Trăm hay không bằng tay quen
“Trăm” là một từ cổ thường bị hiểu nhầm là mười lần mười. Thực ra đây là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn từ “chiêm”, nghĩa là nói liến thoắng hoặc nói sảng trong khi bệnh.
Từ trên đây suy ra, “trăm hay không bằng tay quen” có nghĩa là nói lý thuyết có hay đến đâu cũng không bằng thực hành.
(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)
Giá sách cũ làng văn 1975-2010
Nay nhìn lại sinh hoạt văn học, trong nước thì xô bồ như chợ vỡ. Ngoài nước thì vắng hoe như buổi chợ về chiều. Cố mà vực dậy, vươn lên với những cố gắng của một số tập san, nhà xuất bản. Thế kỷ 21, Gió Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu nằm trong số đó.
Cứ giả dụ không có những tập san vừa nêu trên thì số phận sinh hoạt nhà văn Hải ngoại có còn nữa không? Nhưng người ta cũng nhận thấy hiện tượng lão hóa trong số những nhà văn trẻ trên đây. Rất nhiều nhà văn cầm bút muộn hay đã quá tuổi 40. Họ được coi là trẻ trong văn nghiệp, nhưng già tính theo tuổi đời. Nam Dao bắt đầu cầm bút khi tuổi đời sắp bước vào 60. Miêng, Mai Ninh bắt đầu sự nghiệp viết văn lúc trên 40 tuổi. Nguyễn Thị Thanh Bình nay 46, Lê Thị Thấm Vân 43, Lê Quỳnh Mai 42, Phạm Thị Ngọc 41, Ðinh Linh 41, Cổ Ngư 41, Hoàng Mai Ðạt 41, Thận Nhiên 42, Ðặng Thơ Thơ tên thì rất trẻ, nhưng nay cũng 42. Thật trẻ họa may còn có Ðỗ Lê Anh Ðào mới 25 tuổi.
Lớp người đọc bây giờ cũng từ lớp tuổi 49 đến 70. Ðiều đó cảnh báo một tương lai không sáng sủa gì cho văn học ngoài nước. Ðã thế sự nghiệp văn chương thì nhiều người còn mỏng. Và vẫn là thứ văn chương nghiệp dư… Cứ nhìn những nhà văn trẻ viết văn bằng tiếng ngoại quốc không khỏi làm chúng ta suy nghĩ. Những người như Linda Lê, Monique Trương, Lê Thị Diễm Thúy, Pedro Nguyễn, Valerie Tống Cường… Phải chăng, muốn trở thành nhà văn chuyên nghiệp thì chỉ có con đường chọn viết văn bằng ngoại ngữ? Nhưng những nhà văn trẻ vừa và thật trẻ vẫn là niềm hy vọng của sinh hoạt văn học di dân Việt Nam như những đóm lửa của hy vọng còn chờ đợi.
Bên nhà, niềm hy vọng đặt vào những người trẻ như Ðỗ Hoàng Diệu, bên này thì những người lớp trước như Lê Thị Huệ, Trần Vũ, Mai Ninh. Nay trọng trách đó đặt trên vai một số nhà văn có tiềm năng như Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Nguyên Phước?
Bao giờ niềm hy vọng cũng vẫn chỉ là hy vọng?
(Hiện trạng lão hóa nơi các nhà văn Hải ngoại)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Đàn ông mà không dê dê
Đàn bà không ngựa, phu thê không nồng
Già kén kẹn hom
“Già kén kẹn hom” là một lối nói của nghề nuôi tằm. Đây là một kết kinh nghiệm nhắc nhở người nuôi tằm chớ để cho kén quá già, vì nếu kén quá già thì sẽ “kẹn”, nghĩa là không róc ra khỏi hom, tức là những thanh tre ngang dọc đan ken vào nhau để làm thành cái né tằm.
Câu này từ lâu đã bị tách khỏi nghề nuôi tằm nên không còn được hiểu đúng với ý nghĩa ban đầu của nó nữa. Ngày nay, người ta hiểu “già kén” là kén chọn quá lâu ngày, rồi không cần biết “kẹn hom” có nghĩa chính xác và cụ thể là gì, người ta hiểu chung chung cả câu thành ngữ là hễ kén chọn quá lâu thì sẽ dở dang trong hôn nhân.
(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)
Thứ nhất thả cá, thứ nhì gá bạc
“Thả cá” ở đây là “thách cá”, nói trong một độ gà chọi hay cá lia thia, sau khi xem xét kỹ con vật rồi, những người cầm chắc con của mình chọn sẽ thắng, bèn thách mọi người bắt số tiền cá của mình.” (Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Việt Nam tự điển).
