Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: THÁI BÌNH – XƯA & NAY

Xin Bấm Vào Đây:

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: THÁI BÌNH – XƯA & NAY

Đôi lời bộc bạch

______________________________________________________

       Trong cái nghiệp viết, khó nhai nhất là viết phần dẫn nhập. Vì vậy phải nhờ người khác viết dùm “Thay lời tựa”. Số ruồi…Gặp người văn hay chữ tốt viết “hay” hơn tác giả mới đổ nợ. Thêm cái nợ đồng lần như nhà văn Tô Hoài đọc truyện có ai đó cảo mực đề văn, ông nói với bạn: “Ông viết tựa không đọc truyện của tác giả thì phải”.

       Nếu tác giả tự viết “Tựa” còn khốn khổ hơn nữa. Nhất là dạng “hồi ký, hồi ức” hay “biên khảo, biên tu”, một số người ẩn dụ, ẩn dấu ở đoạn văn nào đấy, họ tự “đội mình lên đấu mà vái”…vái lấy vái để một cách rất…khiêm cung. Riêng với “Đôi lời bộc bạch” này, người biên soạn cứ thẳng mực tàu đau lòng gỗ mà đong đếm, như đong từng đấu thóc qua chữ nghĩa đồng bái quê mùa với ba điều bốn chuyện thế này đây.

       Chuyện là năng nhặt chặt bị tài liệu trong sách vở, trên mạng lưới, hay “tư liệu” qua già làng của đất quê. Trộm hiểu là “biên tập”. Biên tập là sưu tầm tài liệu rồi sắp xếp theo lớp lang để viết. Viết “sưu khảo” để rõ ràng hơn chứ không phải làm rối ren thêm (không là…biên khảo, biên tu với chữ nghĩa hàn lâm). Thảng như mọ mẫm chữ nghĩa các cụ ta qua câu giấc hương quan mơ luống mẫn canh dài, với “quan” là cổng, “hương” là làng. Trong tiết mục Thái Bình sử lược khảo biên, vì chưng người sưu tầm rối mù với đất đai của các cụ ta xưa không sắp đặt theo thứ tự gì sất cả, mà các cụ chỉ gió thoảng mây trôi với giáp, lộ, châu, huyện, hương. Bởi thế người sưu tầm cứ ngẫn ngẫn với ai ra bến nước trông về Bắc, chỉ thấy mây trôi chẳng thấy…làng.

       Với thổ ngơi bản quán xưa xửa xừa xưa, làng không có “motel” nên dân làng dựng “thượng gia hạ kiều” là cầu có mái bắc qua sông. Nhiều làng không có sông nên cất cầu giữa cánh đồng, ở cầu có quán nước để khách qua đường nghỉ chân. Nếu khách lỡ đường thì ngủ lại ở cầu, thế nên dân gian có câu bơ vơ điếm cỏ, cầu sương, hay nằm cầu gối đất là cái cảnh này đây. Với nằm cầu gối đất, triều chính làm quan đạo để các quan có đường đi làm việc quan nên được gọi…đường cái quan. Vì làng không có “hotel” nên làng cất quan dịch để quan ngủ nghê. Quan thưa vắng dần, làng dùng “quan dịch” to tầy đình để hội họp việc làng nên được gọi là…“đình”.

       Từ làng lên huyện tới phủ. Có phủ ở Thái Bình lớn gần bằng tỉnh Bắc Ninh. Làng của người biên soạn tên Nôm là làng “Tìm”. Cụ vua Minh Mạng ngồi ở Huế sính Nho táo đổi tên là làng “Thượng Tầm”. Hốt nhiên một ngày không có mây sao có mưa, già làng tới Thạch trúc gia trang đưa mảnh dư địa chí vẽ đất đai làng mạc to bằng hột đậu phụng. Đồ chí có chữ Nho nhe, có chữ Việt loằng ngoằng như con lăng quăng chỉ thổ ngơi bản quán của người biên soạn là “phủ” chứ chả phải là làng. Bèn trộm nghĩ thần sắc, ngọc phả, hương ước, bia ký còn sai lạc nữa là…(như “Hùng miếu bi ký” dựng năm 1923 ở đền Hùng, Phú Thọ). Ừ thôi thì cũng đành để đó để tồn nghi. Với già làng chả quên câu triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ vì nhiều làng gọi già làng là “xỉ tước” (xỉ là răng, xỉ tước là…gẫy răng).Tùy tuổi tác, già làng được ngồi với quan viên: 60 tuổi ngồi với tú tài – 70 tuổi với cử nhân – 80 tuổi với tiến sĩ. Già làng này mang gia phả tới vì làng già có một trạng nguyên với niên triều, khoa thi, tên tuổi…Già làng đáo gia rồi, người sưu tầm rị mọ trong Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại để dò la thì trong 2898 vị đại khoa không có tên vị trạng nguyên này.

