đã tới New York, Boston, Philadelphia tức nhằm vào Thế chiến thứ nhất (1914-1918).

Điền này được xác nhận bằng một nhân chứng người Mỹ gốc Triền Tiên, Kim Tchong Wen, đại diện chính phủ lưu vong Triều Tiên tại Paris năm 1919. Ông Kim cho biết đã gặp ông Hồ ở Philadelphia. Theo tình báo Pháp, tại sao Kim Tchong Wen không phỏng vấn ông Hồ tại Philadelphia mà là ở Paris và thông dịch viên cho hai người với bút đàm bằng “chữ Nho” là…Phan Chu Trinh?! Trong khi năm 1919 Phan Chu Trinh bị nhốt ở ngục Santé. Đồng thời theo báo Yshi của hội truyền giáo Tin Lành Mỹ thi ngày 19 và 20 năm 1919: Ông Hồ đang ở Thiên Tân. Mặc dù ông Hồ ở Mỹ 6 năm, nhưng theo Pierre Brocheux ghi nhận trong Du révoutionnaire à l’icône năm 2003 thì không tìm thấy dấu tích gì của ông Hồ ở Mỹ…”

Sử quan tự hỏi há lại có cái lý ấy sao? Như đọc ý nghĩ của ông, cụ Phan ho khan và ậm ừ như với chính mình: Năm 1943, ông Hồ được móc nối với cơ quan tình báo chiến lược OSS qua một trung úy tên Kent nhẩy dù xuống Cao Bằng. Vì vậy ông Hồ lấy bí danh tiếng Việt là “ông Ké”, tiếng Mỹ là “Lucius” và nhận súng đạn, điện đài và y dược của phái bộ quân đội Mỹ.

Rồi cụ ngật ngừ như không có sử quan ngồi đấy: Theo thứ tự thời gian, thập niên 40 ông Hồ tiếp xúc với người Mỹ ở chiến khu Việt Bắc. Tiếp đến theo như lời tự thuật của ông Hồ như tiên sinh vừa hay là ông tới Mỹ vào đệ nhất thế chiến. Sau này ở miền Nam có giai thoại Bùi Viện là người đầu tiên tới Mỹ. Vậy chứ là sử gia, tiên sinh cứ luận ra là rõ nhiễu sự ngay ấy mà. Rồi cụ bâng quơ: Nói chung thì tiên sinh ghi nhận sử kiện chứ không trình bầy. Tiên sinh nặng về sưu tầm ít tra cứu. Mà nếu có tra cứu gặp nhiều khó khăn, phức tạp thì tiên sinh nhẩy qua vũng lầy của lịch sử, để dễ dãi chấp nhận những sử kiện của những người đi trước.

Sử quan đang nghệt mặt ra vì khi không bị mắng vốn…Cụ lại nhởn nha: Thảng như khi tiên sinh nghe Trần Huy Liệu, Viện trưởng viện sử học Bắc bộ phủ đàn hặc bản chức là phản quốc. Tiên sinh cũng nhẩy qua vũng lầy, đâu có quay mặt lại tìm hiểu vì công cuộc kháng Pháp. Họ sợ tiểu tư sản trí thức theo Pháp nên họ mang bản chức ra làm vật tế thần, thưa tiên sinh.

***

Trở về lại với kỳ thư “Vào Cõi”, nhân túm tó được câu “Đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn…”. Sử quan lấy đó làm tâm đắc vì cái thế tất phải như thế chẳng cưỡng lại được là khoe mẽ với cụ phần ông xập xòe về nhà Tây Sơn để biến cải càn khôn một phen cho hả:

“…Sử quan trở thành người viết sử cung đình. Dưới mắt sử quan chỉ có hai loại người: Minh quân hoặc ngụy quân. Minh quân là những kẻ ngồi trên ngai vàng, còn lại là những kẻ phản thần. Họ chỉ là những “giống chó dê”, “thằng mọi đen ở đất Tây Sơn” giống “quân mọi rợ”. Cũng như trường hợp của Hồ Quý Ly, Mặc Đăng Dung, tuỳ theo cái nhìn của sử quan mỗi thời đại? Như thế thì viết sử trung thực được bao nhiêu? Phần người đời sau, dựa vào đâu mà kê cứu, trích lục? Cho nên, lịch sử vẫn còn đó, nhưng đâu là sự thật?
Người sau đọc sử riết rồi bị uốn nắn, thuần hóa vào quan điểm của sử quan. Nên sử khả tín hay không tuỳ thuộc vào sử quan của mỗi triều đại. Sử trở thành phong thần, thành dật sử? Viết về nhà Tây Sơn, mọi tình tiết, tài liệu xoay quanh thời kỳ này phần lớn căn cứ vào hai tài liệu: Đại Nam chính biên liệt truyệnHoàng Lê nhất thống chí. Nhưng cả hai sách này đều được viết vào cuối thế 19, nghĩa là nửa thế kỷ sau mới được nhà Nguyễn sao chép. Về nhà Tây Sơn chỉ thực sự bắt đầu do quan ngự sử Bùi Đình Trí dâng sớ xin biền soạn để…’’răn đe’’ đời sau. Việc thuật lại về ba anh em Tây Sơn chỉ qua quýt cho xong chuyện với mục tiêu khinh miệt một thời kỳ coi là tiếm nghịch như nhà Hồ, nhà Mạc. Thế nên cách dùng chữ cũng rất tiểu nhân nhỏ nhặt, như khi chép lại lời nói của Nguyễn Huệ khi tự xưng đã dùng chữ ‘’cô’’ với chữ nho là người đàn bà. Thay vì dùng chữ ‘’Cô’’ là lời nói nhún nhường của bậc quân vương. Với hơn 2000 trang, chính yếu là họ ghi chép tiểu sử các danh thần, hoàng tử, công chúa, chính phi, hậu phi…Vì vậy chẳng giúp người sau suy ra thêm những việc khác.
Thêm nữa, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, có tha gì mà không đốt sạch, phá sạch dấu vết nhà Tây Sơn còn sót lại? Tất cả những gì được gọi là “Nguỵ tây” bị nhà Nguyễn đốt hết. Việc truy quét đó không phải chỉ một lần mà còn đuợc lập lại ở những vì vua kế tiếp cho đến khi không còn một dấu tích. Lúc ấy viết sử chỉ là ngồi “nhớ lại”…truyện hàng mấy chục năm về trước.
Cuốn Hoàng Lê nhất thống chí nằm trong trường hợp này. Sau mấy chục năm, sử liệu đào đâu ra mà viết cho đến nơi đến chốn? Mặc dầu khởi đi từ Ngô Thời Chí, đến những hồi sau thì lại do Ngô Thì Dụ, Ngô Thì Thiến tục biên. Những tác giả Hoàng Lê nhất thống chí thu tập được bao nhiêu? Ấy là chưa kể những điều trong sách ấy ghi chép đúng hay sai. Hoàng Lê nhất thống chí, hoặc Annam chí lược, không phải là một sách địa chí, mà chính là một cuốn lịch sử tiểu thuyết viết theo lối truyện “Tam quốc diễn nghĩa” của Tàu. Hiếm có nhà biên khảo, học giả nào không trích một vài đọan để dẫn chứng, kể cả những câu truyện phòng the giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân mà ngay cả kẻ thị thần chắc cũng không am tường được như thế.

***

Cụ Phan nghĩ ngợi một chút rồi tầm chương trích cú:

– Tiên sinh bất bình tắc minh như thế cũng phải thôi. Vậy thì bản chức xin vô phép vô tắc mạn phép thưa rằng: Tiên sinh viết sử quan thời nhà Nguyễn trở thành người viết sử phong thần với minh quân! Rõ ra tiên sinh đâu có hay thời xã hội chủ nghĩa ngày nay thì sử của họ là ‘’sử phong thần’’ với… ‘’Hồ Chí Minh vĩ đại’’.