Lại cũng trong “nghề” cờ bạc, còn có một lối nói liên đới với “thả cá” là “bắt cá” mà cũng Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng là “nhận đánh cuộc”. Đây chính là từ thấy được trong thành ngữ “bắt cá hai tay” mà Vương Hồng Sển đã giảng rất đúng như sau: “Tiếng lóng của giới đổ bác: buổi sớm nơi trường gà tiếng bắt cá nghe xôm; bắt cá hai tay: ôm đồm, bên nào cũng có đánh (lội qua, lội lại) để khi ăn thì ăn được nhiều, khi thua thì thua ít”.
(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)
Lọ
Trong Nhị độ mai có câu: “Mộc mạc ưa nhìn lọ điểm trang”
Trong Kiều có câu: “Dẫu rằng đá cũng nát gan lọ người
Và“lọ” là : không cần phải…
Những dị biệt với Truyện Kiều
Theo Hoàng Xuân Hãn, Truyện Kiều có nhiều ấn bản khác nhau với những chữ khác nhau. Theo ông phải biết tiếng Nôm, phải hiểu tiếng Việt, nhiều khi gặp tiếng địa phương lại khác nữa, như:
Một đôi nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
Thực ra phải đọc là:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành trọi một, tài dành họa hai
(Thụy Khuê – Nguyễn Đình Toàn)
Chữ nghĩa trên mạng
Dưới đây là lời rao kết bạn đọc được trên internet:
Nam 25 tuổi, người Bắc, cao 1.7m, nặng 72kg còn độc thân. Thành đạt, đẹp trai, thông minh, sở hữu xe BMW, nhà ở trang trại có hồ bơi nước nóng, nước lạnh. Không bán, không cho thuê, cũng không cần bạn gái.
Mà chỉ muốn khoe vậy thôi.
Chùa Báo Ân và tháp Hòa Phong
(Tiếp với ông già Tàu bán lạc rang)
Chùa Báo Ân trong ý nghĩa nhà Phật phải nhớ đến tứ trọng ân gồm: ân đất nước, ân cha mẹ, ân tam bảo, ân chúng sinh. Chùa gồm 180 gian, 36 nóc nhà trên khu đất rộng gần 100 mẫu. Chùa Báo Ân lớn bậc nhất kinh kỳ thế kỷ trước, không chỉ mang dấu ấn nhà Nguyễn, mà còn là kiến trúc Phật giáo tiêu biểu cho “cư Nho mộ Thích” (học hành theo đạo Nho nhưng vẫn chuộng theo đạo Phật) thời bấy giờ. Chùa Báo Ân có tòa tháp Phật giáo cao nhất và có nhiều tượng Phật đồng nhất ở nước ta được xây dựng năm 1846 do Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Đăng Giai đứng ra chủ trì và được hoàn tất vào năm Thiệu Trị thứ 7 (năm 1847).
Chùa Báo Ân khi xưa nhìn từ con đường ven hồ vào chùa có tháp Hòa Phong, sau đó đến cổng chùa, hai bên có bốn ngọn tháp đối xứng cao ba tầng. Tiếp đó là “Đại hùng bửu điện” hành lang tô đắp, chạm trổ cảnh “Thập điện Diêm Vương”, mô tả sự quả báo trong địa ngục khổ sai. Phía sau có điện thờ Thánh mẫu, nhà tăng xá…
Dấu tích duy nhất còn sót lại là tháp Hòa Phong rêu phong cổ kính nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm hơn một trăm năm nay. Tháp hình vuông gồm có 3 tầng, tầng 1 có cửa mở về bốn hướng theo lối vòm cuốn; phía trên các cửa có những chữ như: Báo Ân môn – Báo Nghĩa môn – Báo Đức môn – Báo Phúc môn. Phía tầng hai, bốn góc xây trụ vuông đặt tượng bốn con nghê đều hướng về phía đông. Tầng ba trên cùng trang trí hình tượng bầu hồ lô. Theo nhiều nhà kiến trúc, tháp Hòa Phong mang trong mình một kiểu kiến trúc ít thấy trong kiến trúc Phật giáo với kết cấu tầng 1 to và cao hơn hẳn hai tầng trên cùng. Đến bây giờ, người ta cũng chưa lý giải nổi vì sao thuở đó quan Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai lại cho xây tòa tháp có kiến trúc đặc biệt như vậy ở cổng chùa, chứ không phải ở trong vườn tháp như các di tích chùa cổ khác.
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Đất Nam Việt mà trước đây người ta còn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16, 17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong.
Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng có nhiều nai), Lộc Dã, Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại, là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623. Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), đã gả Công chúa Ngọc Vạn, lệnh ái thứ 2, cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong.
Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào miền Nam. Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài (gò trồng xoài), gần Bà Rịa đúng vào năm 1623 (Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud, Paris 1926).
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Chữ nghĩa làng văn
Người đàn bà dịch Liêu trai chí dị đầu tiên là nhà văn nhà thơ Kim Y Phạm Lệ Oanh (1902-1999).
-Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh (1640-1715) in ra lần đầu năm 1776, gồm 431 truyện.
-1938, Tản Ðà đã xuất bản tại Hà Nội tập truyện dịch Liêu Trai Chí Dị thứ nhất (đầu tiên), không rõ bao nhiêu truyện.
-1952, Ðào Trinh Nhất phổ biến tập truyện dịch Liêu Trai thứ hai.
-1958, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt cho phổ biến bản dịch Liêu Trai thứ ba, gồm 35 truyện.
-1962, Kim Y Phạm Lệ Oanh phổ biến bản dịch Liêu Trai thứ tư.
(Viên Linh –Từ Tản Ðà, Ðào Trinh Nhất tới Phạm Lệ Oanh )
Chơi chữ
Chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt sao cho hai lựơng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam .
Chơi chữ theo âm:
Chồng chổng chồng chông ,
Chồng bát, chồng đĩa, nồi hông cũng chồng
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật. Như một anh si tình:
“Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông”
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Chu tri ranh rành
Năm 1940, TrươngTửu (11), tức nhà lý luận văn học Nguyễn Bách Khoa gọi ca dao của ta là Kinh Thi Việt Nam. Khoảng 12, 13 năm trước đó, một buổi chiều đi hóng gió quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội ông đã gặp một cụ già. Trong khi tình cờ ngồi cạnh trên băng ghế dưới chân tượng Paul Bert, Trương Tửu được cụ già giải thích cho nghe về mấy câu đồng dao mà trẻ con thường dùng trong trò chơi bịt mắt bắt dê:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương ngũ đế
Ú tế đi tìm
Hú tim bắt ập
Theo cụ, dân gian dùng ca dao để viết sử, nhưng bài Mô Tê của trò chơi đi trốn đi tìm đã sai lạc và trở thành vô nghĩa. Đúng ra bài hát đó như sau:
Chu tri rành rành
Cái đanh nổ lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương tập đế
Cấp kế đi tìm
Hú tim bắt ập
Ông cụ giải thích như sau:
Chu tri rành rành có nghĩa là bố cáo cho thiên hạ được biết
Cái đanh nổ lửa nói về tiếng súng đại bác đầu tiên của chiến hạm Catinat bắn vào Đà Nẵng năm Bính Thìn 1856 trong chủ trương gây hấn của người Pháp.
Con ngựa đứt cương diễn tả sự rối loạn của triều đình Huế sau khi vua Tự Đức băng hà vào năm Quí Mùi 1883. Lúc đó, ngoài Bắc đang đánh nhau với quân Pháp, trong triều thì quyền thần chuyên chế không còn trật tự, kỷ cương gì nữa.
Ba vương tập đế chỉ vào việc Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền. Tháng 9 năm 1884 Tường và Thuyết đổi di chiếu của vua Tự Đức, đem Dục Đức giam vào nhà tối, không cho ăn uống để chết đói, đổ cho tội thông mưu với Pháp, lập Hiệp Hòa lên làm vua. Hơn 4 tháng sau, Tường và Thuyết đầu độc vua Hiệp Hòa, đưa Kiến Phúc, lúc đó mới 15 tuổi lên ngôi. Được hơn 6 tháng, Kiến Phúc ngộ độc chết, Tường và Thuyết lập Hàm Nghi mới 12 tuổi lên ngôi báu. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm mà có tới 3 ông vua thay nhau lên ngôi, câu “ba vương tập đế” chỉ vào những biến cố này.
Cấp kế đi tìm nói về việc Tôn Thất Thuyết vì bị Thống Chế De Coursy xử ép nên đêm 22 tháng 5, 1885 liều đánh úp dinh Khâm Sứ và đồn Mang Cá ở Huế. Việc thất bại, Thuyết đem vua đi trốn rồi truyền hịch Cần Vương đi khắp nơi. Quân Pháp một mặt lo dẹp loạn, một mặt cấp tốc cho người đi tìm vua Hàm Nghi về để yên lòng dân.
Hú tim bắt ập chỉ vào việc tên Trương Quang Ngọc làm phản, cùng suất đội hầu cận vua Hàm Nghi, đêm 26 tháng 9, 1888 xông vào chỗ vua tạm trú ở làng Tả Bảo, tỉnh Quảng Bình, bắt sống và đem nộp cho Pháp, sau đó vua Hàm Nghi bị đày đi Algérie.
(Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái – Kinh thi Việt Nam)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