       Về đất văn học ở Đàng Ngoài có Hành Thiện nức tiếng với võng anh đi trước võng nàng theo sau, ở Đàng Trong có Quảng Nam với ngũ phụng tề phi. Thì ở tiết mục Thái Bình nguyên quán nhân có cụ Lê Quý Đôn, nhưng cụ viết theo thể tài văn chương bác học với chữ nghĩa nho phong mực tàu giấy bản, nên tha nhân gần như…vô tri bất mộ cụ. Ông Bùi Viện với giai thoại là người Việt đầu tiên tới Mỹ triều Tự Đức, nhưng gần đây nhiều ngự sử văn đàn, thêm cụ Ngộ Không…không tìm ra dấu tích ông ở Mỹ. Với tiết mục Thái Bình ngụ cư nhân có cụ Nguyễn Du, bà Huyện Thanh Quan nhưng cả hai khách thơ nên chỉ là…”khách trọ” bơ vơ điếm cỏ, cầu sương thưa bạn đọc.

      Xuôi dòng sử Việt với địa linh nhân kiệt, nếu như làng Đường Lâm ở Sơn Tây là đất hai vua với Phùng Hưng và Ngô Quyền thì…Thì Thái Bình không phải là đất nhất hổ trục quần dương, tiên vi tướng hậu vi vương với mạng đế vương được truyền tử lưu tôn đời đời kế thế. Thảng như cụ vua Lý Nam Đế người Thái Bình, nhưng hặm hụi trong Đại Việt sử ký toàn thư dầy cộm chỉ có…4 hàng vì vua ta làm vua chỉ…4 năm. Bắt qua vua Đinh Tiên Hoàng mặc dù khởi nghiệp ở làng Kỳ Bá ven thị xã Thái Bình, thế nhưng với sử học, vua ta người động Hoa Lư đất Ninh Bình. Ấy là chưa kể hai cụ vua Lý, vua Đinh đều là…“khách trú”, trú quán ở bên Tàu. Được làm vua thua làm giặc, Thái Bình có giặc Bá Vành dấy binh ở Kiến Xương, cuối cùng ở cửa sông Trà Lý, trên bộ dưới thuyền bị đánh tan tành bởi Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.

      Đất Thái Bình chúa biết mặt vua biết tên qua dữ kiện góp nhặt từ dòng họ Trần. Tiếp đến tên “cúng cơm” Thái Bình được cắp nắp từ nhiều nguồn khác nhau nhưng tất cả đều được viết rất sơ lược. Nên khi sắp xếp tiết mục Thái Bình địa nhân sử lượcBố Hải Khẩu dư địa chí lược khảo, người biên soạn dựa vào suy luận và suy đoán với cảm quan, cảm tính. Vì chưng lạ thung lạ thổ, thế nên người biên soạn lạc đường vào lịch sử bèo dạt nổi trôi theo dòng sử Việt qua những bến sông bên bồi bên lở…

       Nhà Trần từ Quảng Ninh xuống phía nam lập nghiệp với nghề đánh cá ắt là đi dọc theo đường biển, tới cửa sông Ba Lạt vào sông Hồng và ngừng chân ở hương Tức Mặc định cư ở đây. Dùi mài kinh sử để quăng quải với yên ba giang thượng sử nhân sầu thà cứ theo dòng trôi miết miết, biết một đời sông mấy lở bồi thì vì làm nghề chài lưới nên ông tổ nhà Trần là Trần Lý ngược lên sông Trà Lý lập lên Kiến Xương, Tiền Hải. Đất này là đất bồi, khi nước triều lên, biển nước mênh mông, nước triều xuống, là bãi lau sậy bạt ngàn nên không được nhà Trần “ngó ngàng” tới. Vùng đất dọc theo sông Trà Lý là dải cồn đất phèn chua, đất bạc màu, đất bị xói mòn nên cũng bị nhà Trần “ngó lơ” như Qùynh Côi, Đông Hưng nên Thái Bình ăn nhờ ở đậu trên đất Nam Định, nên cũng nằm cầu gối đất là…“khách trú” như hai cụ vua Lý, vua Đinh. Ừ thì hãy tha ma mộ địa với Thái Bình nếu như không được sát nhập từ hai phủ Kiến Xươngphủ Thái Bình của Nam Định, thêm phủ Tiên Hưng của Hưng Yên thì mảnh đất này chỉ là thẻo đất con con. Lụng bụng theo cụ tú non Côi sông Vị thì người Thái Bình chỉ quanh năm buôn bán ở mom sông là hết đất. Vì nhà Lê, nhà Nguyễn cắt đất của nhà Trần lấy ranh giới là sông Hồng (thay vì sông Trà Lý) nên mới có Thái Bình ngày nay.

       Người sưu tầm tay bị, tay gậy ăn mày chữ nghĩa của thiên hạ khắp tứ phương tám hướng, rồi đong từng đấu chữ như đong thóc đổ vào từng bồ chữ. Tiếp đến ngồi thì lì ờ sân vườn nhà lụi đụi sàng chữ ra câu, sẩy câu ra chữ để có bài sưu khảo này. Nhưng cái sẩy nẩy cái ung là sàng lúa ra thóc, lại sẩy thóc ra trấu với những nguồn trích lục cứ “hục hặc” nhau mà người sưu tầm thiên bất đáo, địa bất chi. Thế nên trăm sự nhờ bạn đọc thông thiên địa nhân viết nho, thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự trông giỏ bỏ thóc dùm. Xin ghi lòng tác dạ với muôn vàn cảm tạ.

       Nay cẩn thư.

       Thạch trúc gia trang

       Bính Dậu 2017

       Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

       (sửa chữa, thêm bớt 2019)

Bài Mới Nhất
Search