Quỷ tha ma bắt nữa là thời hậu Hồ, họ cũng đốt sách tàn dư ngụy quân, ngụy quyền. Nào có khác gì ‘’nguyên mẫu’’ của nhà Nguyễn với ‘’bản sao’’ Gia Long: Họ có tha gì mà không đốt sạch, phá sạch dấu vết nhà Tây Sơn còn sót lại? Tất cả những gì được gọi là “Nguỵ tây” bị nhà Nguyễn đốt hết. Như tiên sinh vừa khiên cưỡng diễn giải ở trên.

Chưa hết, ngoài cụm từ ngụy quân, ngụy quyền có từ thời Gia Long. Họ còn vay mượn hai chữ ‘’cải tạo’’ có từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Trộm theo bản chức tìm thấy trong Đại Nam chính biên liệt truyện thì chúa Nguyễn dành hai vùng “cải tạo’’ là Thủy Xá phía đông và Hỏa Xá phía tây núi Bà Nam thuộc tỉnh Phú Yên cho người Chiêm Thành mất nước. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ‘’cải cách’’ và ‘’tạo dựng’’ nơi ăn chố ở có tên : xá, ‘’láng’’, thưa tiên sinh.

Cụ đắng đót luận cổ suy kim:

– Nhưng lịch sử là một chuỗi móc xích tiếp nối, để không khỏi không nhắc đến năm 1835, quân Xiêm La đem quân chiếm Thổ Chân Lạp. Minh Mạng sai Trương Minh Giảng đem quân đánh dẹp, bắt nữ vương Ang Mey đưa về Gia Định quản thúc, sau đó toàn thể bầu đoàn thê tử cận thần quan lại của triều chính Chân Lạp bị đưa ra Bắc tập trung ở rừng núi Hoàng Liên Sơn cho tuyệt hậu hoạn. Lịch sử là một cuộc tái diễn không ngừng với 140 năm sau, một đoàn người thất trận đang đêm bị lôi dậy, nối đuôi nhau từ phương Nam ngược về phương Bắc, tận vùng sơn lam chướng khí bên dẫy núi Hoàng Liên Sơn để bị giam giữ. Nơi mà thân bằng quyến thuộc của Nặc Ông anh, Nặc Ông em đã bị tập trung ở đấy từ thế kỷ trước.

Cụ nhíu mày như có gì suy nghĩ nung lắm rồi rạch ròi:

– Gần đây, khi việc đề cao triều đình nhà Tây Sơn được coi như là quốc sách, nhất là ẩn náu những động lực chính trị sau sử phong thần thì tài liệu và sách vở viết về nhà Tây Sơn bỗng dưng thành ‘’dật sử’’. Năm 1988 đã có đến 1623 công trình viết về Tây Sơn. Số lượng này có lẽ nhiều hơn bất cứ danh nhân nào trong lịch sử các triều đại trên thế giới. Tất cả vì họ đánh lận con đen hết Hồ Chi Minh cùng gốc gác với Hồ Quý Ly, đến Nguyễn Huệ với họ Hồ đổi sang họ Nguyễn. Như tiên sinh vừa hỏi han gốc gác Hồ Qúy Ly, Nguyễn Huệ với bản chức vừa rồi.

Bản chức chẳng hiểu họ sưu tra ở đâu nhiều đến như thế. Như nhà Hồ với súng thần công, tiền giấy. Nhưng họ đâu có hay biết là tiền giấy có từ đời nhà Trần với Vương Nhữ Chu vào cuối năm Mậu Thìn (1388), với tướng quân Trần Khánh Dư nói một câu: “Tiền giấy đời Trần ta …” có ghì trong sử thi. Còn súng thần công thì phải đợi đến khi Hồ Đăng Trừng, con của Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt mang sang Tầu mới chế ra súng “An Nam thần công”.

