T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

cnlv;ngộ không

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 204)

Chữ nghĩa làng văn Ở trong nước, trong nhà, sau 1975 không có thứ tự do viết. Cho nên, hình như tác phẩm nào “phạm húy” đều được chú ý, tò mò, để trở thành bán chạy, và nổi tiếng. Người viết, và cả người đọc bị sống trong không khí thúc bách khác thường.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 198)

  Chuyện Ta chuyện Tàu (2)  Con số vua chúa nước Trung Hoa tính từ lúc Tần Thủy Hoàng thống nhứt năm 221 trước Tây lịch cho đến hoàng đế Phổ Nghi cuối cùng của triều đại Mãn Thanh năm 1912 là niên lịch chấm dứt chế độ phong kiến, tổng cộng là 2132 năm,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 197)

  Tiếng nói xưa và nay – Sư ni: Đây là từ gốc Ấn Độ. Ở Ấn Độ, nam giới đi tu gọi là bít-sư, nữ giới đi tu gọi là bít-sư-ni. Khi các từ này nhập vào nước ta, chỉ còn giữ các âm tiết cuối: sư, ni (và sau đó nhân dân ta

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 196)

    Về hai câu thơ Hai câu thơ: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng Xếp tàn y lại để dành hơi” Nguyên thủy là của Trần Danh Ánh thời Lê Mạt: Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh Trùng phong khâm tử hộ dư hương   Chữ nghĩa làng văn Lỗ Ban, còn

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 194)

Nói dối trong sử học với…phường chèo (3)  Gần đây, tôi (Trần Nhuận Minh) được biết tại nhà thờ danh nhân văn hóa Chu Văn An tại Chí Linh, Hải Dương có dòng chữ sơn son thiếp vàng lớn để thờ: “Ta chưa thấy nước nào coi thường sự học mà khá lên được”. Dưới

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 193)

Chữ nghĩa làng văn “Tai vách, mạch rừng”, tôi thích thành ngữ này vì nó đối chọi chan chát / cái vách cũng nghe được, khu rừng cũng có mạch nuớc nhỏ chảy ra …/  Ý nói con người nên cẩn thận, có thể bị tiết lộ. Nhưng có người lại cho là: “tai vách,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 190)

Chữ nghĩa làng văn Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, thơ Nôm để chuyển sang văn học quốc ngữ đã xuất hiện hai gương mặt thơ tiêu biểu là Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Họ cùng thời và đồng hương nhưng thế giới các cảnh quan và tâm trạng trong thơ họ rất

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 188)

  Giai thoại làng văn Suốt dăm chục năm nay, người ta nghĩ rằng tiểu thuyết Giông tố không còn! Nhưng có người cho hay bản Giông tố đang thuộc sở hữu của linh mục Nguyễn Hữu Triết. Giông tố ban đầu xuất hiện dưới dạng truyện đăng nhiều kỳ trên tuần san Hà Nội

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 187)

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ”. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. Dân gian đôi

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 185)

  Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh nếu có người hỏi nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn trong một bài ca dao: Nước không chưn sao kêu nước đứng? Cá không giò sao gọi cá leo? Ghe không tay

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 184)

    Đàn đáy Vì ở thời Lý hay thời Lê thì âm nhạc của ta ảnh hưởng Tàu rất nhiều. Những ca trù hay ở chỗ lại không giống Tàu một chút nào. Một cây đàn đáy Tàu không có, một giọng hát Tàu không có, một cái phách Tàu cũng không có nốt.

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 183)

  Đế và vua Xưa nay chúng ta vẫn thường gọi “hoàng đế” là “vua”, từ vua trong tiếng Việt vừa chỉ quốc vương, vừa chỉ hoàng đế. Thực ra cách gọi này không chính xác vì hai từ này có thứ bậc khác nhau vì hoàng đế có quyền phong cho người khác làm

Đọc Thêm »
Lưu Trữ