Thêm nữa, không hiếm những sách vở miêu tả anh em nhà Tây Sơn và cận tướng võ công cao cường như các nhân vật võ hiệp. Ngay cả những nhà nho ẩn dật như Giáo Hiến, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp nay được đưa vào kịch bản để trở thành bản sao của Khổng Minh, Bàng Thống. Dần dà người viết cũng như người đọc coi như là sự thật, rồi đến mươi thế hệ sau sẽ trở thành những sự thật lịch sử, thành chính sử. Họ còn nhập nhằng cuộc nổi dậy của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, người nông dân Lê Lợi là…cuộc cách mạng công nhân Mác-Lê tiên tiến, là…phong kiến chính thống. Và họ như con bò nhai lại với…quan điểm duy vật biện chứng khoa học là ngọn hải đăng soi sáng cho chế độ lạc hậu, phong kiến Lý, Trần, Nguyễn.

Cụ Phan lại “bất bình tắc minh”…như sử quan:

– Sử sách gì mà họ chỉ nhai văn nhá chữ cho sướng miệng mà chẳng hay biết rằng: “Phong kiến” gồm hai chữ “phong tước” tức ban quan tước và “kiến địa” tức ban đất để dựng nước. Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập một lãnh địa, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt.

Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai quấy. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai bậy bạ hơn nữa, thưa tiên sinh.

***

Nhúm bùi nhùi cầm tay, cụ nồng nã:

– Gần đây, người trong nước họ biện giải chuyện Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê và bị kết tội cắt đất nộp cho nhà Minh như thế này đây:

Họ diễn sử theo sử thần Ngô Sĩ Liên nhà Lê (Đại Việt sử ký toàn thư) ghi là 6 động của châu Vĩnh An. Sử thần Trần Trọng Kim nhà Nguyễn (Việt Nam sử lược) chép là 5 động và thêm Châu Khâm, nhưng châu Khâm là đất thuộc Trung Hoa từ đời Tống cho đến nay. Ngự sử Lê Quý Đôn nhà hậu Lê (Đại Việt thông sử) chép trả lai 4 động đã xâm chiếm. Tại sao có những con số khác biệt vậy? Vậy thì việc cắt đất rõ ra chẳng…rõ ràng. Họ thêm thắt là khảo đến sách Phương Đình địa dư chí của Nguyễn Văn Siêu thì chỉ có 3 xã, không có động. Họ lập luận thế thì 6 động nhà Mạc đem nộp ngờ là đất ở châu Khâm chỉ là tên gọi chứ không có đât.

Họ kết luận: Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải ‘’tội cắt đất dâng cho người’’ mà tội Mạc Đăng Dung là ‘’đã xâm lấn đất của người rồi không giữ nổi nay phải đem trả lại’’. Họ lập luận tiếp: Điều đáng buồn là những điều chép sai ngoa vừa kể trên trong sử sách phong kiến Việt Nam cứ thấm vào tim óc thế hệ này đến thế hệ khác. Chắc chắn rằng lịch sử được nhìn theo quan điểm thực tiễn của dân tộc kết hợp với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, nếu chưa kịp khen thì cũng không thể chê những hành động ngoại giao nhún nhường, khôn khéo hạ mình trước đối phương quá mạnh, cốt sao giữ yên bờ cõi và chủ quyền. Chẳng phải chính vua Quang Trung sau chiến thắng trận Đống Đa lừng lẫy vẫn phải thần phục thiên triều.

Lấy hai hòn đá quẹt cầm tay, cụ thở ra ::

– Làm có chúa, múa có trống, họ múa như công đĩnh đạc trước cửa nhà là chẳng phải chính chủ tịch Hồ Chí Minh hạ mình đến thăm tướng Tiêu Văn để đưa dân tộc thoát cảnh hiểm nghèo. Chẳng lẽ lịch sử không công bằng, chính xác? Với Hồ Quý Ly hay Mạc Đăng Dung thì việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại phong kiến, một dòng họ đã suy tàn là hợp quy luật. Việc trá hàng nhẫn nhục để giữ yên bờ cõi, và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội ‘’cắt đât’’ dâng cho kẻ thù thật ra không có chứng cớ chính xác…

Quẹt hai hòn đá quẹt để mồi thuốc, cụ thở ra…khói:

– Tất cả những kịch bản này được dàn dựng sau khi ông Hồ ép Bảo Đại thoái vị. Và được hiểu theo nghĩa là: Việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại phong kiến, một dòng họ đã suy tàn là hợp quy luật. Rồi cũng từ đấy trong sách vở họ hay dùng hai thuật ngữ ‘’sử gia phong kiến Việt Nam’’ hoặc tha ma mộ địa với ‘’sử gia duy vật biện chứng tiến bộ Mác Lê’’. Nói khác đi họ dùng duy vật biện chứng Mác Xít để dựng sử. Như ở trên đã dẫn chứng, riêng nhà Mạc, nhà Hồ họ gọi là…phong kiến chính thống, có lẽ vì nhà Hồ bị cho là hàng giặc, vì nhà Mạc bị lịch sử kết tội cắt đất cho Tầu. Giống với ông Hồ qụy lụy người phương Bắc, để sau này bị cái nạn với Bản Giốc, Trường Sa, Hoàng Sa chăng? Để rồi họ vẫn sáo mòn xưa cũ trong một cõi ta bà: Những hành động ngoại giao nhún nhường, khôn khéo hạ mình trước đối phương quá mạnh, cốt sao giữ yên bờ cõi và chủ quyền.

Làm mấy hơi xong, cụ dụi dụi điếu thuốc, hững hờ nhìn ra ngoài song cửa…

***

Nửa vách đèn tàn, luận cổ đàm kim, sớm đào tối mận đã lâu…Lại thấy cụ có kỳ nhân dị tướng thật đấy nhưng thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự quá đỗi. Chợt nhớ lại hồi chập tối cụ nói cụ ở trên thiên đàng, suốt ngày bay tới bay lui…Thế nên sử quan lớ ngớ hỏi: Làm sao tại hạ lên thiên đàng được như các hạ để bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau….. Cụ cười miệng nở hoa: Muốn lên thiền đàng phải…chết trước đã.

Cụ vừa lắc lắc ly rượu vang còn nửa đốt ngón tay, vừa nhìn chai rượu Bordeaux còn non nửa. Cụ lắng đọng với sử quan như một cơn gió thoảng:

– Bản chức trộm nghĩ rằng một trăm năm sau, một nghìn năm nữa với sử thi. Khơi lại đống tro tàn nào có khác gì uống vang cũ, vì sẽ làm ly rượu nhạt nhẽo thêm. Cũng như hãy để những gì thuộc về quá khứ lãng quên trong quá khứ. Đừng đốt lò hương cũ, đừng khơi lại, chỉ chuốc lây thêm dư vị không lấy gì làm ngọt ngào. Hãy uống ly vang đang cầm trong tay, tức là hãy sống cho hiện tại. Đừng bận tâm ngoảnh mặt nhìn ngày hôm qua. Đừng cố kiễng chân nhìn về những ngày sắp tới, vì làm thế chỉ khiến ly rượu này đây nguội dần, mất ngon…

Luận ngữ xong, cụ ngửa cổ uống hết ly vang. Tiện tay, cụ bỏ chai rượu vào cái ba lô…

Sử quan ngồi thừ ra ở án thư và lặng lờ nhìn ra ngoài song cửa, tiết trời êm dịu, hình bóng u nhã, móc đọng trên hoa, hương bay nhè nhẹ, trăng chiếu vào hiên, trúc thưa gió lọt…Chợt gió lọt qua khe nên đèn phụt tắt, sử quan lui cui châm thêm dầu. Thư phòng sáng tỏ lại, đẩy cụ Phan ra khỏi bóng tối của lịch sử và cụ…thăng. Và chỉ còn cánh cửa he hé mở kêu kẽo kẹt…

***

Ngày tứ tuần đại khánh của vua đã tới. Sau những năm tháng tửu lạc vong bần cũng ốm o gầy mòn nên vua ta cũng ngại ngùng với sinh ký tử quy. Vua cho triệu sử quan tới phán:

– Quả nhân chỉ có một điều mong ước là đọc được bộ cổ sử và sử nhà Nguyễn trước khi nhắm mắt theo tiên vương. Hiền khanh thu vén trong mười quyển được chăng?

Sử quan nghĩ đến sấp tạp sử mươi trang vừa mới hoàn tất đây vua còn ngập ngụa chưa buồn ngó tới. Nói gì đến bộ sử Đại Nam chính biên liệt truyện nhà Nguyễn 87 quyển! Còn cổ sử, cứ theo Đại Việt tòan thư thì bà Khương Nguyên giẵm chân lên vết chân người khổng lồ đẻ ra…ông khỉ. Ông khỉ từ cây leo xuống dựng lên nhà Chu. Từ đấy Ngô Sĩ Liên mới đào xới cổ sử nước nhà từ Động Đình Hồ, từ cá bò lên bờ hóa rồng, vì vậy mới có con rồng cháu tiên.

Sử quan thấy vậy cũng tạm đủ, nên đáp:

– Dạ được, hạ thần xin bệ hạ một năm.

Sử liệu mốc meo nằm yên bấy lâu trong tàng kinh các được lục sọan, tra cứu. Sử quan làm việc tất bật ngày đêm để tóm lược trên giấy khô mực cạn. Nhưng rồi cũng xong, bộ sử mười quyển được khệ nệ khiêng vào triều. Vua thấy vậy, lắc đầu lờ phờ, lào phào:

– Nay quả nhân đã sức yếu, hiền khanh thu gọn lại một quyển được không?

Sử quan mệt mỏi tâu:

– Xin bệ hạ cho thần…mười năm.

Sau mười năm, sử quan nay đã là sử thần. Lão thần đã thành cổ kính, đi phải chống gậy, tay run lẩy bẩy mang quyển sử vào trình.

Cũng đúng lúc vua đang hấp hối, phều phào:

– Quả nhân sắp về với tiên đế…Quả nhân ân hận…vì không biết lịch sử nước nhà! Vậy hiền khanh hãy tóm tắt bằng…một câu…Một câu thôi.

Với khuôn mặt nhầu nát như cái bị rách, lão thần rệu rã bên tai vua…

Vua gật gật đầu, đôi môi khô héo, bỗng nở một nụ cười mãn nguyện rồi băng hà, mang theo câu nói của sử thần về với tiên cảnh…

***

Xuân tàn hạ tắt, sau mấy thu sương rơi lá rụng, sử thần trở về chốn cũ. Thấy tử cấm thành nhà Nguyễn hiệu kỳ nâu xẫm, cung cấm, đình đài, hồ sơn, phật điện, quân cơ, chỉ thiếu vắng tiếng chuông Thiên Mụ. Ngoài cửa Thượng Tứ vẫn còn trạm canh, bốn phương tám mặt, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương chiều. Lộ trấn, quán xá, phạm điếm, bến chợ, sông thôn dâng khói nước, vẫn chẳng có gì thay đổi, nhất nhất vẫn như xưa…Việc đời biến cải, thời gian đổi dời, cảnh thu ly khiến cảm hồi khôn xiết, sử thần lại gặp non xưa, tựa vào đá, ngủ trước hoa và…đánh một giấc hoàng lương trong cõi mộng.

Cõi mộng sử thi với một ngàn năm trước, một trăm năm sau…

 

Thạch trúc gia trang

Hạ tận thu trưởng

Canh Dần niên 2010

Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

Nguồn:

Vui buồn của người chép sử – Ng. Ph. Vĩnh Quyền

Từ chính sử đến dã sử – Nguyễn Đức Cung

Trần Quốc Vượng: Tính trời nết đất – Viên Linh

Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và vương triều Mạc – Trần Khuê

Nhìn lại Tây Sơn dưới góc cạnh tài liệu lịch sử ngoại quốc – Nguyễn Văn Lục

Đi tìm một mảnh khuyết sử qua Khâm Định Annam sử lược – Nguyễn Duy Chính

Một thời kỳ khuyết sử – Nguyễn Phan Quang

Từ huyền sử đến sự thật – Trần Thị Vĩnh Tường

***

An Nam Chí Lược – Lê Trắc

Đại Việt Sử Ký Tòan Toàn thư – Ngô Sĩ Liên

Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngô Gia Văn Phái

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

Việt Nam Sử Luợc – Trần Trọng Kim

 

 

 

©T.Vấn 